Archive

Archive for the ‘Văn hóa đọc’ Category

ĐỌC SÁCH ĐỂ SỐNG TRỌN VẸN HƠN ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI (phần I)

December 15, 2018 Leave a comment

 

Kính thưa các thầy cô giáo!

 

Rất vui và vinh dự cho tôi được đứng ở đây, hôm nay để trò chuyện với các thầy cô về chủ đề “đọc sách”.

 

Đối với chúng ta, những người làm giáo dục, đọc sách không hẳn là điều xa lạ nhưng nếu để ý các thầy cô sẽ thấy ý thức về sức mạnh của văn hóa đọc và các hoạt động liên quan đến đọc sách ở nước ta mới trở nên mạnh mẽ trong khoảng 5-7 năm trở lại đây.

 

Đấy là một sự trỗi dậy khá muộn màng so với các nước ở trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc…

 

Phong trào “Sách hóa nông thôn” do anh Nguyễn Quang Thạch khởi xướng đang giành được sự ủng hộ mạnh mẽ ở khắp nơi. Hàng ngàn, hàng vạn tủ sách được thiết lập đang đem lại cơ hội tiếp cận sách vở cho hàng chục vạn trẻ em và người lớn. Trên đất nước Việt Nam đầy thăng trầm của chúng ta này đang ngày càng có nhiều người đọc sách hơn.

 

Nhà nước và các cơ quan ban ngành có liên quan cũng đã có những chuyển động nhất định để thúc đẩy văn hóa đọc. Luật thư viện đang được bàn thảo để đưa ra xem xét, thảo luận trước quốc hội.
Nhưng chỉ bấy nhiêu thôi và nếu chỉ dừng lại như thế là chưa đủ.

 

Bởi vì sao?

 

Vì chúng ta đã bỏ lỡ quá nhiều thời cơ và đã bị thế giới, các nước xung quanh bỏ quá xa trong lĩnh vực này.

 

Chẳng hạn, nếu so sánh Việt Nam với Nhật Bản, chúng ta sẽ có cái nhìn rõ ràng hơn. Sau 1945 Nhật Bản tiến hành cải cách để tái thiết đất nước sau và khoảng 5 năm sau thì ban hành các bộ luật về thư viện để phát triển mạnh mẽ và rộng khắp mạng lưới thư viện trên toàn quốc trong khi đó Việt Nam ngay khi tuyên bố độc lập lại bước vào những cuộc chiến tranh dài dằng dặc với di sản là 90% dân số mù chữ. Phát triển văn hóa, thúc đẩy công nghiệp hóa hướng tới xã hội văn minh ở một đất nước vốn bị tình trạng mù chữ đe dọa suốt chiều dài lịch sử là điều không hẳn dễ dàng. Chiến tranh kéo dài và sự nối dài không dứt của văn hóa thời chiến cũng là một trở lực lớn.

 

Để vượt qua những trở ngại đó, phong trào, pháp luật, chính sách là chưa đủ.
Trong thời đại mà vai trò và sức mạnh của công dân đang trỗi dậy mạnh mẽ, sự chuyển biến trong nhận thức của từng công dân đối với văn hóa đọc có ý nghĩa rất lớn.

 

Đối với mỗi người giáo viên, xét ở góc độ đạo đức và sứ mệnh nghề nghiệp, chuyện thúc đẩy văn hóa đọc giống như là một sự hiển nhiên.

 

Hơn nữa, trong thế giới đang biến đổi với gia tốc ngày một nhanh và trở nên rủi ro, khó lường, bất an hơn bao giờ hết hiện nay với ô nhiễm môi trường, tai nạn, bệnh tật nan y, chiến tranh sắc tộc, khủng bố, con người ngày càng nhận thức rõ hơn giá trị của cuộc đời hữu hạn.

 

Sống trọn vẹn nhân sinh với đầy đủ chiều sâu, độ dài và trải nghiệm tối đa nhưng phút giây hạnh phúc mà nó đem lại đang trở thành nhu cầu tha thiết của mỗi cá nhân.

 

Bởi vậy, ở đây, hôm nay khi nói về đọc sách, xin được trao đổi với các thầy cô vài ý nhỏ được sắp xếp tùy tiện thành chủ đề “Đọc sách để sống trọn vẹn hơn đời sống con người”.

 

Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH

 

Trước hết xin được nói về ý nghĩa của việc đọc sách. Dường như trong thế giới sinh vật, con người là một loài hết sức đặc biệt. Một loài luôn tỏ ra không bằng lòng với hoàn cảnh sống và thực tại của bản thân mình. Bởi thế, con người trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại đã luôn mải miết đi tìm câu trả lời cho các vấn đề đang đặt ra cả ở trong thực tế lẫn tâm tưởng.

 

Con người cho dù xét ở góc độ cá nhân hay ở phương diện loài ít khi làm điều gì đó mà không có chủ đích hay không gán một ý nghĩa nào đó cho những việc đó.

 

Đọc sách cũng tương tự.

 

Liệu rằng người ta có còn đọc sách nữa không khi người ta không trả lời được câu hỏi “Đọc sách để làm gì?”. Chắc chắn là như thế. Cho dù nhiều người không cầm giấy và viết ra những câu trả lời cho câu hỏi ấy nhưng chắc chắn rằng khi đọc sách-một công việc không đem lại cho họ tiền bạc ngay lập tức mà thậm chí còn lấy đi của họ thời gian, sức lực, tiền bạc-hàng ngày và duy trì liên tục suốt cuộc đời mình, ít nhất họ cũng phải thỏa mãn ý nghĩa của việc đọc sách trong sâu thẳm tâm hồn của họ ở mức độ nào đó.

Ở góc độ này, chúng ta cũng thường thấy nhiều người không đọc sách hay đặt ra câu hỏi ngược lại cho những người khuyên họ nên đọc sách rằng “Đọc sách ư? Tại sao tôi phải đọc? Tôi thấy nhiều người  không đọc sách họ vẫn sống bình thường đó thôi?”.

 

Có thể, sẽ có những người mê đọc sách hay nhận thức sâu sắc về vai trò của đọc sách nổi khùng lên tự ái hoặc chán nản bỏ đi khi nghe những lời như thế.

 

Nhưng suy ngẫm cho kĩ thì thấy họ nói cũng có phần đúng. Con người, có lẽ chỉ mới biết làm ra sách và đọc sách cách đây khoảng trên dưới 5000-6000 năm mà thôi. Một mốc thời gian rất muộn so với lịch sử dài dằng dặc cả mấy triệu năm của loài người.

 

Trong khoảng thời gian rất dài đó, con người đã ra đời, sống, lao động, sinh hoạt, nuôi dạy con cái và chết đi mà không hề đọc sách…

 

Và hiện tại trong thế kỉ XXI, ở Việt Nam hay cũng có thể ở nhiều nơi khác trên thế giới cũng có rất nhiều người vẫn sống bình thường nhưng không hề đọc sách. Họ vẫn sống, lao động, ăn uống, dựng vợ gả chồng, sinh hoạt đời thường và nuôi con…

 

Nhưng nếu nhìn rộng ra, nghĩ kĩ hơn ta sẽ thấy rất hiếm ai đã từng đọc sách hay say mê đọc sách rồi quay lại nói rằng loài người không cần sách.

 

Cũng chẳng kiếm đâu ra một quốc gia, một cộng đồng văn minh nào trên thế giới lại là cộng đồng ít đọc sách và phủ nhận ý nghĩa của văn hóa đọc. Lịch sử cũng không cho thấy có quốc gia nào ở trạng thái bình thường muốn quay trở lại thời kì không có sách.

 

Xem trong tiểu sử các danh nhân, vĩ nhân từ cổ chí kim trong 4000-5000 năm trở lại đây, hầu như khi nhắc đến họ, người ta đều chú ý xem khi còn nhỏ họ đã đọc sách gì, trải nghiệm những gì, hưởng thụ nền giáo dục như thế nào.

 

Vậy thì, đọc sách, một cách cụ thể có ý nghĩa như thế nào?

Ở đây, xin tạm liệt kê và diễn giải ý nghĩa của việc đọc sách ở hai phương diện: phương diện vĩ mô khi nhìn ở bình diện quốc gia-dân tộc và phương diện vi mô khi nhìn ở góc độ cá nhân-công dân.

 

Khi xét ở phương diện quốc gia-dân tộc ta sẽ thấy sự chuyển biến của xã hội theo chiều hướng văn minh thực chất cũng là sự chuyển biến của văn hóa đọc. Sự ra đời của chữ viết, của sách vở và văn hóa đọc đi kèm là bằng chứng đánh dấu sự ra đời của văn minh quốc gia.

 

Thông thường khi nhìn nhận lịch sử phát triển của một quốc gia nào đó, người ta thường có xu hướng nhìn vào sự chuyển biến của chính trị như là sự thay đổi các triều đại hay sự thành công của các cuộc cách mạng và cho rằng đấy là động lực làm xã hội tiến bộ. Kì thực, sự chuyển biến của xã hội không thể nào diễn ra giản đơn và nhanh chóng như vậy. Sự chuyển biến tốt đẹp và bền vững phải là và phải dựa trên sự chuyển biến của từng người dân trong chính sinh hoạt thường ngày của họ. Điều này càng trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết kể từ thời cận đại, cho dù là nhìn vào nước Anh, Pháp, Mĩ hay Nhật Bản.

 

Chẳng hạn như ở Nhật Bản, một nước ở phương Đông, nơi không quá xa lạ với nhận thức của người Việt. Từ thế kỉ XVI, người Nhật và người Việt đã có mối quan hệ buôn bán, giao lưu qua lại. Từ cuối thế kỉ XIX trở đi khi Nhật Bản tiến hành cận đại hóa đất nước thành công theo mô hình phương Tây và thoát khỏi nanh vuốt của các liệt cường Âu-Mĩ nhờ vào Minh Trị Duy tân, người Việt trong đó tiêu biểu là các trí thức yêu nước xuất thân là nhà nho đã “thần tượng” Nhật Bản mạnh mẽ.

 

Vài người trong số họ và nhiều người Việt sau này đã tưởng rằng, nước Nhật làm được như thế chỉ là nhờ vào một ông thiên hoàng Minh trị anh minh sáng suốt, người đã dùng quyền lực đưa ra những quyết sách sáng suốt đưa dân tộc Nhật trở nên phú cường.
Sự thật lịch sử không đơn giản như thế! Dân tộc Nhật không thể nào có được thành tựu và vinh quang nhẹ nhàng và nhanh chóng như thế!

 

Minh trị lên ngôi khi 16 tuổi. Trong giai đoạn vận động lật đổ chính quyền Mạc phủ và trong những năm đầu khi chính quyền mới hình thành, quyền lực chính trị chủ yếu nằm trong tay các chính trị gia xuất thân võ sĩ ở hai phiên Satsuma và Choshu, lực lượng đã hậu thuẫn chuyển giao quyền lực từ tay Mạc phủ Edo về tay chính phủ mới.

 

Minh Trị lúc đó chỉ là một thiếu niên chưa có kinh nghiệm làm chính trị và vận hành quyền lực. Sau khi biết làm chính trị, trớ trêu thay những việc ông ta làm lại là những việc đi ngược lại các giá trị văn minh mà các trí thức tiến bộ của nước Nhật trước đó hết lòng cổ vũ. Ông cho quân xâm lược Đài Loan, Triều Tiên, đàn áp các trí thức có tiếng nói độc lập và thậm chí loại bỏ các cuốn sách của Fukuzawa Yukich (người được mệnh danh là “Voltaire của Nhật Bản” và cũng là người đề xướng độc lập dân tộc thông qua độc lập cá nhân có học vấn) khỏi trường học. Bản thân Fukuzawa trong tự truyện “Phúc ông tự truyện” đã bày tỏ sự kinh ngạc trước hành động này và tỏ ra “không hiểu tại sao?”.

 

Vậy thì, động lực nào đã làm cho nước Nhật thành công?

 

Sự thành công của nước Nhật là do nhiều yếu tố. Có yếu tố thuộc về thời thế, có yếu tố thuộc về vị trí địa lý. Nhưng yếu tố nổi bật và ngày càng được các học giả nghiên cứu về sau nhấn mạnh chính là nội lực của nước Nhật trước và trong cuộc cải cách Minh trị ở nhiều phương diện.

 

Đó là gần 300 năm hòa bình dưới thời kì mạc phủ Edo (1603-1867) đã tạo ra một nền tảng kinh tế công thương khá cơ bản.

 

Đó là văn hóa đô thị được nuôi dưỡng và phát triển mạnh.

 

Đó là ảnh hưởng của tư tưởng Vương Dương Minh.

 

Đó là nhờ cửa ngõ thông thương Nagasaki đã mở ra một con mắt để Nhật Bản nhìn vào thế giới.

 

Đó cũng là văn hóa võ sĩ với lối tư duy thực dụng, kĩ trị gắn bó với thực tiễn và coi trọng thực tiễn.

 

Đó cũng là những hệ quả khách quan của chế độ phong kiến tán quyền làm cho người cao quý và người có quyền lực không trùng khớp hoàn toàn.

 

Các yếu tố trên giúp hạn chế được tâm lý hoảng sợ quyền lực tuyệt đối và chủ nghĩa đầu hàng mang đậm màu sắc định mệnh vốn phổ biến ở dân chúng các nước phương Đông khác.

 

Tuy nhiên, cần phải đặc biệt kể đến yếu tố này: sự phổ biến và lớn mạnh của văn hóa đọc. Ngay trong thời Edo (1603-1867), Nhật Bản đã có tỉ lệ dân chúng biết đọc biết viết khá cao. Hệ thống trường học tư, trường học của phiên, các lớp học trong chùa cùng cuộc sống đầy tính thực dụng cần tới đọc, viết, tính toán đã thúc đẩy tạo nên điều đó. Nhìn chung trong thời Edo các nhà nghiên cứu người Nhật và cả người nước ngoài đều cho rằng có ít nhất 40-50% dân số Nhật biết chữ. Tỉ lệ số người biết chữ ở các đô thị lớn có thể còn cao hơn nữa. Công nghệ in đã có bước phát triển vượt bậc và việc in sách, bán sách đã trở thành một ngành thương mại.

 

Sách vở và đọc sách bùng nổ cũng gắn liền với sự tăng tiến của học thuật. Cuối thời Edo các ngành như Quốc học, Lan học (Hà Lan Học), Dương học đã phát triển mạnh với nhiều học giả tên tuổi tạo ra số lượng trước tác khổng lồ. Điều này giải thích lý do tại sao người Nhật có thể học hỏi phương Tây nhanh chóng khi cải cách, mở cửa. Những cuốn sách bán chạy thời Minh trị như “Khuyến học”, “Tây Dương sự tình”, “Bàn về tự do”… đã in và bán được hàng triệu bản là vì thế.

 

Dân chúng biết đọc, ham đọc, có thói quen đọc, sách vở được in ra và bán rộng rãi, dễ dàng là một điều kiện tuyệt vời để truyền bá văn minh, thức tỉnh quốc dân và thay đổi các thói quen tư duy, lề lối cũ.

 

Nếu không có điều kiện đó nước Nhật chưa chắc đã thành công trong thời Minh Trị cho dù bộ phận tinh hoa và nắm giữ quyền lực chính trị khi đó có “anh minh, sáng suốt” thế nào đi chăng nữa.

 

Chúng ta cũng đừng quên một chi tiết quan trọng, trong một lần công cán cho chính quyền Mạc phủ Tokugawa ở châu Âu, Fukuzawa Yukichi đã từng trò chuyện với một học giả người Trung Quốc. Khi người này hỏi rằng ở Nhật Bản khi đó có khoảng bao nhiêu người “đọc được chữ viết ngang” (chỉ chữ viết trong ngôn ngữ của Âu-Mĩ như tiếng Anh, Pháp, Hà Lan…). Fukuzawa đã nhẩm tính và đáp “có khoảng 500 người”. Trong khi đó học giả Trung Quốc kia tiết lộ ở Trung Quốc rộng mênh mông cùng lắm là có 50 người có khả năng ấy.
Hai con số đó trong tỉ lệ tương ứng với chiều dài lịch sử, quy mô diện tích và dân số cũng như số phận hai dân tộc sau đó mấy mươi năm nói lên rất nhiều điều đáng để chúng ta suy ngẫm.

 

Cơ hội chỉ đem đến thành công khi người ta có sự chuẩn bị về nội lực. Nhật Bản cận đại là một ví dụ sinh động cho điều đó.

 

Liên hệ với lịch sử cận đại Việt Nam, chúng ta sẽ thấy, so với người Nhật, chúng ta cũng chẳng thiếu anh hùng, chẳng thiếu những người thức giả thiết tha với vận mệnh dân tộc. Dân tộc chúng ta cũng có thừa lòng quả cảm.
Nhưng yếu điểm gần như là định mệnh của chúng ta là những tư tưởng, những giá trị tốt đẹp chỉ có thể truyền bá xoay vòng trong một vòng tròn nhỏ hẹp bao gồm một số lượng cá nhân nhỏ bé sống nơi đô thị lớn.

 

Truyền thống khoa cử, thói quen học kiểu tầm chương trích cú, học để làm quan và chỉ có một nhóm nhỏ được đến trường, được đi học (50% dân số là phụ nữ bị gạt bên lề, chỉ khoảng vài phần trăm dân số đọc được chữ Hán) đã làm yếu đi nội lực.

 

Cho nên khi cần cổ vũ để thay đổi thói quen sinh hoạt, thay đổi tư duy, thay đổi giá trị quan, học hỏi nước ngoài, những người tiên phong đã gặp khó khi lan truyền nó vào đại chúng? Dùng phương tiện nào đây khi hơn 90% dân số mù chữ. Một số khác thì tuy biết chữ nhưng chỉ có thể đọc được chữ Hán mà khi đó chữ Hán đã dần mất đi vị thế và không còn đắc dụng nhất là trong công việc truyền đạt các giá trị văn minh đến từ phương Tây? Đấy là khó khăn cao ngang trời mà các trí thức thức thời, thiết tha với vận mệnh dân tộc ta đối mặt vào những thập kỉ đầu của thế kỉ XX.

 

Truyền bá học thuật bằng con đường truyền miệng hay văn chương bình dân là một con đường đi vào ngõ cụt.

 

Không phải ngẫu nhiên mà các cụ Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Châu Trinh… và nhiều cụ khác nữa kêu lên thống thiết và giục giã người dân Việt Nam phải khẩn cấp học chữ quốc ngữ, kêu gọi học giới phải quốc ngữ hóa thành tựu văn minh phương Tây để truyền bá.

 

Các cụ làm thế vì ở nhiều mức độ khác nhau các cụ đã nhận ra điểm yếu “chết người” của dân tộc-mù chữ và không đọc sách.

 

Vì thế không phải ngẫu nhiên cụ Phạm Quỳnh trong một bài diễn thuyết trước các sinh viên tốt nghiệp trường Đại học Đông Dương (1920) khóa I đã dứt khoát kêu gọi họ trở thành người “Độc thư quân tử” (người quân tử đọc sách) và sự nghiệp của họ là “Độc thư cứu quốc) (Đọc sách cứu nước).

 

Đấy là một công việc khẩn thiết kéo dài cho tới tận ngày nay.

 

Ngày nay, tỉ lệ người Việt Nam biết chữ rất cao, quốc tế cũng ngạc nhiên và thán phục điều này. Nhưng biết chữ và đọc sách trong rất nhiều trường hợp không trùng khớp với nhau. Có rất nhiều người biết chữ nhưng không đọc sách, thậm chí không đọc bất cứ gì ngoài phiếu ghi số đề và …sổ nợ.

 

Đấy là một điều đáng lo.

 

Những người Việt Nam sống trong hiện tại, phải chinh phục cho được hạn chế chết người mà lịch sử để lại này.
Mỗi người dân phải tích cực đọc sách để “cứu quốc”-nghĩa là kiến tạo đất nước một văn minh và có vị trí xứng đáng trên vũ đài thế giới.

 

Đấy là xét ý nghĩa của việc đọc sách ở phương diện quốc gia.

 

Còn xét ở phương diện cá nhân thì sao?

 

Kể từ khi phong trào văn hóa phục hưng, triết học khai sáng dấy lên ở châu Âu và các cuộc cách mạng công dân dồn dập nổ ra ở Anh, Pháp, Mĩ thiết lập nên các nền quân chủ lập hiến hoặc cộng hòa, các học giả và sau đó là cả dân chúng đều ngày một thừa nhận rộng rãi và sâu sắc vai trò của cá nhân-công dân trong kiến tạo xã hội.

 

Thông qua sự tiến bộ của cá nhân để đạt được sự tiến bộ về xã hội là một mệnh đề ngày càng được thực tiễn lịch sử chứng minh là đúng dắn và có sức hấp dẫn.

 

Khi hiểu như vậy, ta sẽ thấy để kiến tạo một quốc gia, một cộng đồng văn minh không thể nào không dựa trên nền tảng văn hóa đọc với trụ cột là thói quen, năng lực đọc sách của từng cá nhân, từng công dân.

Vậy thì, xét ở góc độ con người cá nhân, đọc sách đem lại ích lợi gì cho họ?
Nếu hỏi 1000 người mê đọc sách và đọc sách như một thói quen hàng ngày, họ sẽ sôi nổi kể cho chúng ta cả 1001 điều ích lợi có được nhờ đọc sách.

 

Ở đây, tôi chỉ xin liệt kê sơ sài một vài lợi ích dễ thấy nhất.

Đọc sách là trải nghiệm đầu đời quan trọng và đầy ý nghĩa

 

Nếu để ý chúng ta sẽ thấy trong tiểu sử viết về những nhà văn, nhà thơ, các nhà khoa học hay các vĩ nhân (và thậm chí ở thái cực khác là những tên tội phạm tàn bạo khét tiếng), các nhà viết tiểu sử thường dành một dung lượng tương đối để mô tả tuổi thơ của các nhân vật đó. Ở đó đương nhiên không thiếu các chi tiết như họ đã có tuổi thơ thế nào, học ở đâu, tiếp nhận nền giáo dục thế nào và…đọc những sách gì.

 

Chưa cần đến khoa học, chỉ cần bằng trải nghiệm cá nhân của mình, chúng ta cũng sẽ nhận thấy những gì làm chúng ta nhớ nhất và không thể nào quên thường là những món ăn, những kỉ niệm thời thơ ấu. Đấy là những thứ càng có tuổi chúng ta càng nhớ rõ. Cùng thời gian và tuổi tác, chúng sẽ hiện lên trong đầu óc chúng ta như một bộ phim quay chậm. Chúng cũng trở lại sinh động khi chúng ta có con và nhìn vào sự lớn lên của con mỗi ngày.

 

Và nữa, ở những giây phút nào chúng ta buồn khổ, cay đắng và thất vọng nhất, chắc chắn chúng ta cũng sẽ lại hồi tưởng lại quãng thời gian tuổi thơ còn ở trong vòng tay của cha mẹ. Khi ấy những người may mắn, những người bước qua được sự tuyệt vọng khôn cùng thường là những người có kí ức tuổi thơ đẹp đẽ.
Như thế những trải nghiệm đầu đời hiển nhiên vô cùng quan trọng.
Nếu một đứa trẻ ngay từ khi sinh ra đã được tiếp xúc với sách trong niềm vui chắc chắn đứa trẻ ấy sẽ có ấn tượng tốt với sách và trở thành người yêu sách.

 

Ở chuyện này, tôi có một trải nghiệm cá nhân đáng nhớ.

 

Tôi có con trai đầu lòng khi đang học ở Nhật Bản. Khi con trai tròn 3 tháng tuổi, tòa thị chính gửi giấy gọi đi khám sức khỏe định kì tại trung tâm y tế ở gần nhà. Khi đến nơi ngoài bác sĩ và chuyên gia dinh dưỡng khám, tư vấn, tôi vô cùng nhạc nhiên khi thấy có cả nhân viên của thư viện thành phố đến tư vấn cho vợ chồng tôi về việc đọc sách cho con nghe. Nhân viên này cũng thay mặt thành phố tặng cho con trai tôi một cuốn sách ehon (sách tranh) và tập tài liệu hướng dẫn thủ tục sử dụng các dịch vụ của thư viện thành phố nơi tôi đang sống.

 

Tôi, cho dù là một người mê đọc sách từ nhỏ, vô cùng ngạc nhiên. Lúc đó, tôi thoáng có chút nghi ngờ “trẻ con chưa biết chữ thì đọc sách kiểu gì? con mới ba tháng thôi mà?”. Nhưng sau đó sau khi đọc sách cho con  nghe theo hướng dẫn một thời gian, tôi kinh ngạc nhận ra, không phải cứ biết chữ trẻ mới đọc được sách. Cha mẹ, người lớn có thể đọc sách cho trẻ nghe.

 

Và đó quả thực là một công việc tuyệt vời!

 

Nhờ đọc sách cho con nghe từ nhỏ cha mẹ vừa thiết lập được cây cầu để kết nối tình yêu thương vừa truyền đến cho con cả những rung động sâu xa được biểu đạt bằng tiếng mẹ đẻ.

 

Cho dù là ba tháng, bốn tháng, hay năm tháng tuổi, mỗi khi vợ chồng chúng tôi cầm cuốn sách và đọc cho con nghe, mắt cháu lại lấp lánh niềm vui đầy hứng khởi. Và bây giờ khi gần 4 tuổi, cháu đã trở thành một đứa trẻ mê đọc (nghe đọc) dù chưa biết chữ. Cháu có thể trầm lặng ngồi lật giở từng trang sách một mình để đọc theo kiểu của riêng mình. Hoặc là đọc trong yên lặng, hoặc tự bịa ra lời. Cháu cũng có thể ngồi yên để nghe bố đọc những cuốn sách dài cả trăm trang đầy chăm chú  và tập trung. Với đứa con thứ hai, vơ chồng tôi cũng làm như thế và thật đáng kinh ngạc, chuyện tương tự lại xảy ra.

 

Cháu cũng mê sách như anh trai mình.

 

Hóa ra để trẻ thích đọc sách nếu cha mẹ đọc sách cho con nghe từ sớm và làm đúng cách, chuyện đó không có gì là quá khó.

 

Cuốn sách đầu đời con trai tôi đọc ở Nhật đã trở thành cuốn sách cháu thích nhất. Khi cháu hơn hai tuổi và nhà tôi sắp về Việt Nam, vợ chồng tôi đưa cháu đến thư viện trẻ em thành phố chơi. Vợ chồng tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy cháu tìm được cuốn sách đầu đời cháu đã được tặng và đọc cho đến khi sáu tháng tuổi. Để thử xem có phải cháu thật sự nhớ cuốn sách đó, hôm sau tôi lại đưa cháu đến và vào trước giấu cuốn sách đó đi chỗ khác. Cháu chạy khắp nơi tìm và cuối cùng lại mang ra cuốn sách đó yêu cầu bố đọc. Hóa ra hình ảnh và nội dung của cuốn ehon đó đã hằn rất sâu trong  tâm trí cậu bé. Về sau, khi về Việt Nam, vợ tôi tặng cuốn sách này cho con của em gái nhưng khi sang nhà ông ngoại chơi, nhìn thấy cuốn sách ở đó, cháu lại khóc và kiên quyết…đòi về.
Một cuốn sách giản đơn chỉ có khoảng 10 trang, mỗi trang là một bức vẽ diễn tả tiếng gió thổi, gà gáy, xe ô tô chạy, chiếc kèn kêu…mà trở nên vô cùng hấp dẫn.

 

Tìm thông tin trên mạng tôi được biết cuốn sách này nằm trong danh sách các cuốn sách tranh kinh điển của Nhật đã bán được hàng triệu bản.
Con tôi đã được tặng sách vì ở Nhật Bản khi đó có chương trình tặng sách cho tất cả trẻ em khi ra đời. Đây là chương trình cấp quốc gia của Nhật có tên là “book start” và nó được thực hiện liên tục từ năm 2000 đến nay. Ở Nhật có hẳn một tổ chức NPO chuyên trách công việc tặng sách, hướng dẫn đọc sách cho tất cả các trẻ em chào đời ở Nhật Bản đặc trách chương trình này.

 

Tôi hi vọng, đến một lúc nào đó, mỗi đứa trẻ ở Việt Nam khi ra đời cũng sẽ có cơ hội được nhận một cuốn sách đẹp và thú vị như thế.

 

Như vậy có thể thấy, đọc sách cũng có thể coi là một hoạt động quan trọng trong giáo dục gia đình, là điểm kết nối giữa bố mẹ và con cái. Đấy là điểm khởi đầu rất quan trọng của giáo dục gia đình mà nói theo cách của Bộ giáo dục văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ Nhật Bản thì “giáo dục gia đình là xuất phát điểm của tất cả giáo dục”.

 

Đọc sách chính là học

Trong quá trình dạy học, nghiên cứu, tiến hành các hoạt động khuyến đọc tôi nhận được rất nhiều lời tâm sự đau khổ từ phía học sinh. Học sinh nói rằng nhiều người từ thầy cô đến bố mẹ không muốn các em đọc sách vì sợ các em “phân tán tư tưởng”, “không tập trung vào việc học”…. Nhiều thầy cô, cha mẹ còn cấm luôn việc đọc sách của con. Nhiều trường có thư viện, phòng đọc nhưng sách vở nghèo nàn thậm chí có sách nhưng khóa cửa không cho học sinh vào đọc.

 

Cha mẹ, thầy cô có lý do để lo lắng như trên vì cuộc chiến thi cử ở Việt Nam chưa có dấu hiệu giảm nhiệt. Tuy nhiên mục đích cuối cùng của việc học không phải là thi đỗ hay giành được bằng cấp nào đó. Hai việc đó là vô nghĩa nếu như người học, người có bằng cấp cuối cùng không thể sống hạnh phúc trong tư cách là một con người độc lập. Sự độc lập của cá nhân trong xã hội không thể được hình thành một cách giản đơn như logic mà những cha mẹ, thầy cô trên thường nghĩ: “học tri thức giáo khoa-làm bài tập-luyện thi-thi đỗ-vào đại học-tốt nghiệp-đi làm-có thu nhập cao-sống hạnh phúc”.

 

Đường đời hoàn toàn không giống như trang giấy. Con người, cho dù là người đơn giản nhất, cũng là một sinh vật vô cùng phức tạp chứ không phải là cái máy được lập trình và chạy theo một quy trình tuần tự định trước.

 

Học theo công thức truyền đạt-tiếp nhận các tri thức giáo khoa để phục vụ việc thi cho dù đem lại thành công trước mắt nhưng không đảm bảo sự thành công lâu dài. Đơn giản vì để sống như một người bình thường và có thể lao động, sáng tạo con người cá nhân sẽ cần đến nhiều thứ.
Đó là khả năng tập trung.
Đó là lòng nhẫn nại

 

Là tinh thần và kĩ năng hợp tác

 

Là khả năng lý giải và đồng cảm với những người đối diện và ở xung quanh…

 

Những thứ đó rất khó có thể hình thành thông qua việc chỉ học các môn giáo khoa thuần túy hay luyện đi luyện lại các bài tập toán, các bài văn mẫu. Chúng chỉ có thể hình thành thông qua sự bồi đắp văn hóa nói chung bằng đọc sách, trải nghiệm đời sống và tương tác đa dạng qua sinh hoạt phong phú hàng ngày.

Chính vì vậy, cần phải hiểu HỌC là một quá trình phong phú, rộng lớn và nhắm đến mục tiêu sâu xa là sự phát triển ngày một hoàn thiện của cá nhân hơn là đạt được những mục tiêu ngắn hạn về tri thức cho dù trên bước đường nào đó, những thứ đó là không tránh khỏi và cần thiết.

Khi quan niệm thoải mái và bao dung về việc học như vậy, một cách tự nhiên ta sẽ thấy đọc chính là học. Một sự học tự nhiên, thường xuyên. Một sự học vừa nhẹ nhàng vừa sâu sắc. Một sự học vừa thâm trầm sâu lắng, vừa dữ dội với sự tập trung của tất cả nội tâm.

 

Đọc sẽ là cách học vô cùng tự do và dân chủ. Khi học như thế người ta có thể học ở bất cứ đâu, ở bất cứ khi nào người đó muốn. Khi đọc sách người ta cũng có thể lang thang khắp các miền tri thức không hề có giới hạn. Người ta có thể đối diện và trò chuyện, chất vấn bất cứ nhà hiền triết, nhà thơ, nhà văn, nhà khoa học nào trên thế giới về ý tưởng, công trình của họ mà không hề có bức tường lễ nghi hay quyền uy nào ngăn cản.

 

Người ta cũng không phải dừng lại chờ một ai đó vì họ đi chậm hơn cũng không phải nén lòng tò mò hay dừng bước vì chương trình chưa tới. Người ta có thể thoải mái đi trên con đường tìm kiếm chân lý bằng đôi chân trí tuệ của mình, với tốc độ của mình và hướng theo mục tiêu của mình…

 

Đấy là cách học tự do.

 

Mà tự do luôn là thứ hấp dẫn con người. Đấy là lý do tại sao có nhiều cá nhân cảm thấy buồn chán ở trường học, từ chối đến trường nhưng lại say mê đọc, tìm tòi và có nhiều phát minh, cống hiến cho nhân loại.

 

Bởi thế, khi thấy học sinh, trẻ em ham đọc, cha mẹ, thầy cô thay vì ngăn cản hay làm ngơ hãy biết cách động viên, trợ giúp và hướng dẫn cần thiết. Hãy lấy việc đọc của trẻ làm trung tâm để mở rộng thế giới của trẻ và dẫn dắt trẻ vào thế giới của tri thức. Đấy là cách chúng ta đưa trẻ tìm đến với con đường tìm kiếm chân lý rộng mênh mông, xa xôi mà đầy hứng khởi.

 

Đọc cũng hỗ trợ tốt cho việc lựa chọn nghề nghiệp và nâng cao trình độ nghề nghiệp

 

Muốn có được cuộc sống hạnh phúc của con người và được người khác kính trọng, xã hội thừa nhận, hiển nhiên cá nhân con người trong xã hội ngày nay phải có được địa vị độc lập về tài chính. Sự độc lập về tài chính đó, lý tưởng nhất và thường thấy nhất, phải đến từ lao động nghề nghiệp. Vì vậy, lớn lên con mình sẽ làm nghề gì-là mối ưu tư thường trực của cha mẹ. Các giáo viên tận tâm với nghề khi dạy phổ thông cũng sẽ liên tục đặt ra câu hỏi đó.

Tuy nhiên, thực tế mấy chục năm qua cho chúng ta thấy, học sinh của chúng ta, thanh niên của nước ta đã không có sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp về nghề nghiệp. Rất nhiều người lựa chọn nghề nghiệp sai. Câu ca dân gian “nhất y nhì dược, tạm được bách khoa, bỏ qua sư phạm”, hay “chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm” đã phản ánh một thực tế khá cay đắng và phũ phàng. Chọn nghề đã luôn được giản lược hóa đến đơn giản, vụng dại và vụ lợi sống sượng như thế.

Người ta ép thanh niên phải lựa chọn nghề thuần túy dựa vào lợi ích kinh tế mà ngành nghề đó có khả năng mang lại mà không hề tính toán đến khả năng của bản thân, thiên hướng của bản thân cũng như các yếu tố thuộc về giá trị của nghề nghiệp mang lại cho xã hội. Hệ quả tất yếu của nó là sau khi học xong, sinh viên thất nghiệp. Rất nhiều người đi làm cho đến khi về hưu mà vẫn không có được cảm giác thỏa mãn về nghề nghiệp mà bản thân đã trọn đời chung sống.

 

Nhiều người chuyển sang làm công việc không được đào tạo ngay sau khi tốt nghiệp hoặc sau khi đi làm chỉ một, hai năm vì nhận ra mình không hợp với nghề mình đã học. KHÔNG HẠNH PHÚC VỚI NGHỀ MÌNH ĐANG LÀM xét ở góc độ nhân sinh cũng khổ đau như là thất nghiệp.

 

Có nhiều lý do dẫn tới chuyện bên trên nhưng một trong những lý do đó là cả người lớn và trẻ em ít được đọc sách để mở rộng tầm hiểu biết về xã hội, về các nghề nghiệp trong xã hội.

 

Hiểu biết giúp thúc đẩy thay đổi tư duy, hình thành nên quan điểm giá trị đúng đắn. Khi có giá trị quan đúng đắn để soi chiếu xã hội và bản thân, trẻ em, thanh niên sẽ tự tìm thấy con đường đi của mình. Các em sẽ mạnh dạn lựa chọn được lĩnh vực, nghề nghiệp mà các em muốn học hỏi và theo đuổi. Khi đọc sách các em cũng sẽ gặp được những người thành công trong các lĩnh vực mà các em mơ ước, biến họ thành thần tượng để rồi tạo ra trong mình nguồn năng lượng để theo đuổi đam mê.

 

Mặt khác, chúng ta phải hiểu rằng trường học cho dù ngày càng gần gũi hơn với xã hội và sản xuất nhưng không thể mô phỏng hoàn toàn đời sống sản xuất. Do vậy, cho dù là học từ ngôi trường tuyệt vời nhất trên thế giới, không gì đảm bảo rằng người sinh viên sau khi tốt nghiệp trường đó có thể trở thành một ngươi thợ, một kĩ sư, một nhân viên tuyệt vời ngay. Vì vậy, sau khi ra trường, đi làm việc học hỏi để nâng cao trình độ, kĩ năng nghề nghiệp là chuyện tất yếu. Có nhiều cách để làm việc đó như tham gia khóa đào tạo của công ty, tiếp tục học lên sau đại học vào buổi tối, tham gia chương trình đào tạo của chuyên gia… Trong đó có một cách mà những người thợ, kĩ sư, nhân viên  ở  các nước tiên tiến thường xuyên làm là đọc sách và tự học. Vì vậy chuyện công sở, nhà máy, công ty của nước ngoài có thư viện, tủ sách là điều dễ hiểu.

 

Bản thân tôi khi bắt đầu làm công việc thông dịch cho một nghiệp đoàn ở Nhật chuyên cung cấp lao động  người Việt cho các doanh nghiệp cơ khí đã vô cùng lo lắng khi phải dịch các thuật ngữ chuyên ngành và các nội dung liên quan tới kĩ thuật cơ khí, tự động hóa. Tuy nhiên, ông giám đốc của nghiệp đoàn đã động viên và tạo điều kiện cho tôi đọc tài liệu trong suốt một tháng trời, mỗi ngày 5 tiếng. Ông trả lương cho tôi ngồi đọc sách trong suốt thời gian đó vì thế mà công việc sau này trôi chảy và tôi có sự tự  tin hơn.

 

Vì vậy, khi làm nghề, chúng ta đừng bao giờ quên đọc sách để mài sắc kĩ năng nghề nghiệp và trình độ của bản thân trong nghề đó. Và tất nhiên, tình yêu nghề chỉ thực sự có và đến khi chúng ta hiểu sâu sắc về nghề mình đang làm-cả vinh quang và cay đắng. Nghề giáo là một nghề như thế.

 

Đọc để sống…người hơn

 

Như đã từng nói trước đó, con người so với các động vật khác có rất nhiều điểm khác biệt. Ở đây, tôi xin nhấn mạnh vài điểm khác biệt chủ yếu như: con người có cảm xúc mạnh mẽ, tinh tế và phong phú, có tư duy sâu sắc và đặc biệt là có tính xã hội cao.

Trong thời đại trí tuệ ngày càng trở thành động lực trực tiếp dẫn dắt, thúc đẩy sự phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội, Robot-trí tuệ nhân tạo đang thay thế công việc của con người trong nhiều lĩnh vực.

Tuy nhiên, để Robot có cảm xúc, tình cảm phong phú như con người vẫn một điều gần như không thể.

 

Điều đó nói lên giá trị của con người. Cảm xúc phong phú, tinh tế, tình cảm sâu xa là một tiêu chuẩn nói lên tính người. Không phải ngẫu nhiên mà một trong những mục tiêu cơ bản của nhiều nền giáo dục là hình thành nên “tâm hồn phong phú” ở trẻ em. Để có tâm hồn phong phú, con người cần phải được giáo dục. Đọc sách là một phương thức nằm trong đó. Đọc sách, nhất là những cuốn sách về văn chương sẽ giúp trẻ sớm có được những rung cảm tinh tế nhất, nhân văn nhất. Ở đây ngôn ngữ, sách, tình cảm sâu xa và cảm xúc tinh tế dường như có mối quan hệ rất khó tách rời.

 

Câu chuyện về nhà văn Nguyễn Thanh Việt tôi kể dưới đây là một ví dụ. Ông là người Việt có quốc tịch Mĩ, được giải Pulitzer (2016) và đang sống ở Mĩ. Cho dù lớn lên ở Mĩ, nói tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ, ông luôn bị người khác nói rằng ông là người Việt và ông cũng cảm thấy ông là người Việt. Ông giải thích lý do đó trong một video đưa lên mạng thông qua một câu chuyện đã xảy ra với ông. Một lần ông đứng trong tiệm bách hóa và có nghe thấy một người đàn ông thuộc tầng lớp lao động, có dáng vẻ thô kệch đang gọi điện thoại bằng tiếng Việt. Nhà văn nghe thấy ông này  nói với  ai đó ở đầu dây bên kia “Ba đây, con ăn cơm chưa?”. Chỉ thế thôi, một câu rất đơn giản mà ông bảo nếu dịch ra tiếng Anh nó rất vô nghĩa, nhưng ông thú nhận nghe xong ông trào nước mắt vì “với tôi nó là tất cả”.

 

Tôi nghĩ ông đúng, vì tôi cũng từng ở nước ngoài 8 năm và sống cùng phòng với người Nhật ngay từ ngày đầu tiên tới Nhật Bản. Đằng sau hay ở trong ngôn ngữ là văn hóa, là kỉ niệm, là kí ức, là hạnh phúc và cả khổ đau. Tiếng nói của cha mẹ nhà văn là tiếng Việt và nhà văn xúc động vì với người Việt “Con ăn cơm chưa” là câu nói chứa đầy sự quan tâm và yêu thương.
Ở đây, tôi muốn kể thêm một câu chuyện riêng của bản thân gia đình tôi. Vợ tôi có bầu và đẻ con trai đầu lòng ở Nhật. Trong 5 ngày đầu tiên kể từ lúc sinh, vợ tôi ở trong viện một mình vì bệnh viện có điều kiện chăm sóc tốt và họ cũng không muốn người thân vào ở cùng vì hạn chế tiếp xúc bên ngoài dễ lây bệnh cho trẻ ở cùng. Trong đêm hôm khuya khắt, khi con giật mình thức giấc khóc, vợ tôi ru:

 

Con cò mà đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

Ông ơi ông vớt tôi nao

Tôi có lòng nào xin hãy xáo măng

Có xáo thì xáo nước trong

Đừng xáo nước đục, đau lòng cò con

 

Về sau này mỗi khi tôi ru con bằng bài ru ấy vợ tôi lại chảy nước mắt bảo “Anh làm em nhớ những ở trong viện”. Trước kia, khi còn nhỏ bố mẹ tôi cũng thường hay ru tôi bằng truyện Kiều hay ca dao như thế. Và giờ chúng tôi cũng ru con hàng ngày.
Tôi nghĩ những bài ca dao, những bài thơ được lưu truyền, được in thành sách được thử thách theo thời gian sẽ là một phương tiện hay và đầy ý nghĩa trong việc nuôi dưỡng cảm xúc của trẻ em. Có được cảm xúc phong phú và tinh tế con người sẽ biết khắc kỉ bản thân, biết tự chế để khỏi nhúng tay vào tội ác, có thêm sức mạnh để sống là mình trước cuộc đời nhiều thử thách và cám dỗ.

 

Ở góc độ con người, đọc cũng giúp con người luôn đào sâu suy nghĩ. Tư duy của con người là một đặc ân của tạo hóa. Nhưng nếu để tự nhiên, tư duy đó sẽ không thực sự phát huy được giá trị. Nó cần được mài sắc thường xuyên. Một trong những cách mài sắc hiệu quả là đọc sách. Khi đọc sách, đương nhiên người ta sẽ phải suy nghĩ vì ở trong sách người đọc sẽ bắt gặp vô vàn điều mới lạ, những thứ bí ẩn, những câu hỏi đang cần lời giải đáp và những kiến giải, bình luận khác với ý nghĩ của bản thân. Một cách tự nhiên, con người sẽ dùng trí tưởng tượng để đuổi theo thế giới trong trang sách, lý giải nó bằng cách riêng của mình, đặt ra những nghi vấn và tìm cách giải đáp thỏa mãn các nghi vấn ấy. Và cứ như thế, từng ngày, từng ngày, các mạch thần kinh trong não bộ nhiều lên, giúp con người trở nên thông minh hơn, nhanh nhạy hơn và quen với thao tác sáng tạo. Khi gặp các vấn đề cần phải giải quyết trong đời sống học thuật hay thực tiễn, bộ não ấy sẽ tìm kiếm được thông tin cần thiết nhanh hơn, xử lý nhanh hơn, hợp lý hơn, sắp xếp sáng tạo hơn để tìm ra phương án hiệu quả.

 

Đọc sách cũng giúp cho con người có tinh thần trách nhiệm hơn đối với cộng đồng và xã hội. Con người về bản chất chỉ có thể thỏa mãn tốt nhất các nhu cầu của mình trong xã hội. Hãy thử tưởng tượng một con người có sức khỏe tốt, có học thức, và giàu có, nhưng lại sống trong một tòa lâu đài bơ vơ, xung quanh không có một ai hay nếu có cũng không có mối liên hệ tương tác nào đáng kể liệu rằng đời sống của anh ta có hạnh phúc không?

 

Trong hối hả của cuộc sống thường ngày, chúng ta thường quên đi mệnh đề đó. Chúng ta quên mất một điều giản dị rằng thực chất chúng ta chỉ có thể thỏa mãn được tốt nhất các nhu cầu của bản thân để có cuộc sống hạnh phúc trong xã hội. Mà xã hội lại là một thực thể được tạo thành bởi các mối quan hệ chăng chịt đầy trách nhiệm. Nếu các cá nhân sống trong xã hội đó vô cảm với xã hội chỉ chạy theo các lợi ích thuần túy của bản thân thì đấy sẽ là cách mà chúng ta tước bỏ đi hạnh phúc hay đúng hơn là phá hủy nền tảng nâng đỡ hạnh phúc của chính mình. Một ngôi nhà kín cổng cao tường đến mấy cũng không đủ để giữ cho chúng ta và con cái chúng ta an toàn và sống trong bình yên. Vì thế, việc chúng ta trân trọng những người cống hiến cho xã hội và tự bản thân chủ động góp phần làm cho xã hội tốt hơn là một cách để chúng ta sống hạnh phúc và kiến tạo hạnh phúc.

 

Để làm điều đó, chúng ta cần can đảm, mà trước hết là can đảm để thắng chính mình. Muốn thế, chúng ta phải có hiểu biết và triết lý nhân sinh. Tìm kiếm những thứ đó ở đâu nếu như không phải từ sách vở và trải nghiệm đời sống hàng ngày? Đọc sách chúng ta sẽ thấy ở đó những khổ đau, trăn trở của nhiều người cũng như tấm lòng cao cả của nhiều người khác. Vượt qua thói tục tầm thường, họ đã sống thực sự như một con người và sẽ truyền cho ta cảm hứng để sống một cuộc sống thật sự là người.

 

Để sống như một con người, chúng ta cũng cần phải biết giải trí để tìm kiếm niềm vui và tái tạo nguồn năng lượng. Đây là việc tưởng là dễ mà thực ra rất khó vì các cụ từng nói “nhàn cư vi bất thiện”. Nhàn rỗi vừa là cơ may để con người sống cuộc sống thực sự là người thông qua các hoạt động giải trí, sáng tạo, suy tưởng… nhưng nó cũng ẩn chứa nguy cơ phá hủy nhân tính và hủy hoại cuộc sống cá nhân, sự lành mạnh của xã hội khi con người đi vào con đường trụy lạc.
Câu nói trên của tiền nhân là một sự cảnh báo đồng thời cũng là sự mô tả một thực tế.

Trong suốt cuộc đời con người, sống đồng thời cũng sẽ là quá trình chống lại sự tha hóa cả về thể chất và tinh thần.

 

Muốn thế, con người phải có hiểu biết và thói quen để giải trí lành mạnh. Một trong những nội dung và cũng là mục tiêu giáo dục cho trẻ em trên thế giới là biết giải trí lành mạnh. Chẳng phải ngẫu nhiên mà trong chương trình môn Xã hội dành cho bậc tiểu học ban hành năm 1947 ở nước Nhật, bộ giáo dục nước họ lại bố trí hẳn một chủ đề có tên “chúng ta sử dụng thời gian rảnh rỗi như thế nào?” ở lớp 1.

 

Ở đó người ta sẽ hướng dẫn trẻ em tìm hiểu về vai trò của giải trí, thế nào là giải trí lành mạnh có lợi cho thể chất và tâm hồn, thế nào là giải trí có hại.
Đương nhiên ở đó, một trong những gợi ý được đưa ra là nên đọc sách vào thời gian rảnh rỗi. Đọc là một phương thức giải trí rất tốt để bồi bổ sức khỏe cho cả tâm hồn và thể chất. Hơn thế nữa đọc còn là cách để giải tỏa các căng thẳng do cuộc sống đem lại. Những trang sách hay, sâu sắc sẽ giúp con người lắng lại tâm hồn. Đặc biệt, như nhiều người, đặc biệt là các nhà tôn giáo, tâm lý học, triết học và bác sĩ tâm thần đã phân tích, chỉ ra đọc cũng là một cách thức hữu hiệu để đối diện với khổ đau. Khi gặp khổ dau, nếu như không đối diện, hóa giải nó rồi đi xuyên qua nó để sống đẹp hơn, mạnh mẽ hơn, nhân văn hơn con người ta sẽ gục ngã. Khi đó người ta sẽ hoặc là trụy lạc hoặc là tự kết thúc cuộc đời mình. Đấy là lý do khi cô đơn cùng cực, thất vọng cùng cực hay trong cảnh khốn cùng, chúng ta đừng quên lấy cuốn sách mình thích đọc nhất ra đọc lại hay tìm đọc cuốn sách nào đó do những người đã ở tận cùng của khổ đau viết lại.

 

Ở Nhật, trong trại tạm giam nọ tôi đã thấy dưới tấm biển viết dòng chữ thư pháp “Là người không thể tránh khỏi sai lầm nhưng không để sai lầm lặp lại mới chính là con người” là giá sách. Trong không gian bị tước đoạt tự do và phải đối diện với chính mình, với những gì mình đã làm, với lương tâm pháp luật-nơi thời gian trôi qua thật chậm (một ngày ở tù bằng thiên thu ở ngoài)-con người như một lẽ tự nhiên sẽ đọc sách. Và có lẽ, nhiều người đã tìm lại chính mình thông qua việc đối diện với nỗi buồn, nỗi cơ đơn và cả sự tuyệt vọng vô cùng trong những giờ phút ấy.
Bản thân tôi, mỗi lúc cô đơn hay chán nản, tôi lại đọc cuốn sách mình thích nhất hay tìm đọc những cuốn mà người khác đã viết ra trong nỗi cô đơn khôn cùng của họ. Và khi làm như thế khi gấp sách lại tôi thấy mình như được gột rửa và giải thoát.

 

Hà Nội, ngày 14. 12. 2018
Nguyễn Quốc Vương 

Advertisements

Thư viện trường học ở Nhật Bản và vai trò của nó đối với giáo dục.

January 26, 2018 Leave a comment

 

 

 

 

Nguyễn Quốc Vương

(Công ty cổ phần xuất bản và giáo dục Quảng Văn)

Bài này đã đăng trong kỉ yếu “Tọa đàm phát triển văn hóa đọc tron nhà trường” do Vụ Thư viện, Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch tổ chức tại Hà Nội ngày 26/1/2018. Tại hội thảo, tôi (NQV) được ban lãnh đạo Công ty cổ phần xuất bản và giáo dục Quảng Văn trình bày tóm tắt nội dung bài viết này.

 

 

Thư viện trường học ở Nhật Bản và vai trò của nó đối với giáo dục. Nguyễn Quốc Vương

(Công ty cổ phần xuất bản và giáo dục Quảng Văn)

 

 

Dẫn Nhập

 

Trong những năm gần đây, văn hóa đọc ở Việt Nam được chú ý trở lại ở cả phía nhà nước và người dân. Mối quan hệ gắn bó giữa sự phát triển của văn hóa đọc và sự phát triển văn minh của quốc gia là sự thật khó chối cãi. Tuy nhiên, làm thế nào để phát triển văn hóa đọc trong điều kiện cụ thể của Việt Nam là điều không dễ. Trên thực tế, ngay cả trường học-nơi lẽ ra hoạt động đọc sách phải là hoạt động trung tâm trong sinh hoạt thường ngày, vẫn tồn tại tình trạng giáo viên và học sinh không đọc gì ngoài sách giáo khoa, sách tham khảo ôn thi và sách bài tập. Thư viện lẽ ra phải là “trái tim” của trường học thì trong nhiều trường hợp lại chỉ đóng vai trò là một thứ “bình hoa trang trí” cho đủ thành phần hoặc trở thành phương tiện để “có thành tích thi đua”. Thư viện của nhiều trường, tuy có sách và mở cửa phục vụ học sinh, giáo viên nhưng nó vẫn chưa thực sự tạo ra sức hấp dẫn. Tình trạng trên có thể thấy ở khắp các địa phương trên cả nước kể cả ở các thành phố lớn.

Vậy thì, làm thế nào để xây dựng được các thư viện trường học tốt và biến nơi đây thành “trái tim của trường học”? Trong khi tiến hành công việc này, dù là ở vĩ mô hay vi mô, bài học kinh nghiệm của nước ngoài sẽ là tham khảo hữu ích cho tất cả chúng ta. Với tinh thần ấy, ở đây, trong bài viết này trên cơ sở điểm qua tình hình văn hóa đọc ở Nhật Bản với cả hai mảng “sáng” và “tối” trong những năm gần đây và các chính sách phát triển văn hóa đọc của chính phủ Nhật, tôi sẽ khái quát vai trò, vị trí của thư viện trường học Nhật Bản hiện tại đối với giáo dục cũng như các chính sách, biện pháp người Nhật đang thực hiện để phát triển mạng lưới thư viện này.

 

 

  1. Tình hình văn hóa đọc ở Nhật Bản trong những năm gần đây

1.1. Những mảng “sáng”

Trên thế giới, Nhật Bản từ lâu đã được biết đến là quốc gia có văn hóa đọc phát triển cao. Số liệu thống kê cho biết ngay từ thời trung đại, tỉ lệ người  dân biết đọc, biết viết ở Nhật đã rất cao (ngay trước thời điểm diễn ra cuộc Duy tân Minh Trị tỉ lệ người Nhật biết đọc, biết viết đã ở mức 40-50%). Tỉ lệ người Nhật biết đọc, biết viết hiện nay là khoảng 99%. Ngành xuất bản ở Nhật cũng phát triển mạnh từ sớm. Từ thời Edo (1603-1867), ngành xuất bản đã phát triển thành ngành “công nghiệp” sản xuất hàng hóa khi in sách với số lượng lớn và bán ra phục vụ đại chúng. Chính vì vậy mà công cuộc “khai hóa văn minh” đã diễn ra thuận lợi giúp cho cải cách Minh Trị sớm thành công. Ngành xuất bản sớm trưởng thành đã giúp cho các cuốn sách được in ra tiếp cận với đông đảo độc giả trong đó có giới bình dân. Những cuốn sách của Fukuzawa Yukichi (1835-1901), người được mệnh danh là “Voltaire của Nhật Bản”, như “Khuyến học”, “Tây Dương sự tình”…ngay khi xuất bản đã bán được cả triệu bản mà vẫn không đáp ứng được hết nhu cầu của bạn đọc đương thời. Hiện tại cho dù có gặp khó khăn, ngành xuất bản Nhật vẫn đạt được thành tựu với những con số rất ấn tượng. Theo “Niên báo chỉ số xuất bản 2009” (Viện nghiên cứu khoa học xuất bản) thì số lượng đầu sách mới được xuất bản năm 2007 ở Nhật Bản là 77.417 đầu sách. Hiện nay tính trung bình mỗi ngày có 200 cuốn sách mới được xuất bản. Số lượng nhà xuất bản hiện nay là 4311 (theo Niên giám xuất bản năm 2005).

1.2. Những mảng “tối”

Cho dù vẫn duy trì được danh tiếng, trên thực tế, số liệu thống kê thu được từ các cuộc điều tra gần đây cho thấy, xu hướng “xa rời việc đọc sách” ở người dân Nhật đã xuất hiện và lượng sách đọc đang giảm dần.

Chẳng hạn báo Sankei (bản diện tử) ngày 11 tháng 10 năm 2014 đã dẫn số liệu kết quả điều tra của Vụ văn hóa Nhật Bản về tình hình đọc sách ở Nhật Bản. Đây là cuộc điều tra có tên “Điều tra dư luận liên quan đến quốc ngữ” do Vụ văn hóa tiến hành bằng bảng hỏi với 3000 người bao gồm cả nam và nữ vào tháng 3 năm 2014. Theo đó, có đến 65.1% số người được hỏi cho rằng “lượng sách đọc” của người Nhật đang giảm đi. Cụ thể hơn, số người trả lời có đọc “1, 2 cuốn”/tháng là 34, 5%, “3-4 cuốn” là 10, 9%, “5-6 cuốn”là 3, 4%, “7 cuốn” là 3, 6%. Số người trả lời “không đọc” chiếm tỉ lệ lớn nhất (47, 5%). Bài báo cũng cho biết so với cuộc điều tra được tiến hành vào năm 2009 thì tỉ lệ số người trả lời “không đọc” một cuốn nào đã tăng 1, 4% và so với cuộc điều tra năm 2002 thì tăng tới gần 10%.

Cuộc điều tra cũng làm rõ lý do tại sao người dân không đọc sách. Trong các lý do này thì lý do chiếm tỉ lệ lớn nhất là “không có thời gian đọc vì công việc và việc học tập bận rộn” (51.3%), tiếp đến là lý do hạn chế về “sức khỏe thị lực” (34.4%), “thiết bị thông tin (máy tính, điện thoại…) lấy mất thời gian” (26, 3%), “tivi có sức hấp dẫn hơn” (21.8%). Đáng chú ý là trong các lý do này thì lý do liên quan đến thiết bị thông tin tăng 5% so với kết quả của cuộc điều tra năm 2009.

Hiệp hội thư viện trường học toàn quốc ở Nhật Bản cũng tiến hành một cuộc điều tra độc lập vào năm 2012 và kết quả của cuộc điều tra này cho biết tỉ lệ trẻ em không đọc một cuốn sách nào trong một tháng trước khi điều tra ở các bậc học như tiểu học, trung học cơ sở và trung họ phổ thông lần lượt là:  4, 5% , 16, 4%  và  53, 2%.

Bình luận về tình trạng nói trên, báo Sankei dẫn lời Giáo sư Tanaka Yukari (Đại học Nhật Bản): “Không chỉ người Nhật, những năm gần đây do sự phổ cập của Internet xu hướng thu nhận những thông tin nhỏ trong thời gian ngắn đã trở nên phổ biến. Mặt khác, những ấn phẩm in trên giấy như tiểu thuyết lại yêu cầu phải đọc các câu văn được trau chuốt trong một khoảng thời gian dài và nó đã trở nên không thích hợp với cảm tính của người hiện đại luôn muốn có kết luận nhanh chóng. Sự suy giảm lượng sách đọc ở ý nghĩa nào đó có khi cũng có thể coi là sự tất yếu của thời đại”. Ở một góc độ khác giáo sư Fujii Hidetada thuộc đại học Rikkyo lại cảnh báo về sự suy yếu của văn học Nhật Bản khi ông chỉ ra một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng người dân “xa rời việc đọc sách”: “Từ phục hưng hậu chiến cho tới thời kì kinh tế tăng trưởng cao độ là thời kì mà các danh tác, các tác phẩm cổ kim đông tây có thể làm cho quốc dân có thêm dũng khí bùng nổ và được đọc ngấu nghiến. Tuy nhiên ngày nay các sách có tính giải trí chiếm vị trí trung tâm và bản thân tác phẩm nếu là tiểu thuyết thì đa phần cũng là thứ triển khai mạch chuyện và lấy sự thú vị làm trọng tâm. Tình hình đó cũng có thể trở thành nguyên nhân làm cho người đọc xa rời việc đọc sách”.

Hiện thực trên đã đặt chính phủ và người dân Nhật Bản trước những thử thách mới. Vì vậy, cả chính phủ và người dân Nhật đã hợp tác cùng nhau để tiến hành các chính sách khuyến đọc ở cả phạm vi vi mô và vĩ mô trong đó hoạt động trong trường học đóng vai trò trọng tâm.

  1. Chính sách khuyến đọc ở Nhật Bản

Dựa trên số liệu điều tra và các kết quả nghiên cứu, chính phủ Nhật Bản đã tích cực tiến hành các biện pháp khuyến đọc ở cấp độ vĩ mô. Dưới đây sẽ liệt kê một vài biện pháp, chính sách vĩ mô chủ yếu có tác động lớn.

Thứ nhất, Quốc hội Nhật Bản đã soạn thảo và ban hành “Luật khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em” (Bộ luật được công bố và có hiệu lực thi hành từ 12/12/2001). Bộ luật này ngoài phần phụ lục có 11 điều quy định về các nội dung sau: “Mục đích” (Điều 1), “Triết lý cơ bản” (Điều 2) , “Nghĩa vụ của nhà nước” (Điều 3), “Nghĩa vụ của chính quyền địa phương” (Điều 4), “Nỗ lực của những người thực hiện sự nghiệp” (Điều 5, 6), “Tăng cường liên kết với các cơ quan có liên quan” (Điều 7), “Kế hoạch cơ bản khuyến khích hoạt động trẻ em” (Điều 8), “Kế hoạch khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em ở các đô, đạo, phủ, tỉnh” (Điều 9), “Ngày đọc sách của trẻ em” (Điều 10), “Các biện pháp trên phương diện tài chính” (Điều 11).

Thứ hai, năm 2005 Quốc hội Nhật Bản lại soạn thảo và thông qua “Luật chấn hưng văn hóa đọc” (Bộ luật số 91 ban hành ngày 27 tháng 7 năm 2005). Bộ luật này ngoài phần phụ lục có 12 điều quy định về : “Mục đích” (Điều 1), “Định nghĩa” (Điều 2) , “Triết lý cơ bản” (Điều 3), “Trách nhiệm và nghĩa vụ của nhà nước” (Điều 4), “Trách nhiệm và nghĩa vụ của chính quyền địa phương” (Điều 5), “Tăng cường liên kết với các cơ quan có liên quan” (Điều 6), “Chấn hưng văn hóa đọc ở địa phương” (Điều 7), “Giáo dục năng lực ngôn ngữ trong giáo dục trường học” (Điều 8), “Giao lưu quốc tế về văn hóa đọc” (Điều 9), “Phổ cập các xuất bản phẩm học thuật” (Điều 10), “Ngày văn hóa đọc” (Điều 11), “Các biện pháp ở phương diện tài chính” (Điều 12)[1].

Thứ ba, chính phủ Nhật Bản (Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ) đã xây dựng được “Kế hoạch cơ bản xúc tiến hoạt động đọc sách của trẻ em” ở tầm quốc gia. Kế hoạch lần 1 được đưa ra năm 2002 ngay sau khi “Luật khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em” được ban hành. Kế hoạch lần 2 được đưa ra năm 2008 và kế hoạch lần thứ ba được công bố vào năm 2013 (5 năm một lần). Đây là kế hoạch vĩ mô ở đó sau khi phân tích hiện trạng, các kết quả đã đạt được, những vấn đề, thách thức đang đặt ra, chính phủ Nhật Bản sẽ đưa ra những mục tiêu và biện pháp có tính chiến lược. Xin trích ra dưới đây, những mục lớn trong “Kế hoạch cơ bản xúc tiến hoạt động đọc sách của trẻ em năm 2013” của chính phủ Nhật (tài liệu dài 27 trang gồm 5 chương):
Chương 1. Dẫn nhập

Chương 2. Các biện pháp được tiến hành trong thời kì thực hiện kế hoạch cơ bản lần thứ hai và các vấn đề đặt ra.

  1. Các biện pháp đã thực hiện và thành quả trong thời kì thực hiện kế hoạch cơ bản lần thứ hai.
  2. Các vấn đề đặt ra trong thời kì thực hiện kế hoạch cơ bản lần thứ hai.
  3. Sự thay đổi tình hình liên quan đến hoạt động đọc sách của trẻ em sau khi xây dựng kế hoạch cơ bản lần thứ hai.

Chương 3. Phương châm cơ bản

  1. Các biện pháp tiến hành trong toàn thể xã hội thông qua gia đình, địa phương, trường học.
  2. Xây dựng môi trường làm bệ đỡ cho hoạt động đọc sách của trẻ em.
  3. Phổ cập ý nghĩa liên quan tới hoạt động đọc sách của trẻ em.

Chương 4. Các nội dung cần thiết để xúc tiến có hiệu quả hoạt động đọc sách của trẻ em.

  1. Thế chế khuyến khích
  2. Các biện pháp ở phương diện tài chính

Chương 5. Các biện pháp xúc tiến hoạt động đọc sách của trẻ em

  1. Xúc tiến hoạt động đọc sách của trẻ em trong gia đình
  2. Xúc tiến hoạt động đọc sách của trẻ em ở địa phương
  3. Xúc tiến hoạt động đọc sách của trẻ em ở trường học
  4. Trợ giúp các hoạt động của các đoàn thể dân sự
  5. Hoạt động khai sáng phổ cập

Dựa trên các bộ luật liên quan đến văn hóa đọc và các chính sách vĩ mô trên, chính phủ Nhật Bản, các cơ quan có liên quan, chính quyền địa phương và người dân Nhật Bản đã hợp tác, tiến hành các hoạt động phong phú để chấn hưng văn hóa đọc, đặc biệt là khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em trong nhà trường thông qua thư viện trường học.

 

  1. Vị trí, vai trò, chức năng của thư viện trường học Nhật Bản và các biện pháp đang được thực thi nhằm phát triển văn hóa đọc trong nhà trường.

3.1. Hiện trạng của thư viện và thư viện trường học

Theo số liệu được công bố trong “Kế hoạch cơ bản xúc tiến hoạt động đọc sách của trẻ em năm 2013” (Kế hoạch lần thứ 3) số lượng thư viện nói chung ở Nhật Bản vẫn tiếp tục tăng và đạt mức cao nhất từ trước đến nay ở thời điểm 2011: 3.165 (năm 2008), 3.274 (năm 2011). Năm 2008 có 1938 thư viện có phòng đọc dành riêng cho trẻ em, đến năm 2011 con số này tăng lên 2059 thư viện.

Cũng theo tài liệu này, số sách mà trẻ em Nhật mượn từ các thư viện trong một năm vẫn tiếp tục tăng: 134.200.000 cuốn (năm 2007), 179.560.000 cuốn (năm 2010).

Ở các trường học, tỉ lệ các trường tiến hành giờ đọc sách đồng loạt cho tất cả các học sinh tăng mạnh đặc biệt là hoạt động đọc sách diễn ra vào buổi sáng. Theo đó, năm 2012 có 96, 4% các trường tiểu học, 88.2% các trường trung học cơ sở, 40, 8% các trường trung học phổ thông tiến hành hoạt động này.

Hiện trạng của thư viện trường học Nhật Bản được phản ánh rõ nhất qua kết quả cuộc điều tra do Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ tiến hành có tên “Điều tra hiện trạng thư viện trường học” năm 2016. Đây là cuộc điều tra được tiến hành định kì 2 năm một lần, bắt đầu từ năm 2008 trở đi về tình hình toàn diện của các thư viện trường học như tình hình bố trí thủ thư, giáo viên làm công tác thư viện, điều kiện cơ sở vật chất của thư viện, tình hình tiến hành các hoạt động đọc sách…Đối tượng của cuộc điều tra là các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, trường giáo dục đặc biệt, các trường liên cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông thuộc giáo dục nghĩa vụ. Cuộc điều tra này được tiến hành thông qua các Ủy ban giáo dục ở các địa phương (đô, đạo, phủ, tỉnh). Nhìn tổng thể, kết quả điều tra cho biết:

– Tỉ lệ trường học có thủ thư : tiểu học (59,2%), trung học cơ sở (58, 2%), trung học phổ thông (66, 6%), tăng hơn so với kết quả điều tra trước đó.

– Tỉ lệ trường học có thư viện đạt chuẩn : tiểu học (66,4%), trung học cơ sở (55, 3%), có tăng so với các cuộc điều tra trước đó nhưng vẫn còn thấp.

– Tỉ lệ trường học có báo ở thư viện: Tiểu học (41.1%), trung học cơ sở (37.7%), trung học phổ thông (91%).

Xin trích ra ở đây một vài số liệu điều tra cụ thể để tham khảo.

 Bảng 1, 2, 3. Tình hình bố trí thủ thư ở các trường học

          (Con số trong ngoặc đơn là số liệu của cuộc điều tra trước)

 

Trường tiểu học Số trường có bố trí thủ thư Tỉ lệ phần trăm so với toàn thể
Quốc lập 42 trường (40 trường) 58,3% (55.6%)
Công lập 11.644 trường (10.978 trường) 59,3% (54.5%)
Tư thục 115 trường (91 trường) 51.3% (41.9%)
Tổng 11.803 trường
(11.109 trường)
59, 2% (54.4%)

 

 

Trường trung học cơ sở Số trường có bố trí thủ thư Tỉ lệ phần trăm so với toàn thể.
Quốc lập 40 (40) 54.8% (54.8%)
Công lập 5.408 trường (5.051) 57.3% (52.8%)
Tư thục 521 (416) 70.4% (56.1%)
Tổng 5.969 (5507) 58,2% (53.1%)

 

 

Trường trung học phổ thông Số trường có bố trí thủ thư Tỉ lệ phần trăm so với toàn thể
Quốc lập 13 (14) 76.5% (82.4%)
Công lập 2349 (2371) 66.9% (66.5%)
Tư thục 915 (816) 66.4% (59.7%)
Tổng 3279 (3201) 66.6% (64.4%)

 

Bảng 4. Tình hình cơ sở vật chất của thư viện và sách

 

  Số trường có bố trí thư viện Số lượng sách có trong thư viện tính đến cuối năm 2015 Tỉ lệ số trường đạt tiêu chuẩn thư viện tính đến cuối năm 2015
Trường tiểu học 19.604 174.870.000 (174.020.000) 66.4% (60.3%)
Trung học cơ sở 9.427 101. 670.000 (99. 750.000) 55.3% (50%)
Trung học phổ thông 3.509 80.349.000 (84. 790.000) Không có dữ liệu

 

 

   Bảng 5. Tình hình đọc sách

 

  Tình hình tiến hành hoạt động đọc sách tập thể (đồng loạt) toàn trường Tỉ lệ những trường thực hiện hoạt động đọc sách trước giờ học buổi sáng  
  Số trường thực hiện (A) Tỉ lệ phấn trăm so với tổng thể Số trường học thực hiện  (B) Tỉ lệ phần trăm

(B/A)

Tiểu học 19.038 97.1% (96.8%) 13.035 68.5% (71.3%)
Trung học cơ sở 8.341 88.5% (88.5%) 6.062 72.7% (73.4%)
Trung học phổ thông 1499 42.7% (42.9%) 947 63.2% (66.5%)

 

Căn cứ vào các bảng số liệu trên ta thấy, nước Nhật hiện tại có một hệ thống thư viện trường học khổng lồ và đang tăng trưởng, ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của học sinh, giáo viên ở trường học. Hoạt động đọc sách-hoạt động đặc trưng nhất diễn ra ở thư viện, thể hiện vai trò số một của thư viện đã được tiến hành rộng rãi ở các trường học và trở thành một thói quen sinh hoạt. Tuy nhiên, cũng từ bảng số liệu chúng ta thấy, ngay cả nước Nhật cũng chưa đạt được mục tiêu 100% ở nhiều hạng mục liên quan đến thư viện trên phạm vi toàn quốc. Hiện trạng này đặt ra cho các thư viện trường học Nhật Bản nhiều thách thức trong thế kỉ 21. Trong đó thách thức lớn nhất là thiếu thốn về cơ sở vật chất. Có thể thấy rõ điều này qua số liệu các thư viện chưa đạt chuẩn  theo quyết định của Vụ trưởng vụ giáo dục tiểu học và trung học (Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ) ban hành ngày 29 tháng 3 năm 1993. Tính đến năm 2012 mới chỉ có 56, 8% thư viện trường tiểu học, 47, 5% thư viện trường trung họ cơ sở đạt chuẩn, nghĩa là tính chung mới xấp xỉ đạt trên dưới 50%.

 

3.2. Vị trí, vai trò của thư viện trường học ở Nhật Bản

Triết lý giáo dục của giáo dục Nhật Bản sau 1945 là tạo ra những người công dân có tri thức, phẩm chất, năng lực phù hợp với xã hội hòa bình, dân chủ và tôn trọng con người vì vậy, trong các bộ luật giáo dục và các văn bản chỉ đạo của Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ vị trí-vai trò của thư viện, nơi được coi là “trái tim” kết nối và tạo ra xúc tác cho các hoạt động giáo dục tại trường học đều được nhấn mạnh. Trong Luật giáo dục trường học (ban hành năm 1947, sửa đổi năm 2007) ở điều 2 (thuộc “Chương 2. Trường tiểu học”) ghi rõ : “Trường tiểu học phải sử dụng các sách giáo khoa đã được Cục kiểm định thông qua hoặc chứng nhận hay các sách giáo khoa do cục này nắm giữ bản quyền. Trường tiểu học cũng có thể sử dụng các sách và giáo tài khác ngoài các sách giáo khoa nói trên nếu như chúng phù hợp và có ích” . Như vậy, luật cho phép sử dụng các sách, tài liệu ngoài sách giáo khoa và quy định này gián tiếp khẳng định vị trí quan trọng của thư viện trường học. Ngoài ra, cũng trong bộ luật này, điều 21 mục 5 nhấn mạnh: “Làm cho hoc sinh quen với việc đọc sách, lý giải đúng đắn quốc ngữ cần thiết cho đời sống, giáo dục năng lực cơ bản sử dụng nó”.

Trực tiếp, và rõ ràng hơn, điều 1 “Luật thư viện trường học” xác định “Thư viện trường học là công trình cơ bản không thể thiếu trong giáo dục trường học và nó có mục đích hướng tới sự phát triển lành mạnh, làm phong phú giáo dục trường học”. Điều 3 bộ luật này cũng ghi rõ “Trường học phải có thư viện”.

Như vậy, có thể thấy, các cơ sở giáo dục không có thư viện đạt tiêu chuẩn theo quy định của luật sẽ gặp khó khăn trong việc được công nhận là trường học. Các bản Hướng dẫn học tập, văn bản quy định nội dung chương trình, phương pháp hướng dẫn học tập của Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ dành cho tất cả các trường phổ thông trên toàn quốc cũng luôn nhấn mạnh vị trí của thư viện trường học. Chẳng hạn bản Hướng dẫn học tập hiện hành (ban hành năm 2008-2009) đã xác định các trường và giáo viên phải làm phong phú, đầy đủ hoạt động đọc sách cần thiết cho việc giáo dục năng lực ngôn ngữ của học sinh. Đặc biệt bản Hướng dẫn học tập dành cho bậc học mầm non (2008) đã yêu cầu các nhà trẻ, trường mầm non phải tích cực, chủ động tạo ra môi trường và các điều kiện cần thiết khác để làm cho trẻ làm quen với các sách ehon (sách tranh) và các câu chuyện kể.

Vai trò, chức năng của trường học được thể hiện trong quan điểm coi thư viện trường học có hai chức năng chủ yếu. Chức năng thứ nhất là trở thành “Trung tâm đọc sách” của học sinh và chức năng thứ hai là đóng vai trò như “Trung tâm thông tin-học tập” của học sinh.

Nhìn một cách cụ thể hơn, vai trò-chức năng của thư viện trường học được thể hiện rõ trong các hoạt động nghiệp vụ chủ yếu được quy định trong Luật thư viện trường học (Điều 4) như sau:

  1. Sưu tầm tư liệu thư viện, phục vụ việc sử dụng của học sinh và giáo viên.
  2. Hợp lý hóa sự phân loại, trưng bày tư liệu thư viện và xây dựng mục lục.
  3. Tiến hành các buổi đọc sách, các hội nghiên cứu, buổi chiếu phim, buổi triển lãm tư liệu…
  4. Hướng dẫn học sinh sử dụng tư liệu thư viện và sử dụng các thư viện trường học khác.
  5. Liên lạc mật thiết và hợp tác với các thư viện trường học, thư viện khác, với bảo tàng, nhà công dân (kominkan)…
  6. Thư viện trường học có thể được sử dụng phục vụ công chúng nói chung trong giới hạn việc đó không gây trở ngại cho việc đạt được mục đích nói trên.

Như vậy có thể thấy, thư viện trường học không chỉ là nơi diễn ra các hoạt động học tập, giải trí, giao lưu của học sinh trong trường mà còn là điểm kết nối giữa nhà trường với địa phương và cộng đồng dân cư ở địa phương.

3.3. Các biện pháp đang được tiến hành nhằm phát huy vị trí, vai trò và chức năng của thư viện trường học.

Thứ nhất, chính phủ, các địa phương, trường học và ban ngành liên quan ở Nhật đang đẩy mạnh việc bổ sung, hoàn thiện các văn bản pháp lý cũng như các chính sách, kế hoạch nhằm chấn hưng văn hóa đọc và làm phong phú hệ thống thư viện. Đó là sự ra đời của Luật thư viện, Luật chấn hưng văn hóa đọc, Luật khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em…Đặc biệt cứ 5 năm một lần chính phủ Nhật Bản sẽ ban hành “Kế hoạch cơ bản xúc tiến hoạt động đọc sách của trẻ em” và dựa trên cơ sở đó các địa phương sẽ có kế hoạch cụ thể của riêng mình. Các trường, các thư viện trường học cũng sẽ có chương trình kế hoạch cụ thể riêng phù hợp với tình hình thực tế.

Thứ hai, bản Hướng dẫn học tập đã được sửa đổi và sẽ tiếp tục được sửa đổi trong thời gian ngắn sắp tới theo hướng nhấn mạnh giáo dục “năng lực sống” (năng lực tự phát hiện vấn đề, tự học, tự suy nghĩ, giải quyết vấn đề). Ở đó, để có được năng lực sống, học sinh phải biết thu thập và xử lý thông tin một cách tự chủ bằng tư duy phê phán do đó, hoạt động đọc sách, khai thác thư viện trở thành hoạt động rất quan trọng.

Thứ ba, chính phủ và người dân hợp tác thực hiện việc tăng cường xây dựng, làm phong phú các thư viện trường học và tăng cường, đào tạo, bồi dưỡng thủ thư; trích tiền thuế thu được ở các địa phương để đảm bảo công tác bố trí thủ thư ở các thư viện công lập (bao gồm thư viện ở các trường công lập) nhằm tạo ra môi trường đọc sách ngày một phong phú và tốt hơn.

Thứ tư, đẩy mạnh hợp tác giữa thư viện trường học và các thư viện khác để biến thư viện trường học thành nơi thân thiết, gần gũi đối với học sinh, cung cấp ngày một nhiều hơn các cơ hội hấp dẫn, phong phú để học sinh có được hoạt động đọc sách có chất lượng cao.

Thứ năm, xúc tiến, đẩy mạnh, khuyến khích các hoạt động đọc sách tại trường học. Ở bậc học mầm non, dựa trên phương châm giáo dục được đề ra trong bản Hướng dẫn học tập (2008), các trường sẽ tích cực tiến hành các hoạt động làm cho học sinh quen với ehon, các câu chuyện kể đồn thời tạo ra các cơ hội cho học sinh tiểu học và phụ huynh, tình nguyện viên tới đây giao lưu, đọc sách cho trẻ em nghe. Đối với trường trung học cơ sở và trung học phổ thông, nhà trường sẽ hỗ trợ thích hợp để tạo ra môi trường ở đó học sinh có thể vui thú tự do với việc đọc sách. Các nỗ lực này là nhằm đáp ứng yêu cầu được đặt ra trong bản Hướng dẫn học tập khi nó đặt ra yêu cầu giáo viên, nhà trường thông qua việc hướng dẫn học sinh học tập các môn giáo khoa phải làm phong phú, đầy đủ các hoạt động ngôn ngữ như ghi chép, thuyết minh, bình luận, viết luận, thảo luận từ đó trợ giúp hoạt động đọc sách của học sinh, làm phong phúvà nâng cao chất lượng của nó.

Thứ sáu, phối hợp nhiều ban ngành, lực lượng, tổ chức trong đó hạt nhân là thư viện trường học để hình thành cho học sinh thói quen đọc sách. Gia đình, địa phương, trường học phải phối hợp chặt chẽ để làm cho học sinh có thói quen đọc sách suốt đời từng bước một thông qua các giai đoạn như mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông. Các trường học  ở Nhật hiện đang tiến hành các biện pháp cụ thể ví dụ như thực hiện hoạt động đọc sách đồng loạt, giờ đọc sách, các thư viện có góc “Giới thiệu sách”, đặt ra mục tiêu đọc sách (bao nhiêu cuốn) đối với học sinh trong năm và cho tới trước khi tốt nghiệp.

 

Thứ bảy, xúc tiến mạnh hoạt động đọc sách của trẻ em khuyết tật bằng cách tạo ra môi trường và lựa chọn sách phù hợp với tình trạng khuyết tật của trẻ em để trẻ em có thể trải nghiệm hoạt động đọc sách phong phú. Các trường cần tạo điều kiện để học sinh khuyết tật có thể sử dụng các thiết bị trợ giúp và nhận sự giúp đỡ của các tình nguyện viên để có thể đọc sách , đồng thời sử dụng dữ liệu của các thư viện chữ nổi của các trường đặc biệt phục vụ cho học sinh khuyết tật thị giác.

 

Kết luận

 

Nhờ di sản truyền thống, sự khai sáng từ thời Minh Trị và nỗ lực dân chủ hóa thời hậu chiến, nước Nhật đã có một nền tảng văn hóa đọc vững chắc xét ở cả trên phương diện vĩ mô và vi mô, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, già hóa dân số và sự biến đổi nhanh chóng của xã hội thông tin hóa thời hậu công nghiệp đã làm cho văn hóa đọc ở Nhật Bản có dấu hiệu sa sút. Trước tình hình đó, dựa trên các nghiên cứu thực chứng và điều tra cụ thể, chính phủ Nhật Bản đã nhận thức rõ nguy cơ và đề ra, thực thi các chính sách ở nhiều cấp độ khác nhau nhằm phục hưng văn hóa đọc. Thư viện, đặc biệt là thư viện trường học, đã được xác định là hệ thống có vị trí, vai trò quan trọng đặc biệt trong việc chấn hưng văn hóa đọc của quốc dân và hình thành thói quen đọc sách của trẻ em. Với hai chức năng cơ bản là “trung tâm đọc sách” và “trung tâm thông tin-học tập” của trẻ em, thư viện trở thành “trái tim” kết nối học sinh với giáo viên, nhà trường, xã hội địa phương. Chính vì vậy, làm phong phú, đầy đủ và phát huy tối đa chức năng của thư viện trường học ở Nhật Bản cũng chính là quá trình tiến hành cải cách giáo dục để giáo dục nên những người công dân có “năng lực sống” (năng lực phát hiện vấn đề, tự tìm kiếm thông tin, tự học để giải quyết vấn đề). Những chính sách, biện pháp của Nhật Bản trong cuộc cải cách nói trên ở góc độ nào đó sẽ là sự tham khảo hữu ích cho Việt Nam hiện nay.

 

 

 

Tài liệu tham khảo

 

1.Hướng dẫn học tập, 学習指導要領(文部省、2008-2009)

  1. Kế hoạch cơ bản xúc tiến hoạt động đọc sách của trẻ em, 子どもの読書活動の推進に関する基本的な計画 (文部省、2002, 2008, 2013)
  2. Niên báo chỉ số xuất bản, 出版指標年報(出版科学研究所 刊, 出版科学研究所, 2009)

4. Niên giám xuất bản, 出版年鑑〈2005〉  (出版年鑑編集部, 2005)

5. Báo Sankei (bản điện tử):

http://www.sankei.com/premium/news/141011/prm1410110018-n1.html

 

Phụ Lục

 

Phụ lục 1. Luật thư viện trường học
(Bộ luật này được công bố và có hiêu lực lần đầu này 1/4/1953, được sửa đổi lần cuối ngày 24/6/2016)

(Mục đích của bộ luật)

Điều 1. Bộ luật này coi thư viện trường học là công trình cơ bản không thể thiếu trong giáo dục trường học và nó có mục đích hướng tới sự phát triển lành mạnh, làm phong phú giáo dục trường học.

(Định nghĩa)

Điều 2. “Thư viện trường học” trong bộ luật này là công trình được thiết lập trong trường tiểu học (bao gồm cả khóa trình tiền kì của trường giáo dục nghĩa vụ và bộ phận tiểu học trong các trường giáo dục đặc biệt), trường trung học cơ sở (bao gồm cả khóa trình hậu kì của trường học giáo dục nghĩa vụ và bộ phận trung học cơ sở trong các trường giáo dục đặc biệt hay khóa trình tiền kì của trường giáo dục trung học), trung học phổ thông (bao gồm cả khóa trình hậu kì của trường giáo dục trung học và bộ phận trung học phổ thông của trường giáo dục đặc biệt) (từ dưới đây sẽ gọi là “trường học”), có mục đích sưu tầm sách, tư liệu giáo dục nghe, nhìn và các tư liệu cần thiết cho giáo dục khác (từ dưới đây sẽ gọi là “tư liệu thư viện), chỉnh lý, bảo tồn, đóng góp cho sự triển khai khóa trình giáo dục trường học thông qua việc cung cấp phục vụ nhu cầu sử dụng của học sinh, giáo viên đồng thời giáo dục văn hóa lành mạnh cho trẻ em, học sinh.

(nghĩa vụ thiết lập)

Điều 3. Trường học phải có thư viện.

(Điều hành thư viện trường học)

Điều 4. Trường học có thư viện phục vụ nhu cầu sử dụng của học sinh và giáo viên thông qua các phương pháp chủ yếu như dưới đây.

  1. Sưu tầm tư liệu thư viện, phục vụ việc sử dụng của trẻ em, học sinh và giáo viên.
  2. Hợp lý hóa sự phân loại, trưng bày tư liệu thư viện và xây dựng mục lục.
  3. Tiến hành các buổi đọc sách, các hội nghiên cứu, buổi chiếu phim, buổi triển lãm tư liệu
  4. Hướng dẫn trẻ em, học sinh sử dụng tư liệu thư viện và sử dụng các thư viện trường học khác.
  5. Liên lạc mật thiết và hợp tác với các thư viện trường học, thư viện khác, với bảo tàng, nhà công dân (kominkan)…
  6. Thư viện trường học có thể được sử dụng phục vụ công chúng nói chung trong giới hạn việc đó không gây trở ngại cho việc đạt được mục đích nói trên.

(Giáo viên làm công tác thư viện)

Điều 5.

  1. Trường học cần phải bố trí giáo viên làm công tác thư viện để làm công việc có tính chất chuyên môn của thư viện.
  2. Giáo viên thủ thư ở trên phải là giáo viên cốt cán (trừ giáo viên cốt cán làm công việc chỉ đạo về dinh dưỡng và quản lý), giáo viên giảng dạy (từ dưới đây sẽ gọi chung là “giáo viên cốt cán”). Trong trường hợp này các giáo viên cốt cán đều phải là người đã hoàn thành khóa học dành cho giáo viên làm công tác thư viện.
  3. Khóa học dành cho giáo viên làm công tác thư viện được quy định ở trên được các trường đại học và các cơ quan giáo dục khác tiến hành với sự ủy nhiệm của Bộ trưởng Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ.
  4. Ngoài nội dung được quy định trong điều khoản trên, những nội dung cần thiết khác như môn học cần phải học và số đơn vị tín chỉ sẽ được quy định bằng chỉ thị của Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ.

(Thủ thư trường học)

Điều 6.

  1. Ngoài giáo viên làm công tác thư viện được quy định ở khoản 1 điều 5 nói trên, để cải thiện, nâng cao sự điều hành thư viện trường học và xúc tiến hơn nữa việc sử dụng thư viện trường học của học sinh, giáo viên ở trường học, cần phải cố gắng bố trí nhân viên chuyên đảm nhận công việc ở thư viện trường học (gọi là thủ thư trường học)
  2. Để nâng cao phẩm chất của thủ thư trường học, nhà nước và các đoàn thể công cộng địa phương phải nỗ lực thực hiện việc bồi dưỡng họ và các biện pháp cần thiết khác.

(Trách nhiệm của người thiết lập)

Điều 7. Người lập trường học phải xây dựng thư viện của trường và nỗ lực làm phong phú nó nhằm đạt cho được mục đích được đề ra trong bộ luật này.

(Nhiệm vụ của nhà nước)

Điều 8. Nhà nước phải nỗ lực thực hiện quy định tại khoản 2 điều 6 và các nội dung được liệt kê dưới đây nhằm xây dựng và làm phong phú thư viện trường học.

  1. Phải xây dựng được kế hoạch tổng hợp liên quan tới xây dựng, làm phong phú thư viện trường học và đào tạo giáo viên làm công tác thư viện.
  2. Đưa ra khuyến cáo và sự chỉ đạo về mặt chuyên môn, kĩ thuật liên quan đến việc thiết lập và điều hành thư viện trường học.
  3. Ngoài nội dung ở hai mục trên, nhà nước còn phải có biện pháp cần thiết để xây dựng và làm phong phú các thư viện trường học.

 

Phụ lục 2. Luật khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em

(Bộ luật này được công bố và có hiệu lực thi hành từ ngày 12 tháng 12 năm 2001)

(Mục đích)

Điều 1.Bộ luật này có mục đích xác lập triết lý cơ bản liên quan đến việc khuyến khích các hoạt động đọc sách của trẻ em, làm rõ nghĩa vụ của nhà nước và các chính quyền địa phương đồng thời bằng việc xác định các nội dung cần thiết liên quan đến khuyến khích các hoạt động đọc sách của trẻ em mà thúc đẩy có kế hoạch và có tính tổng hợp các cơ sở khuyến khích trẻ em đọc sách từ đó tạo nên sự trưởng thành khỏe mạnh của trẻ em.

(Triết lý cơ bản)

Điều 2

Hoạt động đọc sách của trẻ em (chủ yếu nói tới những người dưới 18 tuổi) phải được xúc tiến trong môi trường được xây dựng một cách tích cực để trẻ em có thể đọc sách ở mọi nơi, mọi lúc nhằm làm cho trẻ em học ngôn ngữ, mài sắc cảm tính, nâng cao năng lực thể hiện, làm phong phú năng lực sáng tạo, suy nghĩ về những gì không thể thiếu để có được năng lực sống sâu sắc hơn.
(Nghĩa vụ của nhà nước)
Điều 3
Nhà nước có nghĩa vụ ban hành và thực thi tổng hợp các chính sách liên quan đến khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em tuân theo triết lý cơ bản ở điều trên (dưới đây sẽ gọi tắt là triết lý cơ bản)
Điều 4.
Các chính quyền địa phương có nghĩa vụ ban hành và thực hiện các chính sách liên quan đến khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em tuân theo triết lý cơ bản trên, dựa trên tình hình của địa phương đồng thời liên kết với nhà nước.
(Nỗ lực của những người thực hiện sự nghiệp)
Điều 5
Những người thực hiện sự nghiệp này khi tiến hành các hoạt động phải nỗ khuyến khích các hoạt động đọc sách của trẻ em dựa trên triết lý cơ bản và cung cấp sách giúp cho sự trưởng thành khỏe mạnh của trẻ em.
Điều 6.
Cha mẹ hay người bảo hộ phải phát huy vai trò tích cực trong việc làm phong phú các cơ hội đọc sách và thói quen đọc sách của trẻ em.
(Tăng cường liên kết với các cơ quan có liên quan)
Điều 7.
Nhà nước và chính quyền địa phương phải nỗ lực tăng cường liên kết các đoàn thể dân sự với các trường học, thư viện và các cơ quan khác đồng thời xây dựng các thể chế cần thiết để các chính sách khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em được diễn ra suôn sẻ.
(Kế hoạch cơ bản khuyến khích hoạt động trẻ em)
Điều 8.

  1. Chính phủ phải thiết lập kế hoạch cơ bản khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em (từ dưới đây gọi là kế hoạch cơ bản) nhằm xúc tiến có kế hoạch và tổng hợp các chính sách liên quan tới hoạt động đọc sách của trẻ em.
    2. Chính phủ khi xây dựng kế hoạch cơ bản khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em phải thông báo kế hoạch này trước quốc hội và công bố không được chậm trễ.
    3. Quy định ở mục trước cũng được vận dụng cho sự thay đổi kế hoạch cơ bản khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em.
    (Kế hoạch khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em ở các đô, đạo, phủ, tỉnh)
    Điều 9.
    1. Các đô, đạo, phủ, tỉnh phải lấy kế hoạch cơ bản khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em làm nền tảng đồng thời dựa trên tình hình xúc tiến hoạt động đọc sách của trẻ em ở các đô, đạo, phủ, tỉnh để nỗ lực lập ra kế hoạch thực hiện chính sách liên quan đến khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em.
    2. Các thành phố, khu phố, thôn làng phải nỗ lực xây dựng kế hoạch thực hiện các chính sách liên quan tới việc khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em ở thành phố, khu phố, thôn làng đó dựa trên tình hình xúc tiến các hoạt động đọc sách của trẻ em ở đó đồng thời lấy kế hoạch cơ bản khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em làm cơ sở.
    3. Các đô, đạo, phủ, tỉnh và các thành phố, khu phố, thôn làng khi xây dựng kế hoạch khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em ở đô, đạo, phủ, tỉnh và kế hoạch khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em ở thành phố, khu phố, thôn làng phải công bố rõ các kế hoạch ấy.
    4. Quy định của mục trước được áp dụng cho cả sự thay đổi kế hoạch khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em ở đô, đạo, phủ, tỉnh và kế hoạch khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em ở các thành phố, khu phố, thôn làng.
    (Ngày đọc sách của trẻ em)
    Điều 10.
  2. Ngày trẻ em đọc sách được đặt ra nhằm làm sâu sắc mối quan tâm, sự hiểu biết của quốc dân về hoạt động đọc sách của trẻ em đồng thời nhằm nâng cao lòng mong muốn đọc sách của trẻ em.
    2. Ngày trẻ em đọc sách là ngày 23 tháng 4.
    3. Nhà nước và chính quyền địa phương phải nỗ lực thực hiện các hoạt động thích hợp với ngày đọc sách của trẻ em.

(Các biện pháp trên phương diện tài chính)
Điều 11.
1. Nhà nước và chính quyền địa phương phải nỗ lực có biện pháp tài chính và các biện pháp khác để thực hiện các chính sách liên quan đến việc khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em.
Phụ lục
Bộ luật này có hiệu lực từ ngày được công bố.
* Nghị quyết đi kèm của Ủy ban giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ thuộc hạ viện
Chính phủ khi thực thi bộ luật này cần lưu ý những điều sau:
1. Bộ luật này là thứ tạo ra chính sách và xây dựng môi trường cần thiết để khuyến khích hoạt động đọc sách tự chủ của trẻ em vì vậy cơ quan hành chính không được can thiệp bất chính.
2. Phải nỗ lực xây dựng nhanh chóng kế hoạch cơ bản khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em, phản ánh ý nguyện của dân, xác lập các chính sách liên quan đến khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em và cụ thể hóa chúng.
3. Nỗ lực xây dựng các thư viện công cộng, thư viện trường học nhằm tạo ra môi trường để trẻ em có thể thân thiện với sách và thưởng thức sách mọi lúc, mọi nơi.
4. Khi thư viện các trường học và thư viện công cộng mua sách thì phải tôn trọng tính tự chủ của các cơ quan này.
5. Phải nỗ lực cung cấp các sách giúp cho sự trưởng thành khỏe mạnh của trẻ em dựa trên sự quyết định tự chủ của những người tiến hành sự nghiệp này.
6. Đối với sự tham gia của trẻ em vào các hoạt động thích hợp với mục đích ngày đọc sách của trẻ em do nhà nước và chính quyền địa phương thực hiện thì phải tôn trọng tính tự chủ của trẻ em.

 

Phụ lục 3. Thông báo về “Kế hoạch cơ bản khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em

Ngày 9 tháng 8 năm Heisei 14 (2002)

Kính gửi

Hiệu trưởng các trường đại học quốc lập, công lập và tư thục
Hiệu trưởng các trường cao đẳng nghề quốc lập, công lập và tư thục
Hiệu trưởng trường giáo dục đặc biệt quốc lập Kurihama
Viện trưởng viện nghiên cứu chính sách giáo dục quốc gia
Hiệu trưởng đại học phát thanh truyền hình
Chủ tịch Hội chấn hưng văn hóa nghệ thuật Nhật Bản
Ủy ban giáo dục các đô, đạo, phủ, tỉnh
Thống đốc các đô, đạo, phủ, tỉnh
Giám đốc trung tâm tổng hợp thanh thiếu nhiên kỉ niệm Olympic quốc gia
Chủ tịch trung tâm thanh niên quốc gia
Chủ tịch trung tâm tự nhiên thiếu niên quốc gia
Chủ tịch trung tâm giáo dục phụ nữ quốc gia
Chủ tịch viện nghiên cứu tổng hợp giáo dục đặc biệt quốc gia
Chủ tịch trung tâm bồi dưỡng giáo viên
Giám đốc bảo tàng khoa học quốc gia
Giám đốc bảo tàng quốc gia
Giám đốc bảo tàng mĩ thuật quốc gia
Viện trưởng viện nghiên cứu quốc ngữ quốc gia
Vụ trưởng vụ thể thao-thanh niên bộ giáo dục, văn hóa, thể thao khoa học và công nghệ Endo Enichiro
Vụ trưởng vụ chính sách học tập suốt đời bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ Kondo Shinji
Vụ trưởng vụ giáo dục tiểu học và trung học cơ sở bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ Yano Shigenori

Lần này, thành viên nội các chính phủ đã đưa ra quyết nghị về “Kế hoạch cơ bản khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em” (từ dưới đây gọi là “kế hoạch cơ bản”) vào ngày 2 tháng 8 năm 2002 có nội dung được đính kèm dưới đây, dựa trên quy định của điều 8 “Luật khuyến khích các hoạt động đọc sách của trẻ em” (Bộ luật số 154 năm 2001).

Kế hoạch cơ bản này là thứ được chính phủ lập ra nhằm nỗ lực xúc tiến một cách có kế hoạch và tổng hợp các chính sách khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em vì thế nó thể hiện phương hướng cơ bản của các chính sách và biện pháp cụ thể trong 5 năm tính từ năm 2002 dựa trên quan điểm khuyến khích xây dựng môi trường giúp cho trẻ em tiến hành các hoạt động đọc sách một cách tự chủ.

Nội dung của nó là “thông qua gia đình, địa phương, trường học mà cung cấp các cơ hội giúp trẻ em làm quen với việc đọc sách”, “làm phong phú cơ sở vật chất và tăng cường sách vở thư viện”, “tăng cường hợp tác, liên kết giữa các cơ quan có liên quan như trường học, thư viện và các đoàn thể dân sự”, “

Chính phủ, dựa trên kế hoạch cơ bản, đang nỗ lực tăng cường hơn nữa các chính sách khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em trong sự liên kết chặt chẽ với các bộ ngành có liên quan.
Dựa trên nội dung của kế hoạch cơ bản này, mong rằng các bên sẽ chú ý tiến hành thích hợp các biện pháp để khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em.

Đặc biệt kính mong thống đốc các đô, đạo, phủ tỉnh và Ủy ban giáo dục các đô, đạo, phủ, tỉnh căn cứ trên các lưu ý trên mà nỗ lực xúc tiến mạnh mẽ các chính sách khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em.

Đồng thời mong thống đốc và các Ủy ban giáo dục đô đạo, phủ, tỉnh sẽ ra thông báo tới các Ủy ban giáo dục ở thành phố, khu phố, thôn làng và những người đứng đầu các thành phố, khu phố, thôn làng cũng như thông báo tới các trường học, thư viện, các cơ quan giáo dục có tư cách pháp nhân trường học, các đoàn thể liên quan về kế hoạch cơ bản này.

Nội dung

  1. Xây dựng kế hoạch khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em

Các đô, đạo, phủ, tỉnh dựa trên quy định của mục 1 điều 9 của Luật khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em và kế hoạch cơ bản để nỗ lực xây dựng nên “Kế hoạch khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em” căn cứ trên tình hình khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em ở địa phương.

Các thành phố, khu phố, thôn làng phải xây dựng “kế hoạch khuyến khích hoạt động đọc sách ở thành phố, khu phố, thôn làng” dựa trên quy định của mục 2 điều 9 “Luật khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em” và lấy kế hoạch cơ bản làm nền tảng (kế hoạch khuyến khích các hoạt động đọc sách của trẻ em ở đô, đạo, phủ, tỉnh) cũng như căn cứ vào tình hình khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em ở thành phố, khu phố, thôn làng đó.
2. Khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em ở thư viện
Các thư viện quốc lập phải nỗ lực khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em thông qua việc tăng cường thực hiện đọc sách cho trẻ em nghe, khuyến khích tham gia tình nguyện, cung cấp dịch vụ thư viện chú ý đến trẻ em khuyết tật.

Ngoài ra, cần nỗ lực đảm bảo không gian cần thiết phục vụ trẻ em đọc sách như phòng đọc sách dành cho trẻ em và mua sắm có kế hoạch sách vở cần thiết của thư viện.

  1. Khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em ở trường học
    Phải nỗ lực hình thành thói quen đọc sách và giáo dục thái độ yêu mến đọc sách của trẻ em thông qua việc đọc cho trẻ em nghe, “đọc sách buổi sáng” và thực hiện mục tiêu do các trường đặt ra.
  2. Xúc tiến xây dựng thư viện

Các đô, đạo, phủ, tỉnh căn cứ trên tình hình thực tế còn nhiều khu phố, thôn làng chưa có thư viện và quan điểm nỗ lực phát triển toàn diện dịch vụ thư viện mà tiến hành có kế hoạch việc chỉ đạo, tư vấn đối với việc xây dựng, vận hành thư viện ở các thành phố, khu phố, thôn làng.

Các thành phố, khu phố, thôn làng cần nỗ lực thành lập các thư viện để có thể cung cấp dịch vụ thư viện thích hợp cho người dân.

  1. Tăng cường sách cho các thư viện trường học.

Thư viện trường học là nơi đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích các hoạt động đọc sách, học tập một cách chủ động, sôi nổi của học sinh và triển khai các hoạt động giáo dục đa dạng như thời gian học tập tổng hợp vì vậy cần phải nỗ lực tăng cường đầy đủ sách cho thư viện ở các trường học.

Đặc biệt, ở các trường công lập thuộc giáo dục nghĩa vụ cần phải nỗ lực sớm đạt được tiêu chuẩn thư viện trường học và tăng cường đầy đủ sách bằng việc sử dụng biện pháp hưởng thuế từ địa phương trong kế hoạch 5 năm xây dựng thư viện trường học (2002-2006).

  1. Xúc tiến việc bố trí các thủ thư là giáo viên ở thư viện

Theo quy định của “Luật thư viện trường học” thì từ tháng 4 năm 2003, ở các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung học kiểu mới (bao gồm cả trung học cơ sở và trung học phổ thông) có trên 12 lớp và các trường giáo dục đặc biệt, trường dành cho học sinh khiếm thính, khiếm thị (tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông) sẽ phải có thủ thư giáo viên. Vì vậy cần phải nỗ lực tiến hành đào bạo và bố trí những người có tư cách vào vị trí này một cách có kế hoạch.

  1. Đẩy mạnh thông tin khai sáng lấy trung tâm là “Ngày trẻ em đọc sách”

Cần phải nỗ lực thực hiện các hoạt động thích hợp căn cứ trên mục đích của “Ngày trẻ em đọc sách” (23/4) đồng thời vừa liên kết với các đoàn thể, cơ quan có liên quan vừa xúc tiến thông tin khai sáng rộng rãi.

  1. Xây dựng thể chế khuyến khích

Liên quan tới khuyến khích hoạt động đọc sách của trẻ em, cần phải nỗ lực xây dựng thể chế khuyến khích một cách tổng hợp từ các cơ quan hành chính có liên quan như trường học, thư viện, Ủy ban giáo dục, các cơ quan phúc lợi-y tế và những đoàn thể, cá nhân có liên quan nhằm nghiên cứu các biện pháp liên kết, hợp tác thích hợp, trao đổi thông tin từ quan điểm khuyến khích sự tiến hành ở phương diện toàn thể xã hội thông qua gia đình, địa phương, trường học.

Liên lạc

Phòng giáo dục thanh thiếu nhiên, cục chính sách học tập suốt đời, Bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ

 

Phụ lục 4. Luật chấn hưng văn hóa đọc

(Bộ luật có hiệu lực từ ngày 27 tháng 7 năm 2005)

 

(Mục đích)

Điều 1.

Bộ luật này có mục đích xác định triết lý cơ bản về chấn hưng ăn hóa đọc trên cơ sở tư duy rằng văn hóa đọc là thứ không thể thiếu trong việc kế thừa và nâng cao tri thức, trí tuệ được tích lũy trong lịch sử lâu dài của nhân loại và giáo dục tính người phong phú cũng như phát triển chủ nghĩa dân chủ lành mạnh; làm rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của nhà nước và chính quyền địa phương đồng thời nỗ lực xúc tiến một cách tổng hợp các chính sách chấn hưng văn hóa đọc ở nước ta, cống hiến cho việc thực hiện đời sống quốc dân có trí tuệ, tâm hồn phong phú hơn và xã hội đầy sức sống thông qua việc xác định các nội dung cần thiết liên quan tới chấn hưng văn hóa đọc.

 

(Định nghĩa)

Điều 2. “Văn hóa đọc” trong bộ luật này là chỉ hoạt động tinh thần được diễn ra với trung tâm là việc đọc, viết những gì được thể hiện bằng chữ viết (ở các điều dưới đây gọi là văn bản) và các hoạt động xuất bản, các hoạt động khác như cung cấp văn bản cho con người cũng như các xuất bản phẩm và các kết quả của hoạt động này.

(Triết lý cơ bản)

Điều 3.

  1. Việc xúc tiến thực hiện chính sách chấn hưng văn hóa đọc phải được tiến hành nhằm tạo ra môi trường ở đó tính tự chủ của tất cả quốc dân được tôn trọng đồng thời quốc dân có thể thụ hưởng lợi ích của văn hóa đọc phong phú một cách bình đẳng trong suốt cuộc đời ở những nơi khác nhau như địa phương, trường học, gia đình và các nơi khác bất chấp các yếu tố như khu vực cư trú, điều kiện bản thân hay các yếu tố khác.
  2. Khi chấn hưng văn hóa đọc, cần phải chú ý đầy đủ rằng quốc ngữ là nền tảng của văn hóa Nhật Bản.
  3. Trong giáo dục trường học phải chú ý đầy đủ tới việc giáo dục năng lực ngôn ngữ với các năng lực cơ bản như năng lực đọc, năng lực viết (từ dưới đây gọi là năng lực ngôn ngữ) thông qua toàn thể khóa trình giáo dục nhằm làm cho tất cả quốc dân có thể thụ hưởng lợi ích của văn hóa đọc.

(Trách nhiệm và nghĩa vụ của nhà nước)

Điều 4.

Nhà nước, tuân theo triết lý cơ bản ở điều luật trước đó, phải có trách nhiệm và nghĩa vụ xây dựng, thực hiện một cách tổng hợp các chính sách liên quan tới chấn hưng văn hóa đọc.

(Trách nhiệm và nghĩa vụ của chính quyền địa phương)

Điều 5.

Chính quyền địa phương dựa trên triết lý cơ bản có nghĩa vụ và trách nhiệm xây dựng và thực hiện chính sách liên quan đến chấn hưng văn hóa đọc dựa trên tình hình thực tế của địa phương đồng thời nỗ lực liên kết với nhà nước.

(Tăng cường liên kết với các cơ quan có liên quan)

Điều 6.

Nhà nước và chính quyền địa phương phải nỗ lực tạo ra thể chế cần thiết để tăng cường liên kết với các thư viện, cơ quan giáo dục và các cơ quan khác cũng như các đoàn thể dân sự để việc thực thi chính sách chấn hưng văn hóa đọc được diễn ra suôn sẻ.

(Chấn hưng văn hóa đọc ở địa phương)

Điều 7.
1. Các thành phố, thôn làng phải nỗ lực xây dựng và bố trí thích hợp các thư viện công và tư với số lượng cần thiết nhằm đáp ứng phù hợp nhu cầu của người dân địa phương đối với thư viện.

  1. Nhà nước và chính quyền địa phương phải thực hiện các chính sách cần thiết nhằm xây dựng thể chế nhân sự như đảm bảo đủ thủ thư, làm phong phú tư liệu trong thư viện, xây dựng các điều kiện vật chất để xúc tiến thông tin hóa, cải thiện và nâng cao sự vận hành của các thư viện công và tư nhằm đảm bảo cho các thư viện công lập có thể cung cấp sự phục vụ thích hợp cho người dân địa phương.
  2. Nhà nước và chính quyền địa phương phải nỗ lực thực hiện các chính sách cần thiết để các trường đại học và các cơ quan giáo dục khác mở cửa thư viện của mình cho người dân bình thường, mở các khóa giảng bài công khai về văn hóa đọc và xúc tiến các hoạt động cống hiến cho chấn hưng văn hóa đọc ở địa phương.
    4. Ngoài những gì được quy định ở khoản 3 nói trên, nhà nước và chính quyền địa phương phải thực hiện các chính sách cần thiết để trợ giúp các đoàn thể dân sự tiến hành các hoạt động có ích cho chấn hưng văn hóa đọc nhằm nỗ lực chấn hưng văn hóa đọc ở địa phương.

(Giáo dục năng lực ngôn ngữ trong giáo dục trường học)

Điều 8.

  1. Nhà nước và chính quyền địa phương phải thực hiện các chính sách cần thiết nhằm phổ cập phương pháp hiệu quả và cải thiện các phương pháp giáo dục nhằm giáo dục đầy đủ năng lực ngôn ngữ trong giáo dục trường học đồng thời thực hiện các chính sách cần thiết nhằm đào tạo giáo viên, làm phong phú nội dung bồi dưỡng và nâng cao chất lượng giáo viên.
  2. Nhà nước và chính quyền địa phương cần phải thực hiện các chính sách cần thiết liên quan để chuẩn bị thể chế nhân sự đảm bảo đủ thủ thư hoặc giáo viên đảm nhận nghiệp vụ thư viện, làm phong phú tư liệu thư viện và xây dựng các điều kiện vật chất cho xúc tiến thông tin hóa nhằm xây dựng môi trường thuận lợi cho giáo dục năng lực ngôn ngữ trong giáo dục nhà trường.

(Giao lưu quốc tế về văn hóa đọc)

Điều 9.

Nhà nước phải đảm bảo cho quốc dân được cung cấp văn hóa đọc phong phú từ nhiều nước ở phạm vi nhiều nhất có thể đồng thời phải thực hiện các chính sách cần thiết để xúc tiến giao lưu quốc tế về văn hóa đọc và trợ giúp việc dịch các xuất bản phẩm tiếng Nhật ra tiếng nước ngoài, trợ giúp dịch các xuất bản phẩm của nước ngoài có nền văn hóa chưa được biết đến rộng rãi ở nước ta sang tiếng Nhật.

(Phổ cập các xuất bản phẩm học thuật)

Điều 10.

Nhà nước trên cơ sở nhận thức được việc phổ cập các xuất bản phẩm học thuật thường gặp khó khăn cần phải có sự trợ giúp và các chính sách cần thiết khác để xuất bản thành tựu nghiên cứu học thuật.
(Ngày văn hóa đọc)

Điều 11.

Đặt ra ngày văn hóa đọc nhằm nâng cao mối quan tâm và sự hiểu biết sâu sắc về văn hóa đọc trong đông đảo quốc dân.

  1. Ngày văn hóa đọc là ngày 27 tháng 12.
  2. Nhà nước và chính quyền địa phương phải nỗ lực sao cho các hoạt động thích hợp được diễn ra trong ngày văn hóa đọc.

(Các biện pháp ở phương diện tài chính)

Điều 12.

Nhà nước và chính quyền địa phương phải nỗ lực thực hiện các biện pháp tài chính và các biện pháp cần thiết khác để thực hiện các chính sách chấn hưng văn hóa đọc.

Phụ lục
Bộ luật này có hiệu lực thực thi kể từ ngày công bố.

 

 

 

[1] Về nội dung chi tiết của hai bộ luật này, xin mời xem phầm phụ lục ỏ phần cuối bài viết.

Làm thế nào để phát triển văn hóa đọc ở Việt Nam?

January 14, 2018 Leave a comment

 

                                         Nguyễn Quốc Vương

 

Trong những năm gần đây, ở nước ta có nhiều dấu hiệu cho thấy văn hóa đọc đã được quan tâm hơn và có sự tiến triển nhất định. Đấy là tín hiệu đáng mừng. Nó cho thấy, sau một thời gian “ngủ quên” và mải mê với các giá trị vật chất ăn mặc ở, người Việt đã giật mình nhận ra giá trị đích thực của văn hóa đọc. Tuy nhiên, đối với một đất nước chưa công nghiệp hóa thành công lại trải qua không biết bao nhiêu cuộc chiến tranh dai dẳng, xác lập và phát triển văn hóa đọc trên bình diện quốc gia chưa bao giờ là việc dễ.

Văn hóa đọc ở Việt Nam-bức tranh nhiều mảng màu sáng tối đan xen

Nhìn một cách tổng quát, tình hình văn hóa đọc ở Việt Nam hiện tại giống như một bức tranh có cả các mảng màu sáng và tối. Ở đây có cả những dấu hiệu thể hiện sự tiến bộ theo thời gian và cả những mặt hạn chế, những vấn đề đang đặt ra thách thức những ai quan tâm, muốn phát triển văn hóa đọc. Cần có một cuộc tổng điều tra chính thức trên toàn quốc về văn hóa đọc để có dữ liệu khách quan, khoa học phục vụ việc đề ra chính sách tuy nhiên, ở đây dựa trên các thông tin mà báo chí cung cấp và quan sát từ thực tế, chúng ta cũng có thể thấy một vài con số, thông tin về thực trạng của văn hóa đọc ở Việt Nam hiện nay.
Ở khía cạnh tích cực, chúng ta thấy số lượng đầu sách xuất bản ở Việt Nam trong vài thập kỉ gần đây tăng vượt bậc. Trong một bài viết đăng trên trang web của Thư viện quốc gia Việt Nam gần đây, tác giả Nguyễn Hữu Viêm cho biết, trước năm 1975 cả hai miền Nam Bắc xuất bản được khoảng 4000 đầu sách/năm nhưng hiện nay mỗi năm ngành xuất bản cho ra đời khoảng 25.000 tựa sách mới và tốc độ gia tăng đầu sách hàng năm là 10%. Cũng tác giả này cho biết, hệ thống thư viện công cộng đã phát triển mạnh trên toàn quốc với 64 thư viện tỉnh, 587 thư viện huyện và khoảng 10.000 thư viện và tủ sách cơ sở ở xã.

Các nhóm dân sự nằm trong phong trào sách hóa nông thôn do anh Nguyễn Quang Thạch khởi xướng, lãnh đạo và các câu lạc bộ, các nhóm yêu đọc sách khác như “Không gian đọc” trong nhiều năm qua đã hoạt động không mệt mỏi để phát triển các “Tủ sách dòng họ”, “Tủ sách gia đình”, “Tủ sách giáo xứ”, “Tủ sách trường học”… Gần đây, các nhóm còn phối hợp với các cơ quan có liên quan để đưa sách tới tận các trại giam phục vụ những người đang thụ án. Những kết quả mà phong trào sách hóa nông thôn đạt được đã được quốc tế ghi nhận với giải thưởng mang tên vua Sejong của UNESCO (1/9/2016).

Tuy nhiên, nhìn trên bình diện rộng cũng như phân tích sâu ta sẽ thấy, những thành tựu mà chúng ta có được từ văn hóa đọc còn rất nhỏ bé so với các vấn đề đặt ra.
Số lượng đầu sách tăng, hệ thống thư viện mở rộng, gia tăng về số lượng là điều tốt nhưng vấn đề đặt ra là số lượng độc giả có tăng và tỉ lệ người đọc sách trên tổng số dân số có tăng mạnh không? Những ai đã từng đến đọc sách ở các thư viện công lập ở các tỉnh, địa phương hẳn đều chứng kiến cảnh tượng “đìu hiu” ở đây. Lượng bạn đọc đến với các thư viện này không nhiều và hoạt động phát triển văn hóa đọc ở đây chưa sôi nổi. Số liệu thống kê năm 2016 cho biết tính trung bình ở Việt Nam mỗi người dân chỉ đọc khoảng 1 quyển sách/năm. Một con số nói lên rất nhiều vấn đề. Chúng ta có trên 90% dân số biết chữ mà chỉ có rất ít người đọc sách! Một nghịch lý rất đáng suy ngẫm.

Nếu chúng ta kĩ tính hơn khi so sánh văn hóa đọc ở đô thị với nông thôn, miền núi thì sẽ thấy vấn đề còn trầm trọng hơn nữa. Ở nông thôn, miền núi , chuyện người ta biết đọc nhưng sau khi nghỉ học cả đời không bao giờ cầm quyển sách không phải là chuyện hiếm.

Nhìn ra sinh hoạt xã hội chúng ta cũng thấy đọc sách chưa trở thành sinh hoạt tự nhiên thường ngày của người dân. Chúng ta hiếm nhìn thấy cảnh người dân đọc sách trong công viên, trên xe buýt, nhà ga hay ở các không gian công cộng, vui chơi giải trí khác. Sự hiện diện của tủ sách, giá sách trong các gia đình cũng không phổ biến bằng sự có mặt của các phương tiện nghe nhìn như tivi hay …tủ rượu.

Ngay chính trong trường học, nơi lẽ ra văn hóa đọc phải đóng vai trò thống soái thì sự hiện diện của văn hóa đọc ở đây cũng rơi vào tình trạng cầm chừng. Ngoại trừ những trường đặc biệt, đa phần các trường học chưa khuyến khích được học sinh và giáo viên đọc sách vì lối dạy và học lệ thuộc và sách giáo khoa,  thi cử đã làm triệt tiêu động lực đọc sách. Giáo viên không đọc sách-một nghịch lý khó chấp nhận trên thực tế đang tồn tại. Không ít giáo viên quanh năm không đọc gì ngoài các cuốn sách giáo khoa, sách tham khảo phục vụ luyện thi hay thiết kế bài giảng.

 

Ở vĩ mô, Việt Nam vẫn chưa có một bộ luật phát triển văn hóa đọc làm cơ sở pháp lý và nền tảng cho tất cả các hoạt động khác có liên quan. Chính điều này là một hạn chế cản trở sự phối hợp giữa các hoạt động của nhà nước và những tổ chức quần chúng phát triển văn hóa đọc.

Phải làm gì để phát triển văn hóa đọc?

Để khắc phục tình trạng yếu kếm nói trên và phát triển mạnh văn hóa đọc ở cả chiều rộng lẫn bề sâu thì cần đến cả chính sách vĩ mô lẫn vi mô. Nó cũng cần đến sự cố gắng của cả nhà nước và các công dân cũng như các tổ chức tập hợp họ.
Ở tầm vĩ mô, nhà nước cần phải sớm có bộ luật phát triển văn hóa đọc để tạo cơ sở pháp lý cũng như ràng buộc nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên có liên quan trong phát triển văn hóa đọc. Chẳng hạn luật này sẽ quy định rõ chính quyền địa phương các cấp phải quan tâm thích đáng đến văn hóa đọc bằng cách dành ngân sách cho phát triển văn hóa đọc và có các kế hoạch chính sách cụ thể đối với văn hóa đọc trong chính sách chiến lược phát triển địa phương. Các địa phương cũng phải có nghĩa vụ phải hợp tác và trợ giúp các tổ chức, cá nhân muốn phát triển văn hóa đọc. Đạo luật này một khi ra đời cũng sẽ có tác dụng làm thay đổi tư duy đối với văn hóa học của các cán bộ, công chức từ trung ương tới địa phương.

Các bộ ngành có liên quan phải cơ cấu, sắp xếp lại hệ thống thư viện công và đặc biệt là phải đổi mới tư duy về vai trò, phương thức hoạt động của nó để biến thư viện thành trung tâm sinh hoạt văn hóa hấp dẫn, đa dạng thay vì cách thức phục vụ cứng nhắc nặng tính hành chính hiện thời.

Trường học sẽ là nơi thể hiện rõ nhất chức năng, sức mạnh của văn hóa đọc vì thế cùng với đẩy mạnh cải cách giáo dục hướng đến nền giáo dục hiện đại, tôn trọng tự do học thuật và nhu cầu truy tìm chân lý, các trường học cần coi việc xây dựng văn hóa đọc là công việc quan trọng đầu tiên để hình thành sinh hoạt trường học.

Đối với những người làm công tác phát triển văn hóa đọc như cán bộ văn hóa, thủ thư, giáo viên, những người say mê văn hóa đọc… cần phải tích cực và chủ động mở rộng phạm vi hoạt động của mình, tận dụng mọi cơ hội về không gian và thời gian để biến hoạt động đọc sách thành sinh hoạt thường ngày của bản thân, của cộng đồng nơi mình thuộc về.

Sự chuyển dịch của văn hóa đọc theo hướng tích cực và bền vững sẽ phải là sự chuyển dịch của chủ thể đọc. Nếu như trước kia chỉ có một nhóm nhỏ thuộc giới “tinh hoa” đọc thì giờ phải biến đại chúng thành chủ thể của việc đọc sách. Muốn vậy, phải đưa sách lại gần đại chúng thông qua thể tài, nội dung sách và gia tăng các cơ hội cho đại chúng đọc sách. Chẳng hạn như nên tặng sách cho người thân, thầy cô, bạn bè trong những ngày lễ, Tết thay cho hoa và các món quà khác. Đây là một cách thiết thực để khuyến khích người khác đọc sách và lan tỏa các giá trị mà nội dung cuốn sách đem lại.

Nhà nước và người dân cũng cần tận dụng tối đa các không gian công cộng để xác lập sự tồn tại của sách và văn hóa đọc. Chẳng hạn các quán nước, quán cà phê, quán ăn, bệnh viện, phòng khám, thẩm mĩ viện.. có thể đặt thêm giá sách để cho khác đọc “giết thời gian” khi phải chờ. Ở Nhật Bản người Nhật là điều này rất tốt. Đọc sách lúc rỗi rãi hay cần giết thời gian khi chờ đợi sẽ là một cơ hội tốt để dẫn dắt người dân vào văn hóa đọc và hình thành thói quen đọc sách.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

%d bloggers like this: