Triết lý giáo dục Nhật Bản và gợi ý cho Việt Nam

November 28, 2018 Leave a comment
.

Kỳ cuối: Không thể né tránh vấn đề cốt tử

10:09 | 20/11/2018
Nhìn từ Nhật Bản, có lẽ chúng ta cũng sẽ nhận ra nhu cầu cần tranh luận để tiến tới đồng thuận và luật hóa triết lý giáo dục. Giáo dục sẽ không thể thoát ra khỏi mớ bòng bong như hiện tại khi các cơ quan có trách nhiệm né tránh vấn đề cốt tử và đầu tiên của giáo dục là “triết lý giáo dục”.

>> Kỳ 1: Xã hội tương lai và con người mơ ước

Triết lý giáo dục quy định trong Luật Giáo dục cơ bản hiện hành (Luật này ban hành lần đầu năm 1947 và sửa đổi năm 2006) đã trở thành căn cứ để các tổ chức, trường học ở Nhật Bản xây dựng triết lý giáo dục riêng của mình. Những triết lý đó rất phong phú, cụ thể, nhưng không được phép mâu thuẫn với triết lý giáo dục đã được luật hóa. Trong các bộ luật khác liên quan đến giáo dục, những điều khoản đầu tiên đều nhắc đến hoặc tóm tắt lại triết lý này. Trong văn bản có tên “Hướng dẫn học tập” – văn bản chỉ đạo chương trình giáo dục phổ thông của Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ của Nhật Bản, các điều luật liên quan đến triết lý giáo dục của Luật Giáo dục cơ bản, Luật Giáo dục trường học được trích dẫn và đưa vào phần đầu văn bản như là một sự nhắc nhở đối với tất cả những người làm giáo dục. Chính vì vậy mà trong 70 năm qua, ở nước Nhật, giáo dục cũng luôn là tâm điểm tranh luận nhưng người ta không đặt ra vấn đề thay đổi triết lý giáo dục đã được luât hóa này. Có lẽ tính khái quát và hướng đến các giá trị phổ quát, vĩnh hằng của nó đã thỏa mãn được nhu cầu đa dạng của người Nhật về giáo dục.


Nguồn: ITN

Ở Việt Nam, câu chuyện về triết lý giáo dục đã từng được xới lên từ những năm 2005 – 2006, nhưng trên thực tế, vẫn thiếu những công trình chuyên khảo, chuyên luận và những cuộc tranh luận học thuật nghiêm túc trong không gian thích hợp về vấn đề này. Cải cách giáo dục vẫn được tiến hành; chương trình, sách giáo khoa vẫn được thay đổi, trong khi tranh luận về triết lý giáo dục chưa ngã ngũ, bản thân triết lý giáo dục không được luật hóa là một thực tế tiềm ẩn nhiều rủi ro bất lợi cho cải cách. Vậy chúng ta cần phải nhìn nhận vấn đề như thế nào?

Tôi cho rằng triết lý giáo dục, cho dù có được phát biểu tường minh bằng thuật ngữ trong các bộ luật về giáo dục hay không đều có ảnh hưởng, tác động to lớn đến toàn bộ nền giáo dục và cả sự phát triển của xã hội. Giáo dục là hoạt động có tính mục đích, tư tưởng rất cao, nên ngay cả khi con người chưa ý thức được sự cần thiết phải minh định “triết lý giáo dục” bằng văn bản thì trên thực tế trong quá trình phác thảo nội dung, chương trình, kế hoạch giáo dục và thực thi các hành vi, hoạt động giáo dục trong thực tiễn, cho dù đơn lẻ hay hệ thống, con người trên khắp thế giới đã thể hiện triết lý giáo dục và bị dẫn dắt bởi triết lý ấy. Triết lý đó chi phối toàn bộ những người làm giáo dục và các hoạt động giáo dục.

Nhìn từ Nhật Bản, có lẽ chúng ta cũng sẽ nhận ra nhu cầu cần tranh luận để tiến tới đồng thuận và luật hóa triết lý giáo dục. Giáo dục sẽ không thể thoát ra khỏi mớ bòng bong như hiện tại khi các cơ quan có trách nhiệm né tránh vấn đề cốt tử và đầu tiên của giáo dục là “triết lý giáo dục”. Nếu sai lầm hay lúng túng ngay từ khi định ra đích đến ban đầu, cho dù chúng ta nỗ lực đến đâu cũng sẽ không có kết quả hoặc sẽ rơi vào trạng thái hoang mang. Triết lý giáo dục sẽ là thứ đầu tiên và quan trọng nhất mang lại sự hấp dẫn của nền giáo dục và năng lượng cho toàn nhân dân, thu hút toàn dân vào sự nghiệp giáo dục.

Sự vắng mặt của thuật ngữ “triết lý giáo dục” trong các bộ luật về giáo dục, các văn bản quan trọng như “Chương trình phổ thông tổng thể” song hành với những lời biện giải rằng chúng ta đã có triết lý giáo dục là một sự mâu thuẫn không có lợi cho sự phát triển của giáo dục Việt Nam hiện đại.

Cuối cùng xin được dẫn ra đây phần giải thích thuật ngữ “triết lý giáo dục” của từ điển Britanica online (tiếng Nhật) để chúng ta tham khảo cách hiểu phổ thông nhất về triết lý giáo dục của người Nhật:

Triết lý giáo dục là hình dáng lý tưởng tận cùng cần đạt tới của giáo dục. Thứ thể hiện phương hướng cần phải hướng tới cái đó (triết lý giáo dục) là mục đích giáo dục và thứ thể hiện cụ thể hơn nữa là mục tiêu giáo dục. Triết lý giáo dục của Nhật Bản trước Chiến tranh thế giới thứ Hai được thể hiện bằng Sắc chỉ giáo dục. Tương phản với nó, Luật Giáo dục cơ bản (cũ) được thực thi năm 1947 là văn bản thể hiện triết lý giáo dục và các nguyên tắc cơ bản, đó là giáo dục biến việc thực hiện triết lý của Hiến pháp Nhật Bản thành có thể, nghĩa là nền giáo dục hướng tới việc giáo dục nên những con người biết tôn trọng sự tôn nghiêm của cá nhân, truy tìm chân lý và hòa bình. Trong Luật Giáo dục cơ bản (mới) năm 2006 nó có thêm những điểm mới với tư cách là giáo dục nhằm thực hiện lý tưởng làm phát triển hơn nữa quốc gia văn hóa và dân chủ được xây dựng nên bởi những nỗ lực không mệt mỏi, cống hiến cho sự nâng cao phúc lợi của nhân loại và hòa bình thế giới, giáo dục nên những con người tôn trọng tinh thần công cộng, có tính sáng tạo và tính người phong phú, hướng tới kế thừa truyền thống và sáng tạo ra văn hóa mới.

Nguyễn Quốc Vương
Advertisements

Triết lý giáo dục Nhật Bản và gợi ý cho Việt Nam

November 28, 2018 Leave a comment
Triết lý giáo dục Nhật Bản và gợi ý cho Việt Nam

Kỳ 1: Xã hội tương lai và con người mơ ước

07:37 | 19/11/2018
Nhật Bản là một trường hợp khá đặc biệt khi họ thể hiện tường minh thuật ngữ “Triết lý giáo dục” trong các bộ luật quan trọng về giáo dục, trong đó quan trọng nhất là Luật Giáo dục cơ bản. Triết lý đó bao gồm 2 thành tố: “Hình ảnh xã hội tương lai” và “hình ảnh con người mơ ước”.

>> Kỳ cuối: Không thể né tránh vấn đề cốt tử 

Vấn đề triết lý giáo dục đang được hâm nóng trở lại trên các diễn đàn lớn. Đây là điều tất yếu vì trong quá trình tiến hành cải cách giáo dục “căn bản và toàn diện”, Việt Nam sẽ cần phải sửa các bộ luật liên quan đến giáo dục và các bộ luật này phải thể hiện được đường hướng, đích đến cuối cùng của giáo dục. Kinh nghiệm từ Nhật Bản có thể là gợi ý tốt cho Việt Nam.

Luật Giáo dục cơ bản được Quốc hội Nhật Bản ban hành lần đầu năm 1947 và sửa đổi năm 2006, sau Lời nói đầu là “Chương I. Mục đích và triết lý giáo dục”. Mục đích giáo dục được bộ luật xác định là: Giáo dục phải nhằm hoàn thiện nhân cách con người và giáo dục nên quốc dân khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần đồng thời có đầy đủ phẩm chất cần thiết với tư cách là người làm chủ xã hội – quốc gia hòa bình và dân chủ(Điều 1). Trên cơ sở mục đích lớn lao này, bộ luật cũng xác định “Mục tiêu của giáo dục” (Điều 2) với 5 mục tiêu cụ thể. Xin trích nguyên văn:

Điều 2. Giáo dục để thực hiện mục đích nói trên phải tôn trọng tự do học thuật đồng thời phải đạt cho được những mục tiêu sau:

a. Trang bị văn hóa và tri thức rộng rãi, giáo dục thái độ hướng tới chân lý, nuôi dưỡng đạo đức và tình cảm phong phú đồng thời rèn luyện thân thể khỏe mạnh.

b. Tôn trọng giá trị cá nhân, mở rộng năng lực cá nhân, nuôi dưỡng tính sáng tạo và tinh thần tự lập, tự chủ đồng thời coi trọng mối quan hệ với nghề nghiệp và cuộc sống, giáo dục thái độ tôn trọng lao động.

c. Tôn trọng chính nghĩa và trách nhiệm, bình đẳng nam nữ, tôn kính và hợp tác lẫn nhau đồng thời giáo dục thái độ tham gia vào xây dựng xã hội, đóng góp cho sự phát triển của xã hội một cách chủ động dựa trên tinh thần công cộng.

d. Có thái độ tôn trọng sinh mệnh, coi trọng tự nhiên và đóng góp vào việc bảo vệ môi trường.

e. Có thái độ tôn trọng truyền thống và văn hóa, yêu mến quê hương, đất nước chúng ta, nơi đã nuôi dưỡng những giá trị đó đồng thời giáo dục thái độ tôn trọn nước khác, đóng góp vào hòa bình và sự phát triển của cộng đồng quốc tế”.

Sau “Mục tiêu giáo dục” là các điều luật về “Triết lý học tập suốt đời” (Điều 3), “Bình đẳng cơ hội giáo dục” (Điều 4). Các bộ luật giáo dục khác như “Luật Giáo dục trường học” sẽ nhắc lại các nội dung này một cách cụ thể hơn trong phạm vi trường học.

Như vậy, ta có thể thấy, triết lý giáo dục của Nhật Bản được thể hiện rõ trong tên chương và nằm chủ yếu ở “Mục đích giáo dục” (mục tiêu cao cả, tối thượng của giáo dục, thứ giáo dục cuối cùng phải đi đến, đạt được có tính chất giống như là lý tưởng, hoàn hảo) và “mục tiêu giáo dục” (những mục tiêu cụ thể, đích đến cụ thể cần phải đạt được trên con đường tiến tới mục đích). Triết lý giáo dục này sẽ gồm hai bộ phận hay hai thành tố. Thứ nhất là “hình ảnh xã hội tương lai” hay “hình ảnh xã hội mơ ước”. Đây là xã hội mà nền giáo dục muốn tạo ra, hướng tới để xây dựng và bảo vệ nó. Ở đây, nó được xác định trong bộ luật là “xã hội – quốc gia hòa bình và dân chủ”. Đây là những đặc trưng cơ bản của xã hội được định hình trong Hiến pháp 1946 của Nhật (bản Hiến pháp có ba trụ cột chủ yếu: Hòa bình, dân chủ, tôn trọng nhân quyền).

Thứ hai là “hình ảnh con người mơ ước”. Đó là những con người có khả năng tạo ra xã hội mới, những người mà nền giáo dục mới có nhiệm vụ tạo ra và cũng là người sẽ bảo vệ xã hội mơ ước ở trên. Đặc trưng của con người mơ ước này được “vẽ” ra cơ bản ở “Mục đích”. Đó là “quốc dân” (công dân) khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần đồng thời có đầy đủ phẩm chất cần thiết với tư cách là người làm chủ xã hội -quốc gia hòa bình và dân chủ”.

Những đặc trưng này tiếp tục được phác họa rõ hơn, cụ thể hơn ở phần “Mục tiêu” (Điều 2) nói trên về tri thức, thái độ, đạo đức, tình cảm, năng lực cá nhân, năng lực nghề nghiệp, trách nhiệm…

Đây cho dù là con người mơ ước, con người lý tưởng, con người cần được tạo ra trong tương lai nhưng không phải là con người “chân không” mà là con người cụ thể gắn liền với một xã hội được định hướng cụ thể.

Nước Nhật chính thức bắt đầu cải cách giáo dục ở quy mô quốc gia theo mô hình của phương Tây để cận đại hóa đất nước một cách có hệ thống từ năm 1872 khi ban hành “Học chế”. Đây là văn bản quy định hệ thống trường học, nội dung giáo dục và cách thức tiến hành giáo dục cận đại theo mô hình phương Tây của Nhật Bản.

Từ 1872 – 1947 (thời điểm ban hành Luật Giáo dục cơ bản), hình ảnh “xã hội mơ ước” và con người mơ ước” của Nhật Bản đã thay đổi liên tục. Hình ảnh xã hội mơ ước trong 10 năm đầu thời Minh Trị là xã hội “khai sáng, thực nghiệp, phú quốc, cường binh”. Đấy là xã hội sẽ được dựng xây bởi các “quốc dân” có ý thức sâu sắc về sự độc lập của bản thân và quốc gia, có tinh thần khai sáng, học hỏi khoa học kỹ thuật của phương Tây để kiến tạo nước Nhật hùng mạnh, độc lập. Từ 1889 trở đi, xã hội mơ ước được phác họa là “Đại đế quốc Nhật Bản” là “hoàng quốc” mạnh về quân sự, giàu về kinh tế và có vị trí bá chủ ở Viễn đông. Con người được kỳ vọng từ nền giáo dục kiến tạo nên xã hội ấy là các “thần dân trung quân ái quốc”.

Như vậy, có thể thấy đã có một sự chuyển dịch mạnh mẽ và dứt khoát từ hình ảnh “đế quốc” sang “quốc gia hòa bình và dân chủ”, từ “thần dân trung quân ái quốc” sang “người công dân dân chủ” (người làm chủ) trong triết lý giáo dục của Nhật Bản.

Nguyễn Quốc Vương

Tại sao người Việt sống ở nước ngoài lâu vẫn không ứng xử văn minh?

November 14, 2018 Leave a comment

Tại sao người Việt sống ở nước ngoài lâu vẫn không ứng xử văn minh

 

                                                                     Nguyễn Quốc Vương

 

Sự việc một du khách nào đó (mà có khả năng cao là người Việt) viết bậy lên hòn đá cổ trong di tích lịch sử nổi tiếng của Nhật ở tỉnh Tottori được đưa tin rộng rãi trên các phương tiện truyền thông Nhật Bản đã làm cho cộng đồng người Việt trong và ngoài nước quan tâm, bàn luận sôi nổi. Trong quá trình bàn luận, nhiều người đặt ra vấn đề “tại sao người Việt cho dù sống ở nước ngoài lâu vẫn có nhiều người không ứng xử văn minh?”.

 

Đây là vấn đề nhạy cảm, nhạy cảm không phải vì nó thuộc vùng cấm kị mà bởi vì nó là chủ đề dễ gây tự ái hoặc làm cho nhiều người cảm thấy xúc phạm khi nghĩ người viết đã “vơ đũa cả nắm” hoặc có cái nhìn “tiêu cực” đối với cộng đồng người Việt ở nước ngoài.

Cho dẫu vậy, với tất cả những gì đã xảy ra xoay quanh cộng đồng người Việt ở nước ngoài trong những năm gần đây, muốn cải thiện tình hình, chúng ta không thể né tránh chủ đề này.

Với tư cách là người đã sống khoảng 8 năm ở Nhật trong đó có nhiều năm làm bán thời gian trong vai trò thông dịch viên cho các nghiệp đoàn, công ty có sử dụng lao động người Việt, cùng luật sư người Nhật hỗ trợ pháp lý cho những người Việt bị tạm giam, tạm giữ ở Nhật, tôi xin được thử bàn về nguyên nhân người Việt tại sao sống ở nước ngoài lâu mà vẫn hành xử không văn minh và vii phạm pháp luật sở tại.

Tất nhiên, một hiện tượng xã hội không thể chỉ vài trang giấy mà có thể làm rõ hết đầy đủ các khía cạnh. Cần phải có các điều tra xã hội học, nghiên cứu sâu hơn trong một khoảng thời gian đủ lớn, mẫu khảo sát đủ lớn. Ở đây tôi chỉ đưa ra những gì tôi quan sát, trải nghiệm và suy ngẫm để bạn đọc tham khảo.

Thứ nhất, cho dù ở nước ngoài lâu năm nhưng đa số người Việt đi ra nước ngoài học tập, sinh sống khi đã “hình thành giá trị quan” và “lối sống” khá vững chắc. Phần lớn người Việt đi ra nước ngoài học tập, lao động khi đã qua độ tuổi quan trọng để hình thành nhân cách. Họ đã tốt nghiệp trường trung học phổ thông hay tốt nghiệp đại học. Chẳng hạn như cộng đồng du học sinh ở những nơi tôi học ở Nhật (tôi đã học ở hai trường đại học khác nhau ở Nhật), đa phần là những người đến Nhật Bản khi đã tốt nghiệp phổ thông (một số ít) và đa số là đã tốt nghiệp đại học ở Việt Nam. Sau 18-20 năm sống ở một đất nước đang phát triển, những thói quen sinh hoạt, giá trị quan…đã được hình thành khá vững chắc. Những thói quen, giá trị quan đó có thể phù hợp hoặc “không vấn đề gì” khi ở Việt Nam nhưng khi “áp dụng” duy trì nó ở nước ngoài có thể gây ra những rắc rối hoặc vi phạm pháp luật. Ví dụ ở Việt Nam chuyện mang cần câu ra câu cá ở một con sông hay vùng biển nào đó là bình thường nhưng ở Nhật thì “không chỗ nào không có chủ” vì thế có thể sẽ vi phạm pháp luật hoặc ít nhất cũng vi phạm quy chế của địa phương hay tổ chức quản lý. Ví dụ như ở Nhật muốn câu cá ở con sông nào đó có khi phải xin phép và nộp phí (dù nhỏ) cho nghiệp đoàn ngư nghiệp địa phương vì họ quản lý, thả cá giống ra tự nhiên. Ngoài ra muốn đánh bắt cá còn phải đánh bắt đúng thời điểm (mùa), đúng phương pháp. Truyền thông Nhật đã từng đưa tin cảnh sát Nhật ở Tokyo bắt giữ hai người Việt vì đánh bắt cá trên sông bằng lưới có kích cỡ không phù hợp vi phạm luật của Nhật. Một ví dụ nữa là người Việt có thói quen mở đài, loa to, hát karaoke vang đến tận nhà hàng xóm hoặc khu phố. Ở Việt Nam có thể có người khó chịu nhưng về cơ bản người ta thông cảm và chấp nhận thực tế ấy nhưng ở Nhật như thế là đủ để cảnh sát tới làm việc nhắc nhở, ghi biên bản, thậm chí xử phạt.

Những thói quen, giá trị quan đã được hình thành từ nhỏ, trải qua 18-20 năm đã trở nên vững chắc. Nó không thể thay đổi một sớm, một chiều. Đấy là lý do người Việt khi đến nước ngoài vẫn rất “thuần Việt” trong nhiều thói quen xấu và vẫn có giá trị quan xung đột với giá trị quan phổ quát hoặc giá trị quan phổ biến của người bản xứ.

 

Thứ hai, người Việt khi ra nước ngoài hay có xu hướng sống co cụm với nhau tạo ra một cộng đồng giống như một ngôi làng nhỏ. Khi xa quê hương, sự thiếu thốn tình cảm đã làm cho sự đồng cảm giữa những con người chung một ý thức về nguồn gốc, ngôn ngữ, văn hóa trở nên rất mạnh mẽ. Chính vì vậy người Việt dễ làm quen, dễ kết thân với nhau và có xu hướng sống gần nhau để giao lưu, san sẻ và giúp đỡ lẫn nhau. Họ có thể thuê cùng một khu nhà, sống trong cùng một khu phố hoặc ở trọ trong cùng một phạm vi địa lý có bán kính nhỏ hẹp nào đó. Họ tạo ra một cộng đồng người Việt gắn kết với nhau thường xuyên, ở nhiều phương diện. Ưu điểm của lối sống này là họ có thể giao lưu, thắt chặt tình cảm lúc vui buồn và giúp đỡ lẫn nhau trong đời sống. Tuy nhiên hê lụy của nó cũng rất nhiều. Từ quan tâm tới “soi mói đời tư”, “nói xấu sau lưng”, “kéo bè kéo cánh”, từ “giúp đỡ lẫn nhau” tới “đóng cửa tự ti”, “ỷ lại”, “lợi dụng” trong thực tế chỉ cách nhau gang tấc. Kết quả là khi sống quần tụ bên nhau người Việt ít có cơ hội giao lưu, tiếp xúc, thâm nhập sâu vào đời sống của người dân bản xứ. Những người không biết tiếng bản xứ vẫn có thể sống ổn vì có sự giúp đỡ của những người có năng lực giao tiếp với người dân ở đây. Những cộng đồng kiểu này cũng tạo ra môi trường cho những thói quen sinh hoạt, tư duy tiêu cực, không phù hợp tiếp tục bám rễ, phát triển. Có nhiều khi chuyện xả rác bừa bãi, làm ồn khi nhậu nhẹt, hát karaoke ầm ĩ, hay tệ hơn là đi bắt chim thú hoang dã về thịt ăn, trốn vé tàu…cũng nảy sinh trong những lần tụ tập hay xuất phát từ môi trường “làng xã” như thế. Người nọ mách người kia các mánh khóe phản văn minh.

Cho dù không có lũy tre, xung quanh cộng đồng người Việt ở nước ngoài lâu dần cũng đã hình thành một hào lũy vô hình bao bọc, bảo vệ các lề thói cũ và cản trở sự ảnh hưởng tích cực từ thế giới bên ngoài vào. Trong không gian được vây bọc bởi hào lũy đó, sự bảo thủ và vô minh sinh sôi, nảy nở núp dưới bóng tập thể để lấn át và trấn áp những gì tươi mới.

 

Thứ ba, người Việt không có sự chuẩn bị tốt khi ra sống ở nước ngoài và khả năng thích nghi kém. Trừ một số ít trường hợp có bố mẹ làm việc trong môi trường quốc tế hay các sinh viên, học sinh có bố hoặc mẹ là người nước ngoài, đa phần học sinh, sinh viên, người lao động Việt Nam không có nền tảng tốt để sống trong môi trường đa văn hóa. Năng lực ngoại ngữ yếu là một trở ngại. Không rõ ở các cộng đồng khác thế nào nhưng riêng ở Nhật thì tôi thấy rằng tỉ lệ người Việt có thể giao tiếp được bằng tiếng Nhật với người Nhật chỉ chiếm một tỉ lệ vô cùng nhỏ bé. Nhiều du học sinh sang học bằng tiếng Anh và vì thế họ chỉ có thể nói chuyện được với một số lượng người Nhật nhỏ bé bao gồm giáo sư hướng dẫn và một vài người Nhật làm việc ở bộ phận giao lưu quốc tế. Lao động  người Việt sang Nhật cũng không được học tiếng Nhật chu đáo nên hầu như không nghe và nói được. 3 hay 6 tháng học tiếng Nhật ở Việt Nam không có ý nghĩa gì nhiều cho đời sống sản xuất tại nhà máy. Không nói không viết, không đọc được tiếng Nhật khiến cho người Việt gặp phải vô vàn khó khăn trong đời sống tinh thần và không hiểu được văn hóa bản xứ cho dù ở một thời gian người ta dễ có sự nhầm lẫn rằng tất cả những gì người ta nhìn thấy là bản chất của sự vật. Không hiểu biết sẽ dẫn đến hành xử sai hoặc không phù hợp. Trong một lần đi làm thông dịch viên hỗ trợ cho luật sư, tôi đã vô cùng choáng váng khi biết một thanh niên người Việt sang Nhật đã hơn 3 năm mà không nói được một câu gì tiếng Nhật ngoài mấy câu “cảm ơn”, “xin lỗi”, “xin chào” và hoàn toàn không ăn được đồ ăn của Nhật. Anh ta phải nhập viện vì không ăn được cơm trong trại tạm giam của Nhật với lý do “đồ ăn ngọt”. Luật pháp không cho phép anh ta có thực đơn riêng, sau cùng cảnh sát có hỏi tôi để tư vấn. Do không thể cung cấp nước mắm cho anh, cảnh sát đổi nước tương Nhật bằng muối và anh đã ăn trở lại. Thiếu nền tảng kiến thức và công cụ ngoại ngữ để hiểu văn hóa bản xứ đã dẫn đến tình trạng “tự tin quá mức” khi diễn giải văn hóa bản xử qua cái nhìn cảm tính bề ngoài dựa trên những gì nhìn thấy và các nguồn thông tin kiểu “truyền miệng”. Hệ quả tất yếu là dẫn đến làm cho người bản xứ mất cảm tình, gây ra các va chạm không đáng có. So với cộng đồng người Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Indonesia, cộng đồng người Việt có vẻ như thiếu đoàn kết và hội nhập kém hơn.

Cuối cùng, tất cả các nguyên nhân trên tương tác, hòa trộn lẫn nhau tạo ra kết cục người Việt vi phạm pháp luật nước sở tại ở nhiều mức độ khác nhau. Ở Nhật, theo trải nghiệm và quan sát của tôi thì các vụ phạm pháp như trộm cắp,bỏ trốn (thực tập sinh kĩ năng), cư trú bất hợp pháp…chiếm tỉ lệ cao nhất. Tình trạng ấy làm cho không chỉ những người phạm pháp, những người bị tình nghi bị rắc rối, trừng phạt mà những người khác cho dù không làm gì sai cũng phải gánh chịu từ thái độ của người bản xứ tới những hành vi phân biệt đối xử hoặc nghiêm khắc khác. Đấy là một bất lợi rất lớn ngăn cản người Việt phát huy khả năng trong hội nhập cùng cộng đồng quốc tế.

 

 

Vẽ bậy ở di tích lịch sử Nhật Bản: Sự phạm tội hồn nhiên?

November 7, 2018 Leave a comment

 

Dịch giả Nguyễn Quốc Vương cho biết một nhóm sinh viên Nhật Bản đã bị kỷ luật khi ký tên mình vào di tích ở Italy. Hiệu trưởng trường đó còn phải họp báo công khai xin lỗi.

Mấy ngày qua, các tớ báo lớn ở Nhật như Mainichi, Yomiuri, Sankei… đều đưa tin, bài về sự việc du khách nào đó đã khắc các ký tự, ký hiệu lên tảng đá ở khu di tích thành cổ Yonago, thành phố Yonago, tỉnh Tottori, Nhật Bản.

Câu chuyện ở nước Nhật

Thông tin trên các tờ báo này cho hay sự việc được Ban quản lý khu di tích phát hiện vào ngày 30/10. Theo mô tả, du khách đã dùng vật cứng khắc trên tảng đá trong khu di tích chữ “Hào”, hình ngôi sao và trái tim.

Ban quản lý di tích cho biết đây là lần đầu tiên xảy ra việc viết, vẽ bậy tại khu này. Thành phố Yanago, chính quyền tỉnh Tottori và Cục Văn hóa đang xây dựng bản thảo để đề ra phương án phục hồi nguyên trạng tảng đá trong di tích. Cảnh sát thành phố Yonago cũng tiến hành điều tra thủ phạm vì hành vi này đã phạm vào Luật Bảo vệ di sản văn hóa của Nhật Bản.

Ve bay o di tich lich su Nhat Ban: Su pham toi hon nhien? hinh anh 1
Dịch giả Nguyễn Quốc Vương. Ảnh: Quỳnh Trang. 

Thông tin trên đã lan truyền trên các diễn đàn ở Nhật Bản, Việt Nam và thu hút rất nhiều bình luận. Đối với người Nhật, nhìn chung, họ rất sốc trước sự việc này.

Cần phải nhớ lại rằng trước đó vài năm, một nhóm sinh viên Nhật Bản du lịch tại Roma (Italy) từng ký tên mình lên di tích. Khi truyền thông địa phương đưa tin, dư luận nước Nhật đã sôi sục. Sau đó, trường học ở Nhật tìm ra và xử lý kỷ luật sinh viên vi phạm. Người đứng đầu trường phải họp báo công khai xin lỗi.

Trong trường hợp ở khu di tích thành cổ Yonago, ký tự “Hào” được cho là khá giống một chữ trong tiếng Việt.

Dù thế nào, nó rất dễ gợi liên tưởng đến những câu chuyện “không mấy hay ho” mà một số người Việt Nam do thiếu hiểu biết hoặc có nhận thức xấu, đã gây ra trên đất Nhật, làm ảnh hưởng hình ảnh quốc gia, cũng như người khác.

Trong hai năm làm phiên dịch cho luật sư Nhật Bản, tiến hành hỗ trợ pháp lý những người Việt bị tạm giữ, tạm giam tại đây, tôi chứng kiến rất nhiều trường hợp phạm pháp của người Việt mà động cơ ban đầu rất… “lãng xẹt” như “Thấy hay hay thì lấy”, “Em cứ nghĩ rằng làm thế không sao”, “Em nghĩ giá trị nó nhỏ thế có lấy cũng không phạm tội”, “Em thấy cá ở sông dùng lưới bắt thôi, không nghĩ là phạm luật”…

Sống trên đất Nhật nhưng không chịu tìm hiểu pháp luật, phong tục, văn hóa của nước sở tại và hành xử thuần túy theo thói quen tuỳ tiện và cảm tính là nguyên nhân gây ra nhiều rắc rối, làm mất đi thiện cảm của người Nhật. Sau không ít sự việc, những người Việt lương thiện và tuân thủ tốt pháp luật dần bị vạ lây khi gánh chịu ánh mắt soi mói hoặc cái nhìn đầy cảnh giác từ người bản xứ.

Tất nhiên, trong sự việc này, truyền thông nước Nhật rất thận trọng khi đưa tin. Họ chỉ nói ai đó đã viết bậy lên tảng đá ở khu di tích, mà không bình luận hay chỉ ra đó là ngôn ngữ của nước nào, thủ phạm có thể là người nước nào.

Nhưng có lẽ nếu là người Việt, nhìn hình ảnh nói trên, chúng ta không khỏi giật mình. Tuy nhiên, ngẫm cho kỹ, câu chuyện đó ở Việt Nam không phải hiếm hoi.

Câu chuyện ở Việt Nam

Nếu để ý, chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy những dòng chữ, ký hiệu du khách để lại ở các khu du lịch, di tích lịch sử trên cả nước. Đấy có thể là tên người viết, có thể là ngày giờ đến di tích hoặc những ký hiệu “bí ẩn” khác.

Có lần khi vào thăm bảo tàng có tiếng là sạch sẽ và phục vụ tốt ở Hà Nội, tôi rất kinh ngạc khi nhìn thấy những thân cây trúc ở đây bị khắc la liệt tên người và các thông tin khác.

Thậm chí, rất “hồn nhiên”, nhiều người còn khắc lên đó cả email, địa chỉ Facebook, số điện thoại. Có chỗ dưới dòng tên và ngày tháng khắc, người ta còn để lại cả địa chỉ lớp. Đọc kỹ thì thấy ở đó có cả địa chỉ của học sinh, sinh viên các trường trên địa bàn Hà Nội.

Những bạn trẻ khi khắc, viết, vẽ dòng chữ, kỹ hiệu đó nghĩ gì khi làm hành động đó? Có lẽ họ đơn giản chỉ nghĩ “mình đã đến đây rồi thì nên lưu lại gì đó để ghi lại sự có mặt của bản thân”. Giản đơn thế thôi chăng?

Ve bay o di tich lich su Nhat Ban: Su pham toi hon nhien? hinh anh 2
Nhân viên tại khu di tích Yonago (tỉnh Tottori, Nhật Bản) phát hiện nhiều chữ viết bằng tiếng Nhật và Latin nguệch ngoạc trên các tảng đá. Nổi bật trong số đó là chữ “Hào” có kích thước khoảng 60 cm. Ảnh: Mainichi.

Xét về mặt tâm lý, chuyện muốn lưu lại dấu ấn, đánh dấu sự có mặt của mình ở một địa điểm nào đó rất dễ hiểu. Chẳng hạn nhìn theo chiều dài lịch sử, người ta dễ dàng nhận ra loài người ở nhiều khu vực khác nhau đã để lại các dấu hiệu trên vách đá, ngọn núi họ đã chinh phục.

Tuy nhiên, trong thế giới văn minh ngày nay, bất cứ di tích nào được công nhận, bảo vệ sẽ có nội quy và được pháp luật bảo hộ. Việc “hồn nhiên phạm tội” bằng cách viết vẽ bậy khó có thể chấp nhận.

Để viết một chữ số, cái tên hay vẽ vài hình thù đơn giản lên một tấm bia, tảng đá, bức tường ở khu di tích nào đó, du khách chỉ cần mất vài phút, thậm chí vài giây, rất đơn giản. Nhưng để khắc phục, xóa đi ký hiêu đó sẽ rất vất vả, tốn kém, khó khăn, thậm chí là bất khả thi.

Ví dụ, đối với những dòng chữ các bạn trẻ đã khắc, viết lên trên thân trúc trong bảo tàng kia, làm thế nào để xóa được? Người ta không thể cạo trắng thân cây hay chặt đi cây trúc ấy vì thế. Những dòng chữ nham nhở cứ trơ ở đó rất phản cảm. Hơn nữa, thiếu gì cách ghi lại dấu ấn nơi mình đã đến như chụp ảnh, quay phim, mua quà lưu niệm, đóng góp một khoản tiền tu bổ di tích?

Một người làm, hai người làm không sao, nhiều người làm theo và mọi thứ trở thành bình thường. Không chỉ là di tích ở Việt Nam, chuyện viết, vẽ bậy vào nơi không được phép, không thuộc sở hữu của mình rất phổ biến.

Hãy thử nhìn ra những cây cột điện, bức tường ngoài phố xem sao? Có phải chăng trên đó nham nhở cũ mới không biết bao nhiêu lần dòng chữ kiểu như “Khoan cắt bê tông”, Thông hút bể phốt hầm cầu”, “Cứ alo là có tiền”…

Ngay cả ở quê, bức tường nhà tôi cũng trở thành nạn nhân khi một sáng mẹ thức dậy, thấy kẻ nào đó đã điềm nhiên viết một dòng chữ dài to tướng chính giữa bức tường gạch đỏ: “Taxi… phục vụ 24/24. Hãy gọi số…”.

Tình trạng ấy nói lên rất nhiều điều trong tư duy và lối sống của người Việt. Đó có thể là vấn đề về mỹ học, nhận thức sở hữu, nhận thức về không gian công cộng, nhận thức luật pháp… và có thể là sự tổng hợp của tất cả vấn đề ấy. Thậm chí, ngẫm kỹ thì vấn đề lớn nhất có khi nằm ở chính thực tế này.

Tại sao chỉ vài ký tự viết trên tảng đá trong khu di tích lịch sử mà sự việc đó ở Nhật trở thành vụ án đang được cảnh sát điều tra, trở thành tâm điểm của truyền thông? Trong khi đó, ở ta, nếu xảy ra chuyện tương tự (như nó vẫn đang xảy ra hàng ngày), sự việc lại bị bỏ qua, lãng quên, thậm chí được coi là bình thường?

Phải chăng đấy mới là vấn đề lớn nhất của chúng ta?

Ông Nguyễn Quốc Vương là nghiên cứu sinh tiến sĩ về giáo dục lịch sử tại ĐH Kanazawa, Nhật Bản. Ông từng là giảng viên khoa Lịch sử, ĐH Sư phạm Hà Nội, hiện là người dịch, viết chuyên nghiệp và hỗ trợ phong trào phát triển văn hoá đọc tại Việt Nam.

Ông viết và dịch nhiều cuốn sách về giáo dục như Giáo dục Việt Nam học gì từ Nhật Bản? (2017), Môn Sử không chán như em tưởng (2017), Nước Nhật nhìn từ những thứ bình thường (2016), Đi tìm triết lý giáo dục Việt Nam (2017)

Nguồn: https://news.zing.vn/ve-bay-o-di-tich-lich-su-nhat-ban-su-pham-toi-hon-nhien-post890169.html

NÊN ĐI ĐẾN THÀNH CÔNG BẰNG VƯƠNG ĐẠO HAY BÁ ĐẠO?

July 6, 2018 Leave a comment

Trong hai ngày di chuyển bằng xe buýt và đứng trên xe tôi đã đọc xong cuốn sách mỏng “Con đường đi đến thành công bằng sự tử tế-vương đạo cuộc đời”.

Tác giả của cuốn sách là Inamori Kazuo, người sáng lập công ty Kyocera và công ty KDDI, nguyên chủ tịch Japan Airlines.

Con-Đường-Đi-Đến-Thành-Công-Bằng-Sự-Tử-Tế-301x450

Người dịch cuốn sách này là chị Nguyễn Đỗ An Nhiên, một người được đào tạo bài bản về ngôn ngữ và Nhật Bản học, nhiều năm trải nghiệm cuộc sống ở Nhật Bản và môi trường văn hóa Nhật.

Trong cuốn sách tác giả bàn về lẽ sống, mục đích đích thực của đời người là gì, con đường nào dẫn doanh nhân và từng người đến thành công.

Theo ông thì lẽ sống vì mọi người, vì tha nhân là ngọn đèn dẫn dắt và duy trì thành công.
Để có được thành công, đặc biệt là duy trì thành công thì con người, đặc biệt là người lãnh đạo công ty, quốc gia, tổ chức phải biết “khắc kỷ”, chế ngự lòng tham, dục vọng để liên tục nâng tầm bản thân về tri thức, đạo đức, nhân cách.

Thực chất, cuốn sách là sự diễn giải và minh họa bằng ví dụ thực tiễn từ cuộc đời ông cho các luận điểm được nêu ra trong cuốn Nanshu O I kun (Nam Châu Ông di huấn)-cuốn sách tập hợp những lời dạy của Saigo Takamori được học trò và người hâm mộ ghi chép lại và xuất bản sau khi ông qua đời.

Saigo Takamori là võ sĩ phiên Satsuma, người nắm giữ vai trò là đại tướng, tổng tư lệnh quân đội thiên hoàng Minh Trị trong cuộc chiến đảo mạc lật đổ Mạc phủ Tokugawa để lập chính phủ mới, cũng là người chủ trương và thực thi “bãi phiên lập tỉnh” để lập ra chế độ hành chính hiện đại ở Nhật.

Đặc biệt trong cuốn sách cũng nhắc lại câu chuyện Saigo Takamori chấp nhận giảng hòa với tổng tư lệnh quân Mạc phủ để sau đó đưa quân nhập thành Edo trong hòa bình tránh một cuộc đổ máu huynh đệ tương tàn không cần thiết.

Về chuyện này tôi đã kể một hai lần trên Facebook. Trong cuốn sách về lịch sử Nhật Bản chưa xuất bản của mình, tôi cũng dành cho Saigo một chương quan trọng.

Ở đây, trong cuốn sách này cũng kể lại một chuyện khác tương tự nói lên tinh thần cao thượng, khoan dung của người Nhật, xứng đáng ngang ngửa với người Mĩ sau cuộc nội chiến và nhuốm màu võ sĩ đạo.

Xin trích nguyên văn:

“ Phiên Shonai đầu hàng toàn diện sau cuộc chiến với tân chính phủ. Việc phe giành chiến thắng tịch thu vũ khí phe thua trận là chuyện bình thường. Nhưng Saigo đã bắt quan quân mình bỏ dao kiếm, vào phiên Shonai không vũ khí trên tay. Vừa là cách đề phòng binh lính, võ sĩ hiếu chiến gây bạo loạn, vừa để bày tỏ thái độ tôn trọng kẻ bại trận. Kẻ thắng buông vũ khí, kẻ thua lại được phép-người Shonai ngạc nhiên là vì vậy”.

Không cần diễn giải gì nhiều, bản thân câu chuyện này sẽ gợi lên những người có hiểu biết về lịch sử sự lay động đến tận tâm can.

Saigo cũng chính là nhân vật được lấy làm nguyên mẫu trong bộ phim nổi tiếng của Holly Wood-“The last samurai”-Võ sĩ cuối cùng.

Người Việt hiện nay nên đọc cuốn sách này. Đọc để hiểu người Nhật, nước Nhật.

Có một thực tế đáng tiếc là trong suốt 2700 năm qua và đặc biệt là từ thời Edo (1603-1867) trở đi sách vở của Nhật Bản được xuất bản rất nhiều nhưng người Việt-cho dù quan tâm đến Nhật, ngưỡng mộ Nhật lại đọc rất ít. Số người đọc được nguyên tác cũng ít mà các bản dịch cũng ít. Trong số các sách được dịch thì lại có một tỉ lệ rất lớn sách thuộc dòng giải trí thuần túy. Giải trí bản thân nó không có gì là xấu nhưng muốn hiểu Nhật mà chỉ đọc nó thì chẳng khác gì chỉ nhìn được vẻ bề ngoài.

Saigo Takamori và Sakamoto Ryoma là hai nhân vật được rất nhiều nhà lãnh đạo, thương gia, người dân và đặc biệt là phụ nữ Nhật yêu mến.

Cả hai đều là võ sĩ.

Có lẽ tác giả Nitobe Inazo đã đúng khi dự đoán về tương lai của võ sĩ đạo. Càng ngày, khi văn minh vật chất và xã hội hậu công nghiệp phơi bày những tiêu cực, con người càng nhận chân hơn giá trị thực sự của đời người và những thứ vốn chị chỉ trích là “giáo huấn”, không thiết thực dần dần được khẳng định trở lại (có thể đọc tham khảo Võ sĩ đạo-linh hồn của Nhật Bản, Lê Ngọc Thảo dịch). Trong số đó có giá trị sâu thẳm thuộc về nội tâm, đạo đức con người-những thứ vốn ngay từ khi thoát khỏi tình trạng dã man sơ khai, con người đã nhận ra và bàn luận cho dù là ở Nho giáo, Phật Giáo hay Thiên chúa giáo.

võ sĩ đạo

Xin trích lại đây lời giới thiệu của NXB Trẻ ở những trang đầu cuốn sách để khép lại bài viết này:

“Và quan trọng hơn cả, hai nội dung trong sách đều xuất phát từ những ưu tư của những công dân yêu nước tột cùng. Saigo Takamori trăn trở trước những thay đổi của xã hội Nhật đương thời khi đương đầu với văn minh Âu-Mỹ, Inamori Kazuo trăn trở trước những nhiễu nhương của xã hội Nhật Bản hiện đại trên đường chạy gìn giữ vị trí cường quốc kinh tế. Vậy mà lạ thay, hai xã hội Nhật Bản ở cả hai thời đại khác nhau xa hàng trăm năm ấy đều là hai xã hội, hai thời kỳ mà người Việt Nam ta đang ngưỡng mộ, đang khát khao vươn đến”.

Tôi đánh giá cao người chấp bút viết những dòng trên ở sự cách đặt vấn đề.

Vấn đề nói trên phản ánh một sự thật mà chúng ta có lẽ muốn né tránh-người Việt vẫn đang trong trạng thái chưa trưởng thành vì chưa hiểu được người và chưa hiểu được mình. Người Việt ngưỡng mộ nước Nhật suốt từ những năm giữa thế kỉ XIX nhưng ngưỡng mộ cũng chỉ dừng ở đó, người Việt thực sự chưa hiểu nước Nhật, người Nhật hoặc thậm chí người Nhật hiểu người Việt, nước Việt hơn người Việt hiểu về nước Nhật. Sợ hơn, có bạn còn bảo tôi rằng “có lẽ người Nhật còn hiểu chúng ta hơn chính bản thân chúng ta hiểu về mình”.

Tôi lưỡng lự trước ý này nhưng cho rằng đấy là nguy cơ rất thực.

Học hỏi, nhìn lại bản thân và thực hành điều mình hoc được một cách nghiêm túc trong sự giác ngộ cao về đích đến của nhân sinh là con đường vương đạo để giải quyết vấn đề ấy ở phương diện cá nhân.

Xã hội suy cho cùng cũng chỉ là từ các cá nhân hợp lại trong mối quan hệ phức hợp mà thành. Sự chuyển biến của từng cá nhân sẽ tạo ra sự chuyển biến tích cực của xã hội. Phải chăng đấy là lối đi cho những cá nhân đang phải sống trong trạng thái hỗn mang, là cách cống hiến cho xã hội của những con người sống trong xã hội đang phải đối mặt với những vấn đề cơ bản và ngày một trầm trọng.

Gấp sách lại rồi, tôi vẫn suy nghĩ mãi về điều đó.

 

NÊN HỌC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM HAY ĐI DU HỌC NHẬT BẢN TỰ TÚC?

July 2, 2018 Leave a comment

 

Trong buổi thuyết trình về “giáo dục nghề nghiệp ở Nhật Bản” thứ bảy vừa qua, ở phần thảo luận có một bạn gái đứng lên hỏi tôi như sau”

“Em thưa thầy, em vừa thi tốt nghiệp THPT quốc gia xong và có ý định đi du học Nhật Bản. Mẹ em thì ủng hộ nhưng bố em lại cho rằng em nên học hết đại học ở Việt Nam sau đó hãy đi. Thầy có thể đưa ra lời khuyên gì cho em?”.

Tôi không phải là người được đào tạo về nghiệp vụ tư vấn, cũng như chưa từng làm việc cho trung tâm tư vấn du học nào. Khi về nước, có hai nơi thú thật tôi rất ngại đó là trung tâm tư vấn du học và trung tâm xuất khẩu lao động. Đơn giản vì tôi không có thời gian và sức lực để tìm hiểu kĩ và nắm được hoạt động của họ do vậy nếu cộng tác tôi e ngại trong vô tình mình có thể tiếp tay cho những điều xấu cho dù tôi biết có những nơi vẫn làm ăn nghiêm túc và có lý tưởng riêng.

Trở lại câu hỏi của bạn trẻ nói trên, tôi sẽ đưa ra lời khuyên dựa trên những gì tôi biết khi học, làm việc ở Nhật và bằng chính trải nghiệm đau thương của mình.

Trước hết tôi đặt ra một loạt câu hỏi cho bạn trẻ.
– Em đi học dưới dạng tự túc hoàn toàn, tự túc một phần hay có học bổng?

– Em sẽ vào học trường nào, ở đâu?

– Nguồn tài chính em lấy ở đâu? Mức độ thế nào?

– Em hiểu gì về đời sống ở Nhật?
Phần trả lời của em gái cung cấp một số thông tin sau:

– Em đi du học tự túc và sẽ học trường tiếng Nhật.

– Hình thức du học: tự túc hoàn toàn

– Phương án tài chính: bố mẹ hỗ trợ chi phí đi và sau khi sang Nhật ổn định bạn sẽ tự chủ dần tài chính thông qua việc đi làm thêm.

 

Sau khi có thông tin trên, tôi tiếp tục đặt ra cho em vài câu hỏi khác

– Em có biết một tháng trung bình em cần bao nhiều tiền để sinh sống ở Nhật? Nó bao gồm những khoản nào?

– Em có biết theo luật hiện hành một du học sinh sẽ được làm việc bao nhiêu tiếng/tuần? mỗi tiếng được bao nhiêu tiền và làm những việc gì?

– Em có định trước được những khó khăn mình sẽ phải đối mặt khi sang Nhật: khả năng tự lập? khả năng chống lại và vượt qua cô đơn?

 

Các câu trả lời của bạn gái đưa ra cho thấy em chưa biết thông tin gì nhiều về cuộc sống ở Nhật. Đặc biệt thông tin về tài chính thậm chí có màu sắc ảo tưởng nguy hiểm giống như thông tin từ các trung tâm giới thiệu “du học vừa làm vừa học thu nhập 40 triệu/tháng”.
Thực ra con số 40 triệu tiền việt nói trên là có thể và với người Việt nó ghê gớm nhưng ở Nhật nó chẳng là gì. Trung bình một du học sinh sẽ tiêu khoảng 10-20 triệu tiền cho học phí/tháng, ăn uống, ở, bảo hiểm mất khoảng 14-20 triệu/tháng. Đấy là con số không nhỏ. Cộng với số tiền đi khoảng 150-200 triệu. Cộng lại số tiền đó là bao nhiêu?

 

Trong khi đó để kiếm tiền thì tiền đề phải là:

– Ý chí (đơn giản vì việc dễ sinh viên Nhật làm hết rồi, du học sinh sẽ phải làm việc 3K là chính (nguy hiểm, bẩn, khắc nghiệt)

– Sức khỏe (có đủ sức làm liên tục 5-8 tiếng, phải đứng trong nhiều giờ liền và làm việc hết công suất không?)

– Tiếng Nhật (đương nhiên, tiếng càng dốt nguy cơ phải làm trong môi trường 3K nói trên càng cao). Trình độ tiếng Nhật bạn gái nói trên là N5 tức là ở dạng hết sức sơ khai. Nên nhớ có người lấy được N2 thậm chí N1 ở VN sang Nhật thời gian đầu cũng không hiểu được người Nhật nói gì và không nói lại được.

– Tuân thủ luật pháp: Luật Nhật thắt ngày càng chặt. Để đi làm dưới visa du học sinh bạn phải đến Cục xuất nhập cảnh của Nhật xin giấy phép. Họ thẩm tra tư cách và cấp nhanh chóng. Tuy nhiên bạn chỉ được làm 28 tiếng/tuần. Tiền lương 1 tiếng khoảng 800-1000 yên. Như vậy một tháng bạn kiếm được 28 x4 x 1000 (tính tối đa) =112.000 Yên (Khoảng 22 triệu đồng).

 

Như vậy, nếu như bạn được làm việc trong điều kiện lý tưởng nói trên thì bạn kiếm được đủ số tiền ăn, ở. Tuy nhiên đừng lãng mạn hóa vì 1000 yên/giờ là mức lương của phiên dịch viên cho các nghiệp đoàn lao động ở Nhật. Còn lại muốn kiếm 1000 yên/giờ hoặc là bạn phải rất giỏi tiếng Nhật và hiểu văn hóa Nhật hai là bạn phải đổi sức khỏe lấy tiền khi làm việc trong đêm khuya hoặc môi trường độc hại.

 

Tất nhiên, tôi biết rất nhiều du học sinh Việt Nam khác chọn con đường làm nhiều việc, làm lậu, làm quá giờ và nhận tiền mặt để qua mặt cơ quan chức năng của Nhật.
Việc này tiềm ẩn rủi ro là khi bị phát giác bạn sẽ bị xử lý bằng cách cho về nước và vô hiệu hóa visa. Bên cạnh đó khi làm việc bất hợp pháp bạn có nguy cơ bị đối xử không công bằng, bị lạm dụng (đủ thứ) hoặc rủi nữa là khi bị tai nạn lao động thì không có ai chịu trách nhiệm.
Đặc biệt, gần đây xảy ra nhiều vụ đột tử của thực tập sinh và du học sinh Việt Nam. Lý do không nói cũng hiểu đó là họ đã LÀM VIỆC QUÁ SỨC và SỐNG TRONG ĐIỀU KIỆN KHÔNG TỐT TRONG THỜI GIAN DÀI. Nhiều vụ rất thương tâm.

 

Hơn nữa, khi đi làm mệt mỏi bạn sẽ không có khả năng tập trung cho việc học. Rất nhiều sinh viên trường tiếng lên trường chỉ để điểm danh rồi…ngủ.

Kết quả là không thể cải thiện, nâng cao trình độ tiếng Nhật. Có bạn tốt nghiệp trường tiếng mà vẫn như “mù tiếng Nhật’’.

 

Kém tiếng Nhật đồng nghĩa với việc rất khó thi, học lên cao để kéo dài visa…

 

Và nữa, cái này cũng nguy hiểm.
Khi khó khăn về tài chính, bạn sẽ dễ trở thành mục tiêu của các băng nhóm. Họ lôi kéo, dẫn bạn vào con đường phạm tội (lừa đảo, trộm cắp, vận chuyển, tiêu thụ đồ ăn cắp, lừa đảo).

Trong 2 năm làm phiên dịch cho luật sư người Nhật, tôi đã gặp rất nhiều bạn du học sinh và thực tập sinh rơi vào tình cảnh này.
Có nhiều hoàn cảnh rất thương tâm: Bị bắt khi bạn gái có bầu 5 tháng và đang chuẩn bị làm lễ cưới.

 

Như vậy, lời khuyên của người bố “học xong đại học rồi qua Nhật” không phải là không có lý vì khi đó bạn gái kia có đủ thời gian tìm hiểu, trải nghiệm cuộc sống tự lập, nâng cao hiểu biết và khả năng tiếng Nhật trước khi đi.

Tất nhiên, mọi khả năng đều để mở. Tương lai thuộc về người can đảm và có lỷ tưởng. Nếu như bạn gái kia sau khi nắm rõ, suy nghĩ rất kĩ về các rủi ro mà quyết tâm vẫn cao ngút trời, máu trong trái tim vẫn sôi 100 độ và muốn ngâm “Muốn vượt bể đông theo cánh gió/muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi” thì tôi nghĩ, bạn nên sẵn sàng Đông du vào ngày mai.

Can đảm khác liều mạng ở chỗ người can đảm là người làm điều gì đó sau khi đã cân nhắc tất cả những rủi ro, khó khăn, hi sinh mà mình sẽ phải chịu đựng. Kẻ liều mạng là kẻ chỉ quyết định dựa trên cái tưởng tượng của chính mình, sự xúi bẩy của kẻ khác hoặc sự tác động của “phong trào”.
Liều mạng khi gặp khó khăn sẽ tạo ra bi kịch và thất vọng dẫn tới gục ngã.
Tất nhiên trong thực tế thì người ta cũng có thể chuyển hóa từ “Liều mạng” hoặc “ngây thơ” thành can đảm. Điều này tùy thuộc vào khả năng trưởng thành và ý chí của chính cá nhân đó trong thực tế được tôi luyện.

Nhưng khả năng đó thấp bởi vì những người có khả năng chuyển hóa đó hầu hết là những người trước đó đã có bản lĩnh hoặc tiền đề nhất định.
Tất nhiên, mọi lời khuyên đều chỉ để nghe, quyết định cuối cùng là ở người đi. Con đường của mỗi người là do chính người đó tự tạo ra không ai quyết định thay được. Quan trọng là dám chịu trách nhiệm về bước chân của mình. Nếu nghĩ như vậy, việc ngăn cản từ bên ngoài tự nó không có nhiều ý nghĩa.

 

Nguyễn Quốc Vương

CHA MẸ LÀM GÌ ĐỂ ĐỒNG HÀNH CÙNG CON?

June 27, 2018 Leave a comment

 

Sau một thời gian dài bị lãng quên, giáo dục gia đình ở Việt Nam trong khoảng hơn một thập kỉ trở lại đây được chú ý trở lại. Sự hình thành của gia đình hạt nhân và lối sống đô thị là những yếu tố tác động tạo ra sức nóng trong mối quan tâm của các bậc cha mẹ đối với giáo dục gia đình.

20196_pk01

Tuy nhiên, đó không phải là lý do chủ yếu.

Lý do chủ yếu nhất, có lẽ nó xuất phát từ sự ý thức về vai trò của giáo dục gia đình khi cha mẹ tham chiếu tình hình của trường học hiện tại với viễn cảnh tương lai của con cái họ. Sự khủng hoảng triền miên không lối thoát của giáo dục trường học đã làm cho phụ huynh ngày một ý thức hơn về vai trò của gia đình đối với sự trưởng thành của con.

Các cuộc hội thảo về giáo dục gia đình được tổ chức thường xuyên hơn và sách vở “nuôi dạy con” được xuất bản rất phong phú.

Tuy nhiên, có rất nhiều cha mẹ cảm thấy lúng túng vì cảm thấy mình đã đọc nhiều sách, tham gia nhiều hội thảo, áp dụng phương pháp nọ phương pháp kia mà con cái của họ không tiến bộ.

Nhiều người cảm thấy việc tiếp cận thông tin hay học hỏi chỉ làm cho bản thân cảm thấy hoang mang, mỏi mệt.

Tâm lý ấy rất dễ hiểu. Hoang mang, mỏi mệt là trạng thái tất yếu trên con đường phụ huynh tìm đến được trạng thái giác ngộ về vai trò của bản thân đối với sự trưởng thành của con.

Quá trình đó tuyệt nhiên không phải là quá trình đơn giản, một sớm một chiều.

Giáo dục không phải là công việc sáng gieo hạt chiều hái quả. Nó cần đến thời gian để kiểm nghiệm.

Và ở đây, có một điều tôi muốn nhấn mạnh, sự ảnh hưởng có tính chất giáo dục từ phía phụ huynh tới con chỉ có thể có được và có được một cách hiệu quả khi chính bên trong bản thân phụ huynh có sự vận động, chuyển hóa về chất. Sự chuyển hóa đó sẽ diễn ra ở thái độ, mối quan tâm, tư duy và cuối cùng thể hiện trong hành động của phụ huynh ở cả trạng thái có ý thức và vô thức.

Nói một cách đơn giản, muốn con thay đổi tích cực, cha mẹ phải nỗ lực thay đổi tích cực. Sự nỗ lực không ngừng của cha mẹ trong tư duy khi vượt thoát khỏi các giáo điều, định kiến; sự bền bỉ vượt khó trong công việc và cuộc sống hàng ngày sẽ tác động đến con.

Tất nhiên, để làm được điều đó, bạn sẽ cần đến cảm hứng, cần đến sự động viên thậm chí là những hình mẫu.

Bạn có thể tìm thấy các hình mẫu đó ngoài đời thực hoặc trong sách vở. Nếu bạn muốn tìm một hình tượng có thực được mô tả trong sách vở, tôi nghĩ Dương Văn, tác giả “Mẹ luôn đồng hành cùng con”, sẽ là một ví dụ gợi nhiều cảm hứng.

Đọc sách của bà, cho dù sách hướng dẫn rất nhiều biện pháp cụ thể để nuôi dạy con được rút ra từ kinh nghiệm nuôi dạy cậu con trai Hạ Dương, tôi lại đặc biệt chú ý đến cuộc đời và những nỗ lực không ngừng để thay đổi bản thân của bà. Đây có lẽ là yếu tố tạo nên thành công của bà và gia đình trong cả sự nghiệp và việc nuôi dạy con.

Nhìn vào tiểu sử tóm lược của bà ở vào thời điểm cuốn sách ra đời (2007) bạn đọc hiển nhiên sẽ trầm trồ ngưỡng mộ:

– Đã từng du học Anh để học tập và nghiên cứu phương pháp dạy tiếng Anh cho trẻ em

– Trở thành hội viên Trung Quốc đầu tiên của Hiệp hội giáo viên quốc tế giảng dạy tiếng Anh cho thiếu nhi.

– Bộ sách tiếng Anh cho trẻ em do bà chủ biên được sử dụng trong giảng dạy liên tục 10 năm ở các trường mầm non trên toàn Trung Quốc.

– Phương pháp dạy tiếng Anh trực quan cho trẻ em của bà được đưa vào danh sách mười cách dạy ngoại ngữ của Trung Quốc đương đại.

– Môn học Phương pháp dạy tiếng Anh cho trẻ em do bà giảng dạy được bình chọn là môn học tiêu biểu cấp quốc gia của Bộ giáo dục Trung Quốc.

– Sáng lập và lãnh đạo Học viện Anh tài Sơn Đông, một trường đại học dân lập với 20. 000 sinh viên…

– Con trai Hạ Dương của bà hiện là Nghiên cứu sinh tại đại học Cambridge.

Nhìn vào đây nhiều người nghĩ bà là người may mắn hoặc sinh ra trong gia đình có điều kiện tốt. Nhưng sự thật ngược lại, để có được những thứ trên bà đã nỗ lực không ngừng để thay đổi số phận.

Bà đã tự tổng kết ngắn gọn cuộc đời mình trong sách: “Từ một cô công nhân dệt may, tôi đã trở thành tiến sĩ, giáo sư, người sáng lập ra học viện dân lập với hơn 20. 000 sinh viên”.

Tôi đặc biệt ấn tượng với những gì bà kể lại về sự nỗ lực của bản thân trên con đường học tập. Xin trích lại đây những đoạn mô tả đầy sinh động đó.

“Trong thung lũng nọ, một đêm tối đen như mực, mưa gió, sấm chớp đầy trời, một cô gái 17 tuổi vai đeo ba lô, một mình đi qua nghĩa địa để tham gia lớp học bổ túc trên huyện chuẩn bị cho kỳ thi đại học. Cô gái ra sức bấm móng tay vào cổ tay mình, để cảm giác đau đớn xóa đi nỗi sợ hãi trong lòng. Đó chính là tôi-cô thợ may ngoài giờ làm việc, vì ước mơ trở thành sinh viên đại học mà miệt mài phấn đấu…Sau khi tốt nghiệp trường Trung học phổ thông Nhất Trung-Đức Châu, tôi được cử đến làm việc tại một xưởng may với mấy chục công nhân và mấy chục chiếc máy khâu”.

“Tối đến tôi đi ngủ sớm, nhờ nhân viên phục vụ gọi tôi dậy vào lức ba giờ sáng hôm sau. Lúc ấy đang giữa đông, ngoài hành lang rét căm căm, mình tôi ngồi đọc sách dưới ánh đèn lờ mờ, cô phục vụ tốt bụng phá lệ cho tôi vào phòng trực ban ngồi học. Học đến sáu giờ sáng, tôi lại cùng đồng nghiệp ra xe để đi làm”

“Tôi đọc sách trong thư viện của trường, buổi trưa thư viện đóng cửa, tôi liền năn nỉ các cô nhân viên khóa trái tôi trong phòng. Đói thì ăn tạm cái màn thầu cứng ngắc, mệt thì ngả lưng xuống ghế chơp mắt một lát, tỉnh dậy lại học tiếp. Lúc ấy, vì việc học mà tôi hiếm khi được ăn bữa cơm nóng hay được ngủ trọn được mấy tiếng đồng hồ, nói gì đến chuyện giải trí và trang điểm”.

Cho dù người phụ nữ thành công trong công việc và được giải phóng đến đâu, vai trò nuôi dạy con của họ trong gia đình vẫn rất lớn và không thể thay thế. Bà Dương Văn ý thức sâu sắc về điều đó, vì thế trong vai trò một người mẹ, bà luôn nỗ lực để thay đổi bản thân.

Bà tâm niệm: “Cha mẹ phải làm gương cho con. Trong gia đình, mọi lời nói, hành động của cha mẹ đều trở thành đối tượng để con trẻ bắt chước . Chính vì vậy, muốn thực hiện tốt vai trò người làm gương, cha mẹ phải không ngừng tu dưỡng bản thân, song song với quá trình nuôi dạy con, còn cần phải tự giáo dục mình”.

Chính vị vậy ngay từ khi con chào đời hai vợ chồng bà đã hạ quyết tâm: “Hai vợ chồng tôi đã dồn hết mọi tình yêu thương và niềm hi vọng cho con. Trước hết, chúng tôi quyết tâm làm một người người cha, người mẹ có trách nhiệm. Chỉ khi được sống trong một gia đình có trách nhiệm, con trẻ mới cảm nhận được sự an toàn trong tương lai. Khi ôm cậu con trai bé bỏng trong lòng, chúng tôi quyết tâm dùng sự nỗ lực của mình để đem lại cho con một gia đình tràn ngập tình yêu thương và ấm cúng”.

Lý giải thành công của mình bà viết: “Tôi thừa nhận, tôi không phải là người thông minh bẩm sinh, nhưng tôi là một người rất nỗ lực”

Đấy có là chân lý giản đơn nhưng cần thiết cho tất cả các bậc phụ huynh.

Tất nhiên, không phải phụ huynh nào cũng có khả năng trí tuệ và có thể nỗ lực trở thành giáo sư đại học và nuôi con trở thành nghiên cứu sinh đại học Cambridge như Dương Văn.

Cuộc sống muôn màu, mỗi gia đình mỗi hoàn cảnh và mỗi cá nhân đều có những giá trị riêng không phụ thuộc hoàn toàn và bằng cấp hay địa vị xã hội. Tuy nhiên, cho dù ở hoàn cảnh nào hay thậm chí là nghịch cảnh nào, việ cho con thấy nỗ lực không ngừng của bản thân để thoát ra sự trói buộc của số phận rất quan trọng. Những câu chuyện về những học sinh, thanh niên đạt được thành tích tốt hoặc làm được những điều phi thường trong khi bố mẹ làm những nghề bình thường hoặc gia đình nghèo khó, đang trong nghịch cảnh mà chúng ta nghe, chứng kiến hàng ngày cũng là những ví dụ chứng minh điều đó.

Sau khi xuất bản tại Trung Quốc, cuốn sách đã được tái bản 20 lần, được bình chọn là cuốn sách bán chạy nhất của NXB Trung Tín năm 2007 và cũng là một trong 10 cuốn sách về giáo dục gia đình bán chạy nhất ở Trung Quốc năm 2007. Thông tin ấy nói lên rằng cuốn sách của Dương Văn đã làm cho các bậc phụ huynh Trung Quốc cảm động. Trong sự cảm động ấy chắc chắn có sự đồng cảm với triết lý cha mẹ phải tự thân nỗ lực để làm gương và tạo nguồn cảm hứng cho con.

Để khép lại bài viết này, xin được trích lại ở đây lời khuyên của bà mà tôi nghĩ sẽ vô cùng hữu ích cho chúng ta trong cuộc sống hiện nay:

“Cha mẹ là người có ảnh hưởng sâu sắc đối với con trẻ trong quá trình trưởng thành. Trong quá trình này, rất nhiều kiến thức, khả năng, trí tuệ hay tính cách, phẩm chất đạo đức, tác phong và khuynh hướng của trẻ đều được hình thành dưới sự ảnh hưởng của cha mẹ. Không ngừng học tập, học tập suốt đời là một thái độ sống. Cùng là đứa trẻ đó, nếu được lớn lên trong gia đình theo mô hình học tập và môi trường không đề cao sự học tập, sau 8-10 năm, lượng thông tin mà trẻ tiếp nhận sẽ khác nhau, thói quen, trí tuệ, trải nghiệm…cũng sẽ khác nhau, số phận con người có thể cũng vì thế mà có sự thay đổi”.

Hà Nội, 27/6/2018

%d bloggers like this: