Archive

Archive for the ‘Việt Nam trong mắt người Nhật Bản’ Category

Hà Nội ba sáu phố phường: sức sống của người Việt Nam

July 10, 2011 1 comment


 

Phần trích dịch dưới đây  là phần đầu ( từ trang 11 đến trang 18)  thuộc chương một của cuốn sách có tên: “Việt Nam : không phải  chỉ là nơi vãn cảnh-chuyến đi tìm hiểu lịch sử-chiến tranh-dân tộc” của nhà báo Nhật Ito Chihiro. Cuốn sách dày 233 trang được nhà xuất bản Kobunken xuất bản năm 1995.

 

Nhà báo Ito Chihiro sinh năm 1949 tại tỉnh Yamaguchi. Sau khi tốt nghiệp khoa Luật đại học Tokyo , ông làm việc cho báo Asahi và được cử làm đặc phái viên ở nhiều nước như: Tây Ban Nha, Việt Nam…

Đỏ, đỏ, đỏ… Hà Nội nhìn từ trên  cao xuống ngút mắt là màu đỏ. Đây chính là thứ đất đỏ được gọi bằng cái tên “Phù sa”. Cả núi non, bờ ruộng, các con đường và cả mái ngói trong thành phố đều màu đỏ. Dòng sông lớn mang theo thứ đất đỏ từ những ngọn núi vùng thượng lưu về với phố phường cũng được gọi tên là Hồng Hà.

Quốc kì của quốc gia này có hình ngôi sao vàng trên nền đỏ. Người ta gọi đó là cờ đỏ sao vàng. Màu đỏ là màu máu nhiệt huyết của quốc dân còn màu vàng là màu da hay biểu tượng đoàn kết dân tộc. Màu đỏ và vàng là sắc màu tượng trưng cho Việt Nam.

Trong thời kì chiến tranh Việt Nam, quốc kì của nước Việt Nam Cộng Hòa cũng có nền vàng và những vạch đỏ. Cho dẫu chính quyền đổi thay, lịch sử biến thiên thì dòng máu nóng ấy vẫn chảy, những người Việt Nam có màu da vàng giống như chúng ta vẫn bám chặt mảnh đất này.

Nối sân bay với thành phố là cây cầu Thăng Long mới tinh, tráng lệ bắc qua sông Hồng. Trong quá khứ Hà Nội cũng đã từng được gọi là Thăng Long. Theo truyền thuyết thì khi triều Lí  chọn nơi đây làm kinh đô đã có con rồng vàng bay lên ngay trước mắt nhà vua. Màu vàng là màu biểu thị  cho sự  cao quý và cũng là biểu tượng của vương triều.

Cái tên Hà Nội xuất hiện lần đầu vào năm 1831. Tên này ra đời nhân việc con đê sông Hồng ở phía trong được hoàn thành. Thời Pháp thuộc ở Hà Nội cũng như Sài Gòn đều có đặt phủ Tổng Đốc, khi chiến tranh Thái Bình Dương kết thúc vào năm 1945, Hà Nội trở thành thủ đô của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Ở gần trung tâm thành phố còn có cây cầu Long Biên vắt qua sông Hồng. Đây là cây cầu sắt cổ được Pháp xây dựng vào đầu thế kỉ XX. Trên cây cầu dài 1682m này có cả đường sắt và đường dành cho người đi bộ. Trong chiến tranh Việt Nam, Mĩ đã nhiều lần ném bom nhằm phá hủy cây cầu có vị trí chiến lược quan trọng này nhưng quân đội Việt Nam đã dùng súng phòng không và tên lửa bảo vệ thành công cây cầu này. Giờ đây ở phần đường dành cho người đi bộ, từng đoàn người tấp nập qua cầu. Những người phụ nữ  nông dân gánh nông sản trên vai đi đến chợ.  Gánh hàng nặng làm chiếc đòn gánh cong như cánh cung. Có cả  bà cụ tóc trắng đang cố sức đẩy chiếc xe đạp chất đầy hàng hóa nặng hơn cả trọng lượng bạn thân mình. Không phải chỉ trong chiến tranh mà cả bây giờ người Việt Nam vẫn dồn hết sức mình để sống.

Ở gần cầu là chợ. Vào tầm 3 giờ sáng khi còn tối om vì đèn đường chưa bật hàng ngàn người đã chen chúc dọc con đê suốt chiều dài 1 km. Tối quá nên tôi không thể nhận ra khuôn mặt từng người cho dù trước mặt là đám đông náo nhiệt. Mọi người tập trung ở đây từ sớm là có lí do. Chợ họp ở đây phải giải tán trước giờ cao điểm giao thông là 6 giờ sáng. Những người nông dân chất đầy trên đôi quang gánh rau, hoa quả tràn ra suốt cả mặt đường.

Có người đàn ông đẩy  chiếc  xe đạp  bên trên chất những chiếc lồng nhốt chặt gà, vịt. Có cả người tài xế lái chiếc xe tải loại lớn chở đầy hoa quả đến từ miền trung xa xôi. Ngược lại cũng có cả những dãy xe tải đang chất đầy hàng hóa để chở về các địa phương. Người chất hàng, người dỡ hàng xuống xe, người mua, người bán vô cùng náo nhiệt. Âm thanh cất cao lan khắp cả vùng.

Trời sáng dần và cuối cùng thì tôi cũng nhìn rõ mặt người. Một bà cụ đội nón ngồi bán 20  quả mít, mỗi quả  có đường kính lớn tới chừng 30cm được xếp thành hàng. Chân bà cụ đi đôi dép cao su với những ngón chân tõe ra. Đấy là do suốt nhiều năm bà gánh trên vai hàng hóa nặng làm những ngón chân bị ép xuống và tõe ra như vậy. Dọc từ chợ vào đến bên trong thành phố là những hàng cây. Đấy là những cây “cứng như sắt” được gọi là cây xà cừ. Người thợ đang cắt tóc cho khách ở ngoài trời với tấm gương đường kính tới 1m treo trên thân cây. Anh Luân( 52 tuổi), tính từ lúc anh 7, 8 tuổi đã làm thợ cắt tóc ở đây gần nửa thế kỉ. Dụng cụ là chiếc tông-đơ, kéo và chiếc lược. Cùng với chúng anh mang  theo  tấm chiếu cho khách ngồi, cái ghế đẩu và tấm gương đi khắp nơi. Tiền cắt tóc là 3 nghìn  đồng. Đổi ra tiền Nhật trị giá khoảng 25 Yên.

Ở đầu phố có rất nhiều cửa hàng nhỏ ngoài trời đứng sắp hàng. Chiếc bơm xe đạp  dựng đứng ở đoạn đường dành cho người đi bộ ở ngã tư chính là hàng sửa xe. Vẫn còn có rất ít xe ô tô ở đây, người dân đi lại chủ yếu bằng xe máy và xe đạp vì thế số xe hỏng và bị hết hơi rất nhiều. Hầu hết những hiệu sửa xe ở gần ngã tư đều hữu ích.

Bên trên chiếc rương đặt bên cạnh người thợ  là chiếc ê-tô. Khi có người dân đẩy chiếc xe đạp hay xe máy bị hỏng tới, người thợ sửa chúng  chỉ bằng các dụng cụ như là móc lốp và chiếc búa. Các con đường ở Hà Nội đều ngập trong trận hồng thủy xe đạp và xe máy. Có thể nói dòng chảy xe hai bánh chẳng khác gì dòng sông. Nhưng trên đường không hề có đèn tín hiệu. Cũng không  có cả vạch phân cách ở giữa đường. Mọi người đều đi với vận tốc khá cao và rẽ phải, rẽ trái tùy tiện. Nó khiến người ta không thể  không có ý nghĩ lo lắng “ thế nào rồi cũng đâm vào nhau cho mà coi”. Những người sang đường tránh dòng chảy xe đạp một cách thật tài tình. Những người khách du lịch từ Nhật mới tới đây thì sợ hãi  đứng rúm cả lại. Nhưng nếu bước nhanh thì những người lái xe đạp sẽ khéo léo  lái tránh đi.

Ở nước Nhật mọi người đều trông cậy vào tín hiệu, có người vào buổi tối khi đường phố không hề có xe ô tô chạy qua vẫn không băng qua đường bởi khi ấy là đèn đỏ. Mặt khác người Nhật lại có đặc tính “tâm lí đám đông” thể hiện trong ý  nghĩ “cho dù có đèn đỏ đi nữa nhưng nếu mọi người cùng qua đường thì chả có gì phải sợ”. Tuy nhiên, người Việt Nam thì cho dù không có đèn tín hiệu đi nữa  họ vẫn vừa quan sát tình hình xung quanh vừa  tự mình phán đoán để qua đường. Khi nhìn thấy cảnh ấy tự nhiên trong tôi hiện lên từ “tự chủ”.

Trong chiến tranh Việt Nam cũng thế mỗi người Việt Nam đã chiến đấu bằng sự sáng tạo tự chủ  của bản thân mình. Bí mật sức mạnh làm nên chiến thắng của tiểu quốc Việt Nam trong cuộc đọ sức với cường quốc Mĩ chính là sự tự chủ của mỗi người dân và nó được hiện ra rõ ràng trong cơn hồng thủy xe đạp.

Ở trung tâm thành phố có hồ Hoàn Kiếm. Trước kia, xuất phát từ màu nước trong hồ mà  hồ có tên là hồ Lục Thủy. Thế kỉ XV sau khi đánh bại sự xâm lược của Trung Quốc vị vua của Việt Nam đã du thuyền ở đây và từ mặt nước một con rùa khổng lồ hiện ra ngậm lấy thanh gươm vua đeo bên mình và biến mất. Nhà vua ra lệnh tháo nước hồ đề tìm thanh gươm nhưng tìm kiếm mãi mà chẳng thấy bóng dáng thanh gươm lẫn bóng rùa. Bởi thế nhà vua cho rằng thanh gươm vốn là vật thần cho mượn để đánh đuổi quân xâm lược Trung Quốc giờ đây đất nước thanh bình nên thần hiện lên dưới lốt rùa để lấy lại. Và người ta nói rằng tên hồ cũng đổi thay từ đó. Từ câu chuyện truyền thuyết này có thể thấy được tư thế đứng hiên ngang trước sự xâm lược của kẻ thù.

Ở giữa lòng hồ có ngọn tháp Rùa. Vào giờ nghỉ trưa ở bãi cỏ ven hồ có đôi tình nhân ngồi bên nhau vừa ngắm ngọn tháp vừa trò chuyện. Chiếc xe máy Honda được dựng ở cạnh bên. Có lẽ hai người đã tới hồ từ nơi làm bằng xe máy. Ở dưới bóng cây trên lối đi bộ là bàn cờ tướng. Hai người đàn ông lặng im nhìn chằm chằm những quân cờ trên mặt có khắc chữ: Mã, Xe, Tốt. Vây quanh là 14 người đàn ông khác vừa nhìn vừa reo lên “ À! Ra thế!”, “ Đúng rồi đấy!”…

Ở phía tây bắc hồ là nơi được gọi là “36 phố phường”. Hà Nội là thành phố có lịch sử một ngàn năm. Vào thế kỉ XI vị vua nọ đã chọn nơi đây là kinh đô và xây dựng nên kinh thành mới. Nhà vua đã kêu gọi   người dân ở các vùng xung quanh đến đây,  phân chia nơi đây  làm ba khu vực dành cho nông dân, thợ thủ công, thương nhân và  khu trung tâm được chia làm 36 phố phường. Và đấy chính là khu vực tôi vừa nói tới: khu phố cổ có lịch sử chạy dài suốt một nghìn năm.

Bây giờ tên phố phường vẫn mang tên sản phẩm như: Hàng Nón, Hàng Bạc, Hàng Khoai…Hàng ở đây có nghĩa là cửa hàng  vậy. Nó giống như cách đặt tên của các khu phố cổ ở Nhật thời xưa. Bên cạnh đó còn có Hàng Trống, Hàng Chiếu…nữa. Ở hai bên đường phố hẹp là các cửa hàng nhỏ xếp hàng với bao nhiêu là hàng hóa. Có cửa hàng treo đầy giày từ mái hiên tới nền đất, có cửa hàng treo đầy tường sát đến tận mái nhà những tấm áo dài dân tộc có màu xanh da trời, có cửa hàng may vá, có cửa hàng chuyên về giấy, có cửa hàng bán hương và có cả cửa hàng thêu ren nữa. Tất cả xếp bên nhau dày san sát. Ở đây có cả lá cờ dùng cho đám tang có thêu mấy chữ vàng “Tây Phương Cực Lạc”. Có cả cửa hàng chuyên làm bia mộ. Ở phố Hàng Buồm có đền Bạch Mã tương truyền là được xây dựng từ thế kỉ thứ IX. Vào thời điểm chiến tranh Việt Nam, thật may mắn là khu vực này không bị đánh bom. Cả góc phố giống như một khu chợ chỉ đi bộ và nhìn thôi cũng thật là thích thú.

Tuy nhiên, thú vị hơn là khi bước vào bên trong cửa hàng. Cửa vào cửa hàng chỉ rộng khoảng 2, 3m thôi nhưng bên trong thật là sâu. Nghe nói thông thường là sâu 50m, những cửa hiệu dài có khi tới tận 100m. Người ta thường gọi những ngôi nhà của người dân Nhật ở Kyoto là “tổ con lươn” và ở đây cũng có thể được gọi bằng cái tên như thế. Phía giáp với mặt đường là cửa hàng, ở phía trong là nơi chế tạo sản phẩm, tiếp đến là sân và từ đây trở vào phía trong là các phòng ở dành cho gia đình. Ở phía cuối cùng là nhà bếp và nhà tắm. Ở sân  thì có thể nhìn thấy bầu trời nhưng các  phần tiếp theo thì bị bao vây bởi trần nhà cùng các bức tường và không hề có cửa sổ. Tôi có cảm giác như mình đang bước đi trong một đường hầm nào đó.

Nhờ kéo dài như trên mà diện tích ngôi nhà được tăng thêm nhưng mỗi nhà lại có tới 5 gia đình có khi tới tận 10 gia đình cùng sinh sống. Ở những ngôi nhà như thế này thì không gian sinh hoạt dành cho mỗi người chỉ là 1.5m2 mà thôi.

Hà Nội hiện có 3 triệu người đang sinh sống. Hà Nội tiếp nhận dòng người đổ đến từ các vùng nông thôn xung quanh cho nên dân số Hà Nội tăng lên nhanh chóng. Bình quân không gian sinh hoạt dành cho mỗi người dân thành phố là 2.6m2. Hãy so sánh với Tokyo thành phố vốn được coi là nơi dân cư đông đúc với 23 quận mà ở đó không gian sinh hoạt ứng với mỗi người dân là 76m2 để thấy mật độ dân cư ở đây đông đúc đến thế nào. Ở những con đường giáp với hồ Hoàn Kiếm là các sạp hàng. Ở quầy sách xếp đầy  trên kệ gỗ  là từ điển tiếng Anh, sách kinh tế, các tờ tạp chí dành cho phụ nữ có ảnh các mĩ nữ ở bìa, có cả truyện tranh Nhật bản tiếng Việt như “Đô-rê-mon” hay “Thủy thủ mặt trăng”. Cửa hàng bán Phở-món mì Việt Nam-có thể nhìn thấy ở khắp chỗ này chỗ kia. Người bán đặt nồi xuống vệ đường và nấu luôn ở đó.

Thêm vào đó là quầy bán xổ số, quầy bán thuốc lá, quầy bán bánh mì Pháp. Tuy nhiên cho dù có quan sát kĩ lưỡng đi chăng nữa thì ở cửa hàng nào cũng không thấy có mấy khách đến. Cho dẫu thế người bán dưới trời nóng đổ lửa vẫn kiên nhẫn chờ. Và cuối cùng cho dù có khách đến đi chăng nữa thì số hàng bán được cũng chả là bao. Cũng có thể nói là người bán không thu được lợi nhuận gì. Bởi thế khi bắt gặp ánh mắt tôi họ nở một nụ cười. Vào lúc ấy có một đám tang đi qua khu phố. Tôi thì nghĩ đây là điều xúi quẩy nhưng bà cụ bán bánh mì thì lại tỏ vẻ vui mừng “ Sau điều rủi sẽ có cái may. Ngày hôm nay sẽ là ngày tốt”.

Đấy là tinh thần lạc quan, sự kiên nhẫn và cả sự sáng tạo trong cuộc cạnh tranh nơi đông đúc.

Hà Nội quả thật là thành phố đã chỉ cho tôi thấy sức sống của người Việt Nam.

Nhật Bản tháng 3/2010

 

Nguyễn Quốc Vương dịch

 

 

P/s: Đọc xong bài viết trên có bạn sẽ kêu lên sao Hà Nội ở đây khác xa với hình ảnh Hà Nội thường thấy? Không sao, mỗi người đều có Hà Nội của riêng mình. Hà Nội ở đây là Hà Nội của Ito Chihiro-nhà báo của tờ Asahi, một trong những tờ báo lớn và có uy tín hàng đầu nước Nhật. Bản thân tôi cũng  “không thấy thỏa mãn” với đoạn nhà báo Ito giải thích và đánh giá về giao thông Hà Nội. Có lẽ  là do ông chưa ngồi lên xe máy để đi học, đi làm hàng ngày  và nếm trải cuộc sống ở Hà Nội trong thời gian dài. Cũng có thể ông diễn giải nó một cách hài hước và tế nhị “kiểu Nhật Bản”. Nhưng không sao, nhà báo Ito quan tâm và yêu mến Việt Nam thế là đủ.

Trong khoảng thời gian học ở Nhật và có dịp  tiếp xúc với  nhiều người Nhật quan tâm tới Việt Nam không hiểu sao tôi cứ có ý nghĩ  đa cảm (cũng có thể là mặc cảm) đau đớn  rằng “nhiều người Nhật hiểu biết về VN và yêu Việt Nam hơn nhiều thanh niên Việt khác trong đó có tôi”.

 

Tất nhiên đấy chỉ là cảm giác và tôi  hy vọng là nó luôn…sai!

 

Advertisements
%d bloggers like this: