Archive

Archive for the ‘Văn học-nghệ thuật’ Category

Nổi tiếng ở Nhật Bản nhưng vô danh trên chính quê nhà

July 7, 2011 Leave a comment


 

Đấy là trường hợp của nhà văn chuyên viết truyện kinh dị Laffcadio Hearn.

Ông sinh ra tại đảo Hi-lạp năm 1850.  Bố ông là bác sĩ phẫu thuật người gốc Ireland và mẹ ông là người Hi-lạp. Cha mẹ ông li hôn khi ông 6 tuổi và từ đó ông được họ hàng nuôi dạy ở Dublin, Ireland. Năm 19 tuổi ông chuyển đến New York Leans và làm việc với tư cách là  phóng viên cho một tờ báo địa phương. Ông  sống ở Mĩ trong mười năm và trong thời gian đó ông đã gặp một viên chức cấp cao của chính phủ Nhật, người đã mời ông đến Nhật.

 

Ông đến Yokohama bằng đường biển vào năm 1890. Cùng năm đó, ông chuyển tới Matsue, nơi ông dạy tiếng Anh tại một trường học của tỉnh Shimane. Sau đó ông kết hôn với con gái của một võ sĩ có tên Koizumi Setsu và trở thành công dân Nhật Bản. Ông  đổi tên thành Koizumi Yamuko. Đấy  cũng là khi ông  yêu say đắm vẻ đẹp truyền thống của Nhật Bản và bắt đầu viết về nền văn hóa này đặc biệt là những câu chuyện kinh dị phong cách Nhật và trở nên nổi tiếng.

 

Sau khi đi du lịch khắp nước Nhật, ông chuyển đến sống ở Tokyo với gia đình và ở đó cho tới khi qua đời vào năm 1905 thọ 54 tuổi.

 

Các tác phẩm làm nên tên tuổi của Hearn là “Japan-An attempt at interpretation”, “Exotics and Retrospective”, “ In ghostly Japan” “ Shadowing”, “A Japanese Miscellary”, “Kaidan”…

 

Ở Nhật người ta đã làm rất nhiều các chương trình truyền hình về cuộc đời ông. Nhiều cuốn sách của ông đã được chuyển thể thành phim. Ở Tokyo còn có một công viên kỉ niệm mang tên ông: Công viên Koizumi Yamuko. Rất nhiều người Nhật đọc và ca ngợi tác phẩm của ông. Tuy nhiên ở Ireland quê nhà,  tên tuổi ông hầu như không ai biết tới.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ Hinagara times

 

Advertisements

Bài thơ đầu tiên của Longfellow

June 26, 2011 Leave a comment



“ Các con. Ngày mai thầy  mong đợi các con sẽ viết nên những bài thơ của mình”. Đấy là lời thầy giáo ở trường Love Lane School.

“Sau đấy vào thứ sáu những ai viết hay nhất  sẽ đứng  đọc tác phẩm của mình trước toàn trường”.

Vài đứa trẻ thì vui mừng, vài đứa khác thì không.

“ Chúng con sẽ viết về cái gì thưa thầy?”,  lũ trẻ  hỏi.

“ Các con có thể chọn bất cứ chủ đề gì mà các con thích nhất”, thầy giáo đáp lời.

Vài đứa trong số chúng nghĩ rằng “ gia đình” là một chủ đề hay. Những đứa khác thích “ trường học”. Một cậu bé chọn “ con ngựa”. Một cô bé nói cô sẽ viết về “ mùa hè”.

Ngày tiếp theo, tất cả- trừ một cậu bé- đã viết xong tác phẩm của mình.

“ Henrry Longfellow”, thầy giáo hỏi “ tại sao con không viết?”

“ Vì con không biết viết như thế nào?”. Herry trả lời.  Thật ra khi ấy cậu vẫn còn là một chú nhóc.

“ Thôi được” , thầy giáo nói “ con có thể viết được một vài từ phải không nào?”

“ Vâng , thưa thầy”, cậu bé đáp.

“ Sau khi con đã viết ba hoặc bốn từ, con có thể nối chúng vào với nhau phải không?”

“ Vâng, thưa thầy, con nghĩ là được ạ”

“Ồ, tốt. Con có thể mang bảng ra phía sau trường trong nửa giờ. Hãy nghĩ về một điều gì đó con muốn viết, viết từ ấy lên tấm bảng của con sau đó cố gắng nói xem nó là gì, nó như thế nào, nó có điểm gì hay và người ta dùng nó để làm gì? Đấy là cách viết một nên một bài thơ”.

Henrry cầm lấy tấm bảng và đi ra ngoài. Ngay phía sau ngôi trường là  chuồng ngựa của ông Finney. Gần chuồng ngựa là khu vườn. Và trong vườn Herry nhìn thấy một cây củ cải.

“A, mình biết đấy là cái gì”, cậu nhủ thầm và viết từ “ cây củ cải” lên tấm bảng. Sau đó cậu cố nói xem nó là gì, nó có điểm tốt gì, dùng để làm gì.

Trước khi nửa giờ chấm dứt, cậu đã viết xong bài thơ  gọn gàng trên tấm bảng.

Sau đó cậu đi vào phòng và đợi  trong khi thầy giáo đọc nó. Thầy giáo ngạc nhiên và vui sướng. Ông nói: “ Henry Longfellow, con đã làm rất tốt. Ngày hôm nay con sẽ đứng trước toàn trường và đọc những gì con đã viết về cây củ cải.”

Vài năm sau đó, vài câu thơ ngắn hài hước về cây củ cải của ông Finney đã được đăng trên báo. Nhiều người nói rằng đấy  là những gì Longfellow đã viết trên tấm bảng ở trường học vào ngày đó.

Nhưng điều ấy không đúng. Tác phẩm ấy của Henry không phải là một bài thơ. Ngay khi cậu đọc nó xong trước toàn trường, cậu xóa khỏi tấm bảng và nó bị quên lãng. Có lẽ bạn muốn đọc những câu thơ hài hước đó. Chúng đây, nhưng bạn phải nhớ  đừng bao giờ  nghĩ rằng Longfellow đã viết chúng.

Ông Finney có cây củ cải

Và nó  lớn lên và nó  lớn lên

Và nó không làm một điều gì xấu cả

Cho đến khi nó không thể lớn thêm

Sau đó ông Finney nhổ nó lên

Và bỏ nó vào hầm chứa

Nó nằm đấy, nó nằm đấy

Cho đến khi nó bắt đầu chín

Sau đó Susie Finney rửa nó

Và bỏ nó vào trong nồi

Và bà   luộc nó và bà   luộc nó

Cho đến khi nào bà   có thể.

Sau đó bà Finney lấy nó ra

Và đặt nó lên trên bàn

Ông Finney và vợ ông

Cả hai ngồi xuống để ăn bữa tối

Họ ăn và họ ăn

Họ ăn cây củ cải

Tất cả học sinh trong các ngôi trường ở đất nước tôi đều biết đến Longfellow. Ông là nhà thơ được chúng tôi yêu quý nhất. Ông đã viết “ The Village Blacksmith”, “ the children’s hour” và nhiều tác phẩm khác nữa, những tác phẩm mà  mọi người thích đọc và ghi nhớ.

James Baldwin

Nguyễn Quốc Vương dịch từ tiếng Anh


Buổi chiều tà trong công viên ngày ấy (Truyện ngắn của Otsu Ichi-Nhật Bản)

June 24, 2011 12 comments


       

 

 

Thời tôi còn là học sinh tiểu học ở cạnh nhà có một công viên nhỏ. Khi hoàng hôn buông xuống tiếng xe cộ và sự náo động của con người biến mất.Sau đó chỉ còn lại công viên với không gian tĩnh lặng và chiếc giày  trẻ con  ai đó bỏ quên nằm lăn lóc.

Cho dù lũ bạn chơi cùng đã trở về nhà vì đã đến giờ ăn tối tôi vẫn phải ở lại công viên  giết giời gian cho đến khi bố mẹ đi làm về.

Khi đã chán trò đu đưa trên ghế xích đu một mình, tôi cảm thấy như có cái gì đó vẫy gọi tôi đến chơi nơi bãi cát.Bãi cát ấy nằm ở góc công viên. Tuy nhiên  lũ trẻ con thường mê mải với ghế xích đu hay ván trượt mà quên bẵng đi nơi đó. Vào buổi chiều tà khi ánh mặt trời xuyên qua khe các tòa nhà nhuộm đỏ cảnh vật xung quanh,  tôi chơi ở bãi cát  một mình không một người trò chuyện. Có một chiếc xô nhựa màu vàng không rõ là của ai đặt ở đó. Tôi tháo giày và tự đắp cát lên chân mình. Những hạt cát nhỏ và lạnh lọt vào kẽ các ngón chân làm tôi cảm thấy thật dễ chịu.

Tôi chơi trò thọc tay vào sâu bên trong cát. Tôi muốn thử xem cát sâu đến đâu trong lòng đất. Khi chọc thẳng cánh tay vào cát tôi thấy  bất cứ chỗ nào cũng đều sâu thẳm và cuối cùng là ngập đến tận vai. Khi tôi nói chuyện này với bố, ông tỏ vẻ không tin: “ Cho dù là bãi cát thì nó cũng phải có đáy chứ, không thể nào có chuyện đó”.

Tôi nghĩ bố tôi đã mắc sai lầm.

Thực tế là tôi có thể đưa tay vào bãi cát ngập sâu đến đâu cũng được. Tôi đã thử nhiều lần bằng cách đưa tay ngập sâu vào trong cát.

Tôi không nhớ lần đó là lần thứ bao nhiêu. Vào lúc cái cây mọc ở góc công viên trở nên đen sẫm do ánh chiều tà, tôi thọc cánh tay phải vào bãi cát ngập đến vai. Tôi cảm thấy như đầu ngón tay tôi chạm phải vật gì.

Dường như trong bãi cát có chôn thứ gì đó. Nó mềm và lạnh. Tôi hăm hở vươn tay thọc sâu vào bên trong bãi cát để xem đó là thứ gì. Đầu ngón giữa tay tôi chạm vào vật gì đó mềm và sưng phồng lên. Tôi cố nắm lấy và kéo lên nhưng không với tới được. Thay vào đó tôi cảm thấy trong lòng cát có cái gì đó đang quấn lấy ngón tay tôi. Khi tôi rút tay ra để kiểm tra xem thì thấy đấy là những sợi tóc dài. Có đến mấy sợi quấn quanh ngón tay tôi. Có lẽ đó là tóc của con gái cho dù nó bị bẩn và xây xước bởi cát.

Tôi  thọc tay vào cát một lần nữa và cố sờ vào vật đang bị chôn trong đó. Nhưng lần này cho dù có thọc sâu đến mấy đầu ngón tay tôi cũng không tìm thấy bất cứ thứ gì. Tôi cảm thấy vô cùng luyến tiếc. Trong ráng đỏ những tòa nhà vây quanh công viên với những cửa sổ đóng chặt giống như một bức tường khổng lồ ngăn cách tôi và bãi cát với thế giới xung quanh.

Bất thình lình tôi cảm thấy như có  vật gì va vào  cánh tay phải  đang thọc sâu trong  cát. Cảm giác ấy giống như cảm giác bị lũ cá nhỏ vây quanh dùng miệng đớp.

Ngay sau đó cổ tay tôi bị tóm lấy. Lực tóm khá mạnh. Cổ tay tôi bị siết chặt lại. Tôi cố sức rút tay ra nhưng cánh tay phải  không hề nhúc nhích như thể nó dính liền vào nơi ấy. Xung quanh không hề có một ai dẫu tôi có kêu cứu cũng chỉ có tiếng vọng đập lại từ những tòa nhà vây quanh công viên. Bàn tay tôi nắm chặt lại thành nắm đấm bị một sức mạnh nào đó bắt phải mở ra. Tôi cảm thấy trong lòng bàn tay tôi có đầu ngón tay nhỏ bé của ai đó. Dường như  ngón tay đó đang viết chữ  lên lòng bàn tay tôi.

“Hãy đưa tớ ra khỏi đây!”

Ai đó trong bãi cát đã viết lên lòng bàn tay tôi như thế. Tôi thọc cánh tay trái vào sâu trong lòng cát và dùng ngón  tay viết lên mu bàn tay đang giữ lấy cổ tay phải tôi.

“Không được đâu”.

Ai đó trong lòng cát rời  cổ tay tôi ra một cách luyến tiếc. Tôi rút cả hai tay ra khỏi bãi cát và trở về nhà. Từ đó trở đi tôi không lại gần bãi cát nữa. Khi công viên bị phá để xây dựng khu chung cư tôi có đến để xem xem bãi cát thế nào nhưng ở đó không hề thấy có chiều sâu đủ để chôn vật gì trong đó.

Nguyễn Quốc Vương dịch từ tiếng Nhật.

Lời giới thiệu về giải thưởng Million Writers Awards

June 16, 2011 Leave a comment


Hơn năm năm trước, tôi bắt đầu tờ tạp chí online Storysouth, với niềm tin rằng một tờ tạp chí văn chương chất lượng cũng có thể tồn tại hoàn toàn trên mạng và cũng vẫn có thể tạo ra ảnh hưởng ngang tầm với những tạp chí văn chương xuất bản trên giấy. Xét cho cùng nó không phải là phương tiện truyền thông mọi người quan tâm mà là nơi để viết. Nếu Storysouth đăng những truyện hay, mọi người sẽ chú ý đến nó. Điều này liên quan đến những vấn đề rộng lớn hơn. Tạp chí của chúng tôi vẫn đang trong quá trình mở rộng số lượng độc giả. Và những câu chuyện của chúng tôi đã được vinh danh trong một số trường hợp. Nhưng bất chấp chuyện chúng tôi trông đợi rằng Storysouth sẽ trở thành một tập chí hàng đầu trên Internet , nó vẫn phải đối mặt với một vấn đề : mọi người  vẫn giữ quan niệm rằng những gì xuất hiện online không chính thống bằng những gì xuất hiện trên các ấn bản bằng giấy.

Thái độ này ẩn mình đằng sau những câu chuyện giữa tôi với biên tập viên của hợp tuyển “Những truyện ngắn hay nhất” (the best stories) hàng năm. Khi tôi đề cập rằng liệu ông ta có quan tâm đến việc lựa chọn những câu chuyện đã xuất hiện trên Storysouth cho hợp tuyển tiếp theo không, ông ta đáp mặc dù Storysouth có vẻ tuyệt vời và xuất bản những truyện ngắn hay nhưng ông ta không thể quan tâm tới nó. Nói một cách cơ bản thì ông ta không coi nó là một ấn bản thực sự.

Tôi đã chỉ ra cho ông ta thấy rằng Storysouth có một quy trình biên tập chất lượng tương xứng với một tạp chí văn chương,  rằng chúng tôi đã đăng những tác phẩm của các tác giả vẫn có các tác phẩm xuất hiện trên các tạp chí xuất bản bằng giấy và rằng chúng tôi đã có sự phát hành rộng rãi hơn nhiều so với các ấn bản bằng giấy( thường xuất bản 500 đến 1000 bản mỗi số). Không một điểm nào trong số này gây được ấn tượng với ông ta.

Vì thế có lẽ nên làm theo lời dạy của người xưa: không ăn được thì đạp đổ ( nguyên tác:  không thể gia nhập vào bọn họ được thì hãy đánh họ). Giải thưởng Storysouth Million writers Awards dành cho tác phẩm hư cấu xuất sắc nhất trên mạng trong năm  sẽ giúp tất cả các tờ báo,  tạp chí văn chương  online có cơ hội quảng bá và thu hút sự chú ý của dư luận. Thêm vào đó, phần thưởng sẽ giúp những truyện ngắn được giải có thêm nhiều độc giả hơn bất cứ khi nào trước đó bằng cách xuất hiện trong các tuyển tập hay nhất hàng năm.

Những truyện hay nhất đang được xuất bản trên mạng và tôi hi vọng rằng các độc giả sẽ coi giải thưởng này như là điểm khởi đầu để khám phá vương quốc những tác phẩm hư cấu. Hãy đọc các truyện ngắn. Hãy khám phá các tờ báo và  tạp chí. Và nếu như các bạn đã từng gặp các “ biên tập viên tốt nhất” hãy nói cho họ biết rằng đáng tiếc cho họ biết bao khi khi họ bỏ qua  những truyện ngắn trong thế giới online.

Jason Sanford

 Nguyễn Quốc Vương dịch từ tiếng Anh

The Japanese Haiku

June 14, 2011 Leave a comment


 

Người ta nói rằng mỗi thời đại đều sản sinh ra những Shakespeare. Nếu điều ấy đúng thì có nghĩa là mỗi thời đại sẽ có thơ ca độc đáo của chính mình-quan niệm thẩm mĩ riêng và bất cứ thứ gì được chờ đợi ở thi ca. Nói chung người ta đều đồng ý rằng nó phải chuyển tải được những cảm xúc của thời đại sản sinh ra nó. Và chính vấn đề những cảm xúc này được chuyển tải ra sao lại trở thành điểm nhấn mạnh mẽ giữa các thế hệ.

Thế hệ của Pope và Dryden nhận thấy Shakespeare là một cá nhân phi thường nhưng đã lãng phí tài năng. Chính thế hệ chúng ta nhìn chung nhận ra những gì của thời Victoria đã trở nên không thích hợp. Chúng ta cảm thấy bị bội phản bởi chủ nghĩa hiện thực công khai và chủ nghĩa lạc quan hào nhoáng của thế kỉ 19 và trong sự giận dữ chúng ta thường kết tội rằng những bài thơ đó đã phá sản.

Thi ca hiện đại phương tây đã ghi lại rất rõ ràng sự nổi loạn này. Trong hoàn cảnh đó có vẻ như rằng thơ Haiku Nhật đã có được cơ hội tốt nhất để được hiểu và đánh giá cao tại phương Tây. Bởi vì thơ hiện đại phương tây và Haiku cùng chia sẻ những “tenents” cơ bản như tiến sĩ Yasuda minh họa rất rõ ràng ở những trang sau.

Thế hệ chúng ta ở phương Tây có cơ hội, vì nó chưa từng có bao giờ trước đó, trong việc tiếp cận sự hiểu biết về những điều cơ bản và sâu sắc của một phần phương Đông mà Nhật Bản là hình tượng biểu trưng, có lẽ không chỉ trong thi ca mà trong cả những gì rộng hơn của đời sống con người. Tâm trạng của nước Mĩ ngày nay có rất nhiều thứ có thể tìm thấy mối quan hệ gần gũi với tâm trạng và văn hóa Nhật.

Thật là may mắn cho tôi khi có được những chuyến đi tới Nhật, những chuyến đi có độ dài ngắn khác nhau, hơn cả chục lần kể từ năm 1927. Cứ mỗi chuyến đi ấn tượng của tôi lại tăng lên không phải chỉ vì vẻ tráng lệ của thiên nhiên ở đây, vốn là thứ gì đó dễ nắm bắt mà còn bởi những thành tựu nghệ thuật tuyệt vời của quốc gia này. Tôi đã nhận ra rằng những thành tựu ấy không phải chỉ là những thứ của quá khứ vốn chỉ được nhìn thấy ở trong bảo tàng và các triển lãm nghệ thuật, mà tạo thành một phần cuộc sống của con người Nhật Bản. Nghệ thuật này đã lớn mạnh và trở thành một phần sống động của đời sống.

Cứ mỗi lần tôi được làm khách tại một ngôi nhà Nhật thì sự thật này lại càng được minh họa rõ. Chủ nhà chỉ cho tôi xem những bức tranh độc đáo, ngâm thơ, hoặc viết cho tôi một bài thơ ba dòng bằng mực tàu với một nghệ thuật thư pháp độc đáo có một không hai. Bằng cách này hay cách khác, vị chủ nhà và gia đình ông đã đưa tôi dấn sâu vào đời sống tinh thần của thế giới nghệ thuật Nhật Bản.

Cuốn sách này của tiến sĩ Yasuda, trong khi bề ngoài là viết về Haiku nhưng sâu bên trong lại là toàn bộ thế giới tinh thần Nhật Bản. Nó đề cập đến những khía cạnh đã sản sinh và duy trì Haiku cho đến tận ngày nay.

Nguyễn Quốc Vương trích dịch từ “Lời nói đầu” của cuốn sách “The Japanese Haiku”-Its Essential nature, history, and posibilities in English, with selected Examples.

By Keneth Yasuda

Charles E.Tuttle company: Pulishers

Rutland, Vermont &Tokyo, Japan

First Edition 1957.

Văn học Nam Phi vẫn còn nhiều hứa hẹn

June 4, 2011 Leave a comment


Sự bất công và tàn bạo của chế độ phân biệt chủng tộc A-pác-thai đã từng là nguồn cảm hứng sáng tạo đặc biệt của các nhà văn Nam Phi trong thế kỉ XX. Không nhiều quốc gia có thể tự hào là có hai nhà văn đạt giải Nô-ben hiện vẫn còn đang sáng tác như J.M coetzee và Nadier Gordiner, cũng như các nhà văn được công chúng mến mộ khác như: Beytenback, Andre Brink, Zakez Mda và nhà viết kịch Athol Fugard. Nhưng kể từ khi chế độ A-pác-thai sụp đổ, một vài nhà phê bình và độc giả lo ngại rằng một khi nỗi ám ảnh không còn thì ngọn lửa sáng tạo trong các nhà văn sẽ dần nguội lạnh. Nhưng thực tế đã chứng minh rằng ngọn lửa đam mê sáng tạo của các nhà văn Nam phi vẫn tiếp tục cháy sáng, Nam Phi vẫn là mảnh đất lành của các nhà văn.

Cuốn “Get a life” của Gordiner là một ví dụ. Cuốn sách kể về Paul Banner, một nhà sinh thái học và cũng là một nhà hoat động tích cực chống phổ biến hạt nhân. Trong quá trình điều trị bệnh bướu cổ, anh bị nhiễm phóng xạ và bị gia đình ruồng bỏ phải sống cô đơn trong một căn nhà bỏ không hầu như cách biệt với cuộc sống bên ngoài. Trong các cuốn khác như: “A guest of honour”, “The House gun”…. Gordiner luôn đặt ra những vấn đề lớn của đất nước và song hành trong mối quan hệ hữu cơ với nó là những số phận con người. Trong các cuốn tiểu thuyết xuất bản gấn đây, Gordiner đưa vào nhiều từ địa phương, sử dụng nhiều câu tỉnh lược… hoặc rắc rối về mặt ngữ pháp. Điều này làm cho nhiều độc giả khó chịu nhưng một số nhà phê bình lại cho rằng bà đã có ý thức làm mới mình và có đóng góp quan trọng làm giàu thêm các biện pháp tu từ, từ vựng.

Nhà văn J.M. Coetzee vào tháng 9 năm 2005 đã cho xuất bản cuốn ” The slow man”. Nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết là Paul Rayment, một nhà nhiếp ảnh đang ở đỉnh cao của sự nghiệp thì bị tai nạn xe đạp và phải cưa bỏ một chân. Thất vọng, buồn bã, anh trở thành tù nhân trong chính căn nhà của mình. Trong nhưng ngày buồn chán đó, anh đã ngã vào vòng tay cô y tá riêng vốn là người Croatia nhập cư. Mối tình bất ngờ đã giúp anh quên đi nỗi ám ảnh bệnh tật.

Cũng trong năm 2005 nhà văn Andre Bink đã cho xuất bản cuốn tiểu thuyết “Praying Mantis”. Andre Bink cũng là một trong số những nhà văn hàng đầu Nam Phi viết bằng tiếng Afrikaans ( ngôn ngữ xuất phát từ tiếng Hà Lan được dùng ở Nam Phi). Ông đã dẫn người đọc quay về thế kỉ XVIII-XIX bằng cuốn tiểu thuyết chứa đựng nỗi dẵn vặt, đau đớn khôn nguôi. Cuốn tiểu thuyết viết về Cupido Cockroach, nhân vật được xây dựng từ một nguyên mẫu có thật trong lịch sử, một nhà truyền giáo ở mũi Cape ( Hảo Vọng). Nhà truyền giáo có hoài bão này được đưa tới một vùng nông thôn hẻo lánh để truyền đạo. Ở đó ông bị giáo hội bỏ quên và bị đẩy vào cảnh gian nan hút chết.

Nhà văn Zake Mda cũng ghi dấu ấn bằng tiểu thuyết ” The heart of Redness” viết về sự tấn công của lối sống hiện đại vào những chuẩn mực truyền thống. Tiểu thuyết ” The whale caller” ( Người gọi cá voi) của ông cũng dành được sự mến mộ của độc giả trong và ngoài nước. Đây là cuốn tiểu thuyết mang sắc màu thần thoại. ” Người gọi cá voi”( nhân vật chính không có tên ) đã từ bỏ công việc để đến Hernanus, một điểm du lịch hấp dẫn ở mũi Cape ( Hảo Vọng). Tại đây, ngày này qua ngày khác, anh ta thổi chiếc tù và tự tạo từ tảo bẹ để dụ đàn cá voi đến mua vui. Sau đó, Saluny một cô gái xinh đẹp, quyến rũ và nghiện rượu có tiếng đến túp lều anh. Cô nàng cố gắng làm mọi cách để kéo anh chàng ra khỏi cuộc sống mà theo cô là luộm thuộm và tẻ nhạt nhưng bất thành. Cô ghen tức và nguyền rủa lũ cá voi đáng ghét. Mối quan hệ tay ba đó chấm dứt bằng một kết cục buồn. Đằng sau câu chuyện tưởng như không có gì đó là thông điệp về mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên và nạn ô nhiễm môi trường đang ngày càng trầm trọng ở Nam Phi.

Những nhà văn trên là những tên tuổi lớn đã tạo được tiếng vang trên văn đàn thế giới. Thế còn thế hệ các nhà văn trẻ thì sao? Những nhà văn trẻ Nam Phi, cả da trắng và da màu, có học vấn đang thực sự có nhiều hứa hẹn. Họ cũng có những thành công nhất định kể từ khi chế độ A-pác-thai sụp đổ. Độc giả trông đợi nhiều vào Pamolgalgut và Pamela Jooste, cũng như những những nhà văn da màu khác như: Achmat Bangor, E.K.M Dido, Nig Mhlongo, Zoewiconb và một số nhà văn khác nữa. Các nhà văn trẻ và sung sức này đã sẵn sàng đảm nhận vai trò “cứu rỗi thế giới” thay cho những “cựu chiến binh” đã bước vào tuổi “xưa nay hiếm” như : Cordimer, Fugard, Brink, Coetzee…

( Nguyễn Quốc Vương dịch từ nguồn tiếng Anh trên Internet).

%d bloggers like this: