Archive

Posts Tagged ‘cải cách giáo dục Nhật Bản’

Yếu tố tạo ra thành công của cải cách giáo dục Nhật Bản

August 2, 2015 Leave a comment

02/08/15 07:51

(GDVN) – Trong hai cuộc cải cách giáo dục lớn ở Nhật Bản có vai trò của các chuyên gia giáo dục nước ngoài đã có một vai trò không thể phủ nhận.

LTS: Bài viết dưới đây là của Thạc sĩ Nguyễn Quốc Vương (giảng viên khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội, hiện đang là nghiên cứu sinh ngành giáo dục lịch sử, Đại học Kanazawa – Nhật Bản).

Ông nêu nhiều luận điểm sẽ cho độc giả một khía cạnh và tầm quan trọng của các chuyên gia giáo dục nước ngoài đối với sự nghiệp phát triển giáo dục trong nước.

Nhật Bản là một đất nước tiêu biểu cho việc thu hút chuyên gia giáo dục nước ngoài từ thời Minh Trị. Từ một nền giáo dục lạc hậu, phân tán, nhờ biết cách “tận dụng” chất xám các chuyên gia mà giáo dục Nhật Bản có được những thành tựu như ngày nay.

Trân trọng giới thiệu cùng độc giả.

Trong bất cứ một cuộc cải cách giáo dục lớn nào khi xây dựng đề án cải cách về cơ bản cũng sẽ bao gồm hai công việc chính: Điều tra, phân tích rõ những hạn chế của nền giáo dục hiện hành và thiết kế diện mạo của nền giáo dục mới.

Tuy nhiên, những bất cập kéo dài của nền giáo dục hiện hành cũng thường gây nên tình trạng thiếu các chuyên gia đủ năng lực và bản lĩnh để tiến hành hai công việc trên.

Khi đó việc tiếp nhận sự hợp tác, giúp đỡ từ các chuyên gia bên ngoài là cần thiết. Cải cách giáo dục ở Nhật Bản thời Minh Trị và hậu chiến (1945-1950) có được thành công một phần là do đã tiến hành theo phương thức đó.

Cải cách giáo dục thời Minh Trị

Sau khi chính quyền Minh Trị được thiết lập năm 1868, trong vòng 10 năm đầu, quá trình cận đại hóa theo hướng “khai hóa văn minh” được xúc tiến mạnh mẽ.

Cải cách giáo dục đã đi từ các thay đổi lẻ tẻ ở địa phương trở thành chính sách quốc gia. Phương châm của chính phủ Minh Trị lúc đó là đẩy mạnh cải cách giáo dục để cận đại hóa đất nước, du nhập nhanh và rộng các giá trị văn minh phương Tây.

Để “nhập khẩu” văn minh, chính phủ Minh Trị đã cử học sinh ra nước ngoài du học và tích cực sử dụng người phương Tây trong vai trò là các chuyên gia, cố vấn.

Chi phí dùng để trả lương cho các chuyên gia nước ngoài khi đó cực lớn nhưng chính quyền Minh Trị không do dự cho dù đang ở trong tình thế tài chính khó khăn.

Theo ước tính của tiến sĩ Ozaki Mugen, vào thời đó ngân sách dành trả lương cho người lao động nước ngoài chiếm đến 4-5% ngân sách các tỉnh, bộ. Cá biệt như  Bộ Công nghiệp, cơ quan đảm nhận nhiệm vụ hiện đại hóa đất nước, ngân sách trả lương cho người nước ngoài lên đến 50% ngân sách của Bộ.

Để thiết lập nền giáo dục cận đại, chính phủ Minh Trị coi trọng các trường sư phạm. Chính phủ đã bỏ một khoản tiền lớn thuê chuyên gia người Mỹ tên là M.Scott đến dạy ở trường sư phạm trung ương. Scott cũng là người tham gia chỉ đạo việc vận dụng khóa trình giáo dục mới trên toàn quốc từ tháng 8 năm 1872.

Báo cáo về giáo dục Nhật Bản của sứ đoàn giáo dục Mĩ công bố ngày 30 tháng 3 năm 1946. Ảnh Quốc Vương sưu tầm.

Chính phủ cũng tuyển dụng nhiều người nước ngoài làm giáo viên, giảng viên tại các trường trung học và đại học từ rất sớm. Các chuyên gia người Mỹ, Anh, Pháp và Đức này đã có đóng góp quan trọng trong việc du nhập các lý luận giáo dục mới.

Chẳng hạn như sự du nhập của “chủ nghĩa Pestalozzi” (nhà giáo dục học người Thụy Sĩ, 1746 -1827). Học thuyết này vốn được coi là chủ nghĩa tự do sau thời khai sáng văn minh và có ảnh hưởng lớn tới giáo dục Mỹ.

Các “giờ học phát triển” dựa trên học thuyết này đã làm cho trẻ em Nhật Bản từ chỗ lạ lẫm với trường học trở nên say mê thế giới ở đây khi trong các giờ học giáo viên sử dụng các vật thật, tranh vẽ và câu hỏi để tiến hành bài giảng.
Những chuyên gia người nước ngoài này về sau dần được thay thế bằng các du học sinh Nhật Bản trở về từ Mỹ và châu Âu.

Cải cách giáo dục thời hậu chiến (1945-1950)

Sau khi Thiên hoàng tuyên bố đầu hàng (15/8/1945), Nhật Bản bị quân Đồng minh chiếm đóng. Dưới sự giám sát và tư vấn của Bộ tư lệnh  tối cao quân đồng minh, Nhật Bản đã tiến hành cải cách chính trị-xã hội-giáo dục toàn diện nhằm dân chủ hóa đất nước.

Công cuộc cải cách giáo dục thời hậu chiến ở Nhật Bản có sự đóng góp to lớn của Sứ đoàn giáo dục Mỹ đến Nhật vào tháng 3 năm 1946 (Sứ đoàn lần 1) và tháng 8 năm 1950 (Sứ đoàn lần 2).

Trong đó Sứ đoàn giáo dục lần 1 do J.D.Stoddard làm trưởng đoàn có vai trò lớn hơn cả. Bản báo cáo do Sứ đoàn giáo dục này đề ra đã có ảnh hưởng lớn tới phương châm, đường lối cũng như cách thức thực hiện cải cách giáo dục của Nhật Bản, góp phần tạo nên nước Nhật “hòa bình, dân chủ và tôn trọng con người”.

Trong bối cảnh phức tạp đương thời, sứ đoàn giáo dục đã tuyên bố rộng rãi sứ mệnh của mình không phải là tiến hành cải cách ở Nhật Bản với tư cách là đại biểu của nước chiến thắng mà chỉ đưa ra sự tư vấn cần thiết về cải cách giáo dục trong tư cách là các nhà chuyên môn.

Bản báo cáo được trình lên tướng Douglas MacArthur và công bố ngày 30 tháng 3 năm 1946 gồm hai nội dung chủ yếu.

Nội dung thứ nhất là chỉ ra và phân tích những điểm yếu của nền giáo dục Nhật Bản trước và trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Nội dung thứ hai là vạch ra triết lý, phương châm của nền giáo dục mới.

Về nền giáo dục hiện hành, bản báo cáo chỉ rõ 5 hạn chế lớn: hệ thống giáo dục bị trung ương tập quyền hóa một cách cao độ, hệ thống trường học phức tạp, giáo dục nhồi nhét một chiều, hành chính quan liêu độc tài, quốc ngữ-quốc tự không hiệu quả.

Thành viên sứ đoàn giáo dục Mỹ tại Nhật Bản tháng 3/1946. Ảnh Quốc Vương sưu tầm.

Trên cơ sở chỉ ra và phân tích những điểm yếu nói trên, bản báo cáo nêu ra các nguyên tắc giáo dục phù hợp với xã hội dân chủ. Ở đó, “Tôn trọng giá trị cá nhân” và giáo dục người công dân dânchủ trở thành nền tảng triết lý cơ bản.

Về hành chính giáo dục, bản báo cáo đề xướng chế độ trường học 6-3-3 (6 năm tiểu học, 3 năm trung học cơ sở và 3 năm trung học phổ thông), trong đó giáo dục nghĩa vụ kéo dài 9 năm.

Chủ trương hạn chế quyền lực của bộ giáo dục, giới hạn nó trong vai trò là cơ quan chỉ đạo, tư vấn chuyên môn; phân quyền hành chính giáo dục cho các địa phương thông qua thành lập các Ủy ban giáo dục.

Đối với giáo dục bậc cao bản báo cáo gợi ý thực hiện mở rộng cánh cửa đại học và thực thi nam nữ bình đẳng.

Về khóa trình giáo dục, bản báo cáo phủ định môn Tu thân, môn học được coi là trụ đỡ của chủ nghĩa quân phiệt trước đó và chủ trương lấy cá nhân làm xuất phát điểm để biên soạn nội dung giáo dục nhằm phát triển những năng lực tiềm tàng sẵn có trong từng cá nhân.

Bản báo cáo cũng nhấn mạnh cần dục đạo đức thông qua toàn thể khóa trình giáo dục thay vì một môn giáo khoa cụ thể.

Bản báo cáo cũng đưa ra gợi ý về đào tạo giáo viên. Theo đó việc đào tạo giáo viên nên tiến hành theo hướng rộng mở. Đào tạo giáo viên phải hướng tới giáo dục con người thay vì chỉ đào tạo nên những giáo viên thiên về tri thức, kĩ thuật, chuyên môn hạn hẹp.

Công việc đào tạo này không chỉ giới hạn trong các trường sư phạm mà còn cần phải mở rộng ra tất cả các trường đại học nói chung.

Ngoài ra bản báo cáo cũng đưa ra những khuyến cáo về đơn giản hóa chữ viết và các biện pháp chấn hưng, thúc đẩy giáo dục xã hội thông qua truyền thông, bảo tàng, thư viện… để tái khai sáng quốc dân.

Tư tưởng, phương châm cơ bản cùng những gợi ý của Sứ đoàn giáo dục Mĩ trình bày trong bản báo cáo nói trên về sau đã được cụ thể hóa bằng các bộ luật và chính sách khi thực thi trong thực tiễn. Vì vậy cũng có thể nói rằng tinh thần của bản báo cáo đã trở thành triết lý chỉ đạo cho cuộc cải cách giáo dục Nhật Bản thời hậu chiến sau 1945.

Trong hai cuộc cải cách giáo dục lớn ở Nhật Bản có vai trò như là hai cuộc cách mạng xã hội trong hòa bình nói trên, các chuyên gia giáo dục nước ngoài đã có một vai trò không thể phủ nhận. Thực tế lịch sử đó là rất có thể sẽ là gợi ý hữu ích cho các nước đang phát triển muốn tiến hành cải cách giáo dục trong thời đại toàn cầu hóa.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả dưới góc độ một người nghiên cứu và tìm hiểu nền giáo dục Nhật Bản. 

Nguyễn Quốc Vương
Advertisements

Bài tập cho Ủy ban thẩm định giáo dục trung ương: Đừng để chuyển đổi biến  thành “không chuyển”  

March 29, 2015 Leave a comment

Tranh luận về cải cách giáo dục trường học là vấn đề cấp bách. Chúng tôi lo lắng rằng một khi mục đích và nội dung chủ yếu của cải cách không thích hợp với hiện trường trường học thì sự chuyển đổi cần thiết sẽ trở thành “không chuyển”. Thứ cần thiết không phải là mô hình trên bảo dưới nghe mà phải là sự phản ánh đầy đủ  ý kiến xuất phát từ hiện thực trường học và hướng về trẻ em hàng ngày.

 

Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương-cơ quan tư vấn của Bộ trưởng giáo dục hiện đang họp “kỳ họp thứ 8” với chủ đề sửa đổi toàn diện bản Hướng dẫn học tập.

Bản Hướng dẫn học tập được coi là tiêu chuẩn của giáo dục trường học từ tiểu học cho đến trung học phổ thông có ảnh hưởng lớn đến phương hướng của cải cách. Cứ khoảng 10 năm một lần nó lại được sửa đổi tùy theo tình hình thời đại. Lần này nội dung tư vấn rất rộng nhưng việc đặt trọng tâm vào chỉ đạo “học như thế nào” cùng với “dạy cái gì” trong học tập giáo khoa là đặc trưng lớn.

Chìa khóa của nó là “Active learning” (học tập chủ động). Nó chỉ học tập năng động ở đó học sinh tự mình phát hiện vấn đề, trao đổi ý kiến và tiến hành giải quyết. Đây là sự thoát khỏi giờ học kiểu truyền đạt tri thức một chiều. Đó là trụ cột của việc ứng phó với thời đại toàn cầu hóa.

Ngoài ra Hội đồng cũng nêu ra rằng trong xã hội đó “cần phải đưa ra ý kiến và giao lưu thay vì ngập ngừng”, tăng cường giáo dục tiếng Anh từ giai đoạn tiểu học và đến lớp 5, lớp 6  biến nó thành môn giáo khoa chính thức, ở trường THPT chú trọng năng lực thảo luận, thương thuyết.

Theo dự kiến bản báo cáo sẽ được đưa ra sau 2  năm thảo luận. Theo như lẽ thông thường thì phương pháp giờ học, sách giáo khoa, kiểm tra đánh giá học lực trong kỳ thi  tuyển sinh vào đại học cũng sẽ thay đổi.

Nhưng có cách nào để ngăn chặn sự bận rộn trên thực tế  ở trường học hay không? Có những ý kiến cho rằng: “Cho dù nói là học tập chủ động nhưng không nắm rõ nó là cái gì. Thật là khó”, “Từ trước đến giờ đã bao lần cải cách mà giờ lại cải cách nữa khiến cho ở hiện trường bối rối”.

Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương cần phải nghiên cứu sự thực thi chính sách từ trước đến nay, thuyết minh ý đồ, phương thức cải cách sao cho thật dễ hiểu và trong giới hạn có thể cần phải dựa trên các quan điểm, ý kiến được chứng minh rõ ràng bởi thực tế. Có thể nói tương tự như vậy đối với một trong các  chủ đề bàn luận là đào tạo, bồi dưỡng giáo viên.

Ý tưởng “Trường học hợp tác” cũng là một chủ đề bàn luận quan trọng. Trường học Nhật Bản vốn bị coi là “bận rộn nhất thế giới” vì giáo viên phải phân chia thời gian cho các công việc trường học và câu lạc bộ. Ý tưởng đưa ra là liệu có thể liên kết với các chuyên gia ở bên ngoài để ứng phó đa chiều với tư cách như là một “trường học hợp tác” đối với các vấn đề như bắt nạt, nghèo đói, khuyết tật trong phát triển.

Nếu như chuyển đổi được mô hình trường học đóng kín kiểu cũ nơi mọi thứ đổ dồn lên lưng giáo viên thì sẽ tạo ra sự thay đổi lớn. Ở đó không phải chỉ có chính sách về tài chính mà sự lý giải và hợp tác của gia đình, địa phương cũng không thể thiếu.

Hãy vừa học cách thức giải quyết của các địa phương và trường học đi trước vừa phát huy nhận thức chung có được trong sự tranh luận rộng mở.

Xã luận báo Mainichi  27/3/2015

http://mainichi.jp/opinion/editorial/

Nguyễn Quốc Vương dịch

Nước Nhật đã cải cách nội dung chương trình và sách giáo khoa phổ thông  các môn xã hội như thế nào sau chiến tranh thế giới thứ hai?

March 21, 2015 1 comment

Nguyễn Quốc Vương

 

Tính từ thời điểm năm 1945 tới nay, giáo dục Nhật  đã trải qua nhiều lần cải cách. Trong đó lần cải cách lớn nhất tạo nên bước ngoặt lịch sử cho dân tộc Nhật  xuất phát ngay sau khi  Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc và cuộc cải cách giáo dục gần đây nhất được đánh dấu bằng sự ra đời của Bản hướng dẫn học tập sửa đổi do Bộ giáo dục ban hành tháng 3 năm 2008. Bài viết này xin được điểm qua những nét lớn về sự thay đổi nội dung chương trình và sách giáo khoa phổ thông qua những lần cải cách ấy.

Vượt qua khủng hoảng

 Sau ngày 15-8-1945, giáo dục Nhật trải qua một khoảng thời gian “hỗn loạn” ngắn  do hậu quả của chiến tranh. Bất ngờ trước kết cục  chiến tranh, phần lớn  người dân Nhật chìm trong tâm trạng bi quan, chán nản và tuyệt vọng. Hai thành phố bị dội bom nguyên tử, nhiều trường học bị cháy vì những trận không kích của quân Đồng minh, kinh tế đình trệ và nạn khan hiếm lương thực trở nên trầm trọng. Trong  tình thế ấy Bộ giáo dục Nhật đã nhanh chóng có những bước đi cần thiết để đưa họat động trường học trở lại bình thường. Tròn một tháng sau ngày Thiên hoàng tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, Bộ giáo dục Nhật công bố bản “Phương châm giáo dục nhằm xây dựng nước Nhật Bản mới”. Bản phương châm 11 điểm  này nêu rõ nước Nhật cần xây dựng ngay một nền giáo dục mới để “loại trừ chủ nghĩa quân phiệt”, “giáo dục tư duy khoa học”, “làm sâu sắc văn hóa quốc dân”, “ xây dựng quốc gia hòa bình” và “đóng góp vào sự tiến bộ thế giới”. Bản phương châm cũng nêu lên những nguyên tắc cơ bản nhất trong việc xử lí nền giáo dục thời chiến,  tổ chức lại các đoàn thể học sinh, tái đào tạo giáo viên , tái tổ chức lại Bộ giáo dục…  Trong thời gian chờ sách giáo khoa mới xuất bản, Bộ giáo dục Nhật chỉ đạo các trường loại bỏ khỏi sách giáo khoa hiện hành những nội dung ca ngợi chủ nghĩa quân phiệt và đưa vào sử dụng đảm bảo cho kì học mới bắt đầu từ tháng 9 được tiến hành bình thường. Môn  Tu Thân vốn là môn học đóng vai trò  trụ cột  giáo dục cho học sinh lòng trung thành với Thiên hoàng và chủ nghĩa quân phiệt bị đình chỉ vĩnh viễn.

Từ trái qua phải: SGK trước khi bị xóa các nội dung liên quan đến chủ nghĩa quân phiệt, SGK sau khi bị xóa các nội dung liên quan đến chủ nghĩa quân phiệt, SGK thời Edo (nguồn: http://tatsuo.gnk.cc/)

Từ trái qua phải: SGK trước khi bị xóa các nội dung liên quan đến chủ nghĩa quân phiệt, SGK sau khi bị xóa các nội dung liên quan đến chủ nghĩa quân phiệt, SGK thời Edo (nguồn: http://tatsuo.gnk.cc/)

Ngày 3 tháng 11 năm 1946, hiến pháp mới ra đời thay thế cho bản hiến pháp Đại đế quốc Nhật Bản ban hành dưới thời Minh Trị(1). Bản hiến pháp này đã tạo cơ sở pháp lí cho sự ra đời của các bộ luật về giáo dục  trong năm 1947 như: Luật giáo dục cơ bản, luật giáo dục trường học, Luật về cơ cấu tổ chức Bộ giáo dục…làm nền tảng cho cuộc cải cách giáo dục toàn diện  xây dựng nền giáo mới.

Thực hiện một chương trình chuẩn với nhiều bộ sách giáo khoa

 

Tháng 3 năm 1947, Bộ giáo dục Nhật ban hành  Bản hướng dẫn học tập đánh dấu cuộc cải cách giáo dục trên quy mô toàn quốc bắt đầu đi vào quỹ đạo. Đây là bản chương trình khung quy định nội dung cơ bản của các môn học được giảng dạy  tại các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và các trường đặc biệt dành cho trẻ em khuyết tật không phân biệt trường quốc lập, công lập hay tư thục.

 

Cùng với việc ban hành Bản hướng dẫn học tập, Bộ giáo dục Nhật cho thực hiện chế độ kiểm định sách giáo khoa áp dụng trên phạm vi toàn quốc. Các nhà xuất bản tư nhân căn cứ trên nội dung cơ bản của Bản hướng dẫn học tập mà tiến hành biên soạn sách giáo khoa. Những cuốn sách này nếu vượt qua sự xét duyệt của Hội đồng thẩm định do Bộ chủ trì sẽ được công nhận là sách giáo khoa chính thức sử dụng trong các trường phổ thông. Việc lựa chọn bộ sách giáo khoa nào là do hiệu trưởng hoặc Ủy ban giáo dục ở các địa phương quyết định. Kể từ năm 1947, cứ khoảng 10 năm Bộ giáo dục Nhật lại tiến hành sửa đổi Bản hướng dẫn học tập một lần và đi kèm theo là sự phát hành sách giáo khoa mới. Tính đến nay  nước Nhật đã trải qua 7  lần thay đổi chương trình và sách giáo khoa vào các năm : 1947,1958, 1968, 1977, 1989, 1998, 2008. Hiện tại Bản hướng dẫn học tập  mới nhất được ban hành vào tháng 3 năm 2008 nhưng sự phát hành sách giáo khoa mới phải đợi đến năm học 2010-2011.

Không chỉ là thêm bớt nội dung

 

Mỗi lần Bản hướng dẫn học tập được ban hành đều có những thay đổi lớn. Những thay đổi đó không phải chỉ dừng ở việc thêm hay bớt nội dung mà mỗi  lần sửa đổi Bộ giáo dục đều đưa ra những phương châm-triết lí giáo dục mới. Phương châm-triết  lí ở đây được hiểu là những nguyên tắc cơ bản nhất chỉ đạo cải cách giáo dục. Nó thể hiện ngắn gọn và tập trung nhất tư duy của Bộ về mục tiêu giáo dục tức hình ảnh con người cần xây dựng.

Bản hướng dẫn học tập  năm 1947 mang trong mình sự chuyển đổi 180 độ của giáo dục Nhật. Bản hướng dẫn học tập này  được biên soạn dựa trên tinh thần của hiến pháp 1947 và là sự cụ thể hóa những nội dung đã được quy định  trong các bộ luật giáo dục được ban hành trước đó. Chương trình giáo dục mới này ra đời từ sự phản tỉnh sâu sắc về những sai lầm của nền giáo dục trước chiến tranh và tiếp thu những thành tựu giáo dục mới trên thế giới đặc biệt là giáo dục Mĩ. Hình ảnh con người mà nền giáo dục mới giờ đây hướng tới không phải là những thần dân có tinh thần “trung quân ái quốc” mà là những công dân có đầy đủ tri thức, phẩm chất, năng lực phù hợp với xã hội hòa bình, dân chủ và tôn trọng con người. Trong Bản hướng dẫn học tập này môn Xã hội(2) với tư cách môn học hoàn toàn mới được xác định là trung tâm của cuộc cải cách giáo dục. Phương pháp giáo dục chuyển từ truyền thụ tri thức một chiều sang lấy học sinh làm trung tâm, tôn trọng và phát huy tới mức tối đa tư duy độc lập và sự tự chủ  của người học. Nội dung các bài học và  phương pháp dạy học được thiết kế và sử dụng dựa trên kinh nghiệm cuộc sống của học sinh. Các phương pháp học tập như thảo luận, tranh luận, điều tra thông tin, làm dự án,… trở thành những phương pháp học tập chủ yếu. Bản hướng dẫn học tập năm 1947 đã đặt nền tảng quan trọng cho  quá trình cải cách giáo dục tiếp diễn về sau.

Các bản hướng dẫn học tập tiếp theo đều đưa ra những điều chỉnh về phương châm giáo dục. Theo trình tự thời gian, sự điều chỉnh đó thể hiện như sau:

Bản hướng dẫn học tập  năm 1958:  nhấn mạnh tính hệ thống của nội dung học tập trong trường phổ thông, coi trọng hình thành học lực cơ bản.

Bản hướng dẫn học tập  năm 1968:  đề xướng xây dựng chương trình giáo dục có tính thống nhất và hài hòa.

 Bản hướng dẫn học tập  năm 1977:  tập trung xây dựng giờ học hấp dẫn,  phát huy tính sáng tạo của học sinh.

Bản hướng dẫn học tập năm 1989: nêu ra quan điểm mới về học lực và chủ trương coi trọng cá tính của học sinh.

Bản hướng dẫn học tập năm 1998: đưa ra khái niệm giờ học tổng hợp( nơi thể hiện mối quan hệ tích hợp giữa các môn học) và khái niệm giáo dục “sức sống”. “Sức sống” ở đây được dùng để chỉ năng lực ứng phó với những biến đổi của xã hội trong đó trọng tâm là năng lực  tư duy độc lập  trong phát hiện vấn đề, năng lực chủ động   học tập tri thức, năng lực  tự chủ  trong phán đoán và hành động giải quyết những vấn đề mà cuộc sống đặt ra.

Bản hướng dẫn học tập  năm 2008: nhấn mạnh tầm quan trọng của mối quan hệ cân bằng giữa lĩnh hội tri thức,  kĩ năng với hình thành các năng lực như: năng lực tư duy, năng lực phê phán, năng lực diễn đạt.

Sách giáo khoa do được biên soạn dựa trên chương trình tiêu chuẩn mà Bản hướng dẫn học tập vạch ra cho nên nội dung và cách thức trình bày cũng thay đổi theo từng thời kì. Ngoại trừ sách giáo khoa phát hành lần đầu tiên căn cứ trên  Bản hướng dẫn học tập năm 1947 thì  sự thay đổi lớn nhất diễn ra  ở lần thay sách  năm 1991(3). Xin được dẫn ra sự thay đổi ở sách giáo khoa lịch sử tiểu học như một minh chứng.

Sách giáo khoa lịch sử tiểu học xuất bản năm 1991 không phải chỉ chứa phần văn bản chính, các sử liệu và thông tin giải thích sử liệu mà còn bao gồm cả các vấn đề đặt ra cần phải làm sáng tỏ, những ý kiến  đánh giá về nhân vật lịch sử của giáo viên,  học sinh(4), sự giải thích, thuyết minh về nhân vật. Các thông tin này được hòa trộn trong sự đa thanh điệu( multi-voice) về giọng kể. Sự thuật lại lịch sử không phải chỉ được thể hiện trong phần văn bản chính mà còn được phân tán ở bên lề trang sách. Thêm nữa ở mỗi trang sách còn có cả lời văn  hay những thông tin  thể hiện quan điểm,  tâm tình, động cơ của nhân vật lịch sử cũng như  người đương thời. Đấy là đặc trưng nổi bật  của sách giáo khoa lịch sử tiểu học xuất bản năm 1991 thay thế cho sự đơn điệu về thông tin và giọng kể của các bộ sách giáo khoa trước đó.

Tiếp  nhận phản biện đa chiều

 

Cơ chế thực hiện một chương trình chuẩn với nhiều bộ sách giáo khoa duy trì suốt từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay luôn trở thành trung tâm của những cuộc tranh luận về giáo dục và cải cách giáo dục ở Nhật. Những ý kiến phản biện thường tập trung vào ba vấn đề chính : chế độ kiểm định sách giáo khoa, bản hướng dẫn học tập và nội dung, hình thức  sách giáo khoa.

Về chế độ kiểm định sách giáo khoa và sách giáo khoa có nhiều ý kiến cho rằng nên bãi bỏ kiểm định dần dần đối với từng môn học, từng cấp học tiến tới trao hoàn toàn quyền tự chủ biên soạn và lựa chọn sách giáo khoa cho các nhà giáo dục và học sinh giống như các nước Mĩ, Phần Lan, Pháp… đang làm. Trong một bài viết đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 846 (tháng 10 năm 2008),  nhà giáo dục học Ishiyama Hisao nêu kiến nghị  trong khi chưa bỏ được chế độ kiểm định thì cần thiết phải công khai minh bạch quá trình xét duyệt và đối với những cuốn sách không lọt qua vòng kiểm định,  Bộ giáo dục phải có trách nhiệm giải thích  đối với tác giả và nhà xuất bản. Trên tạp chí Bình luận lịch sử số 706 ( tháng 2 năm 2009), Obinata Sumio, một nhà giáo dục lịch sử đã ba lần tham gia biên soạn sách giáo khoa, cho rằng đối với sách giáo khoa thì không phải chỉ dừng lại ở việc tranh luận xem chúng được biên soạn như thế nào, nội dung ra sao mà còn cần phải làm rõ chúng  đang được sử dụng như thế nào nữa.

Cùng với sách giáo khoa, Bản hướng dẫn học tập của Bộ giáo dục cũng thu hút sự chú ý của các nhà chuyên môn đặc biệt là các giáo viên giảng dạy trực tiếp tại các trường phổ thông. Mỗi lần Bản hướng dẫn học tập mới ra đời các tạp chí chuyên ngành như tạp chí Giáo dục, tạp chí Giáo dục phổ thông, tạp chí Giáo dục địa lí-lịch sử đều ra số chuyên đề đăng tải ý kiến phản biện đa  chiều của các nhà nghiên cứu và các giáo viên. Những thay đổi trong Bản hướng dẫn học tập cũng trở thành chủ đề của các hội thảo, các buổi Xê-mi-na ở đại học dành cho  sinh viên học chuyên ngành Giáo dục trường học hay Hành chính giáo dục. Những ý kiến phản biện có trọng lượng thường tập trung trên diễn đàn của Hội giáo dục lịch sử. Tạp chí Giáo dục lịch sử-địa lí của Hội đăng tải nhiều ý kiến của các giáo viên phổ thông kiến nghị Bộ giáo dục nên bỏ từ “tiêu chuẩn” trong Bản hướng dẫn học tập và thay  bằng từ “tham khảo” như đã từng xuất hiện trong Bản hướng dẫn học tập lần đầu tiên năm 1947 cho phù hợp với tinh thần dân chủ và thực tiễn giáo dục. Gần đây nhất trong Đại hội lần thứ 61 của Hội giáo dục lịch sử tổ chức vào đầu tháng 8 năm 2009 tại Hokkaido, nhà giáo dục lịch sử Muramatsu Kunitaka  đã trình bày bản tham luận  phản biện Bản hướng dẫn học tập ban hành tháng 3 năm 2008. Đứng trên lập trường của người trực tiếp giảng dạy,  ông cho rằng:  “Bản hướng dẫn học tập  là một trong những nguyên nhân chính làm cho cụm từ cải cách giáo dục mất đi sự tươi mới và làm cho giáo dục Nhật đứng trước nguy cơ(5)”. Ông thừa nhận Bộ giáo dục mỗi khi sửa đổi, ban hành Bản hướng dẫn học tập đều tiếp thu ý kiến của các giáo viên và các bậc phụ huynh tuy nhiên cách thức biên soạn vẫn thiên  về hành chính hơn là chuyên môn. Thêm nữa mỗi khi sửa đổi, ban hành Bản hướng dẫn học tập mới Bộ không chỉ ra những thiếu sót, sai lầm của Bản hướng dẫn học tập trước đó. Ông khẳng định một khi chỉ ra những  thiếu sót sai lầm này sẽ làm rõ được trách nhiệm của những người tham gia biên soạn.

Những ý kiến phản biện đa  chiều trên thực tế đã được Bộ giáo dục Nhật tiếp thu ở nhiều cấp độ. Những khái niệm chuyên môn khởi đầu từ các cuộc tranh luận học thuật như: “giờ học tổng hợp”, “sức sống”, “giáo dục người làm chủ”, “phẩm chất công dân”…đã được Bộ giáo dục đưa vào các Bản hướng dẫn học tập qua các lần sửa đổi. Những cuốn sách giáo khoa có nội dung đề cập đến các cuộc chiến tranh xâm lược do nước Nhật tiến hành   trong quá khứ hay lịch sử  người Ai-nư  đã vượt qua vòng kiểm định và được sử dụng trong nhà trường.

Nội dung chương trình-sách giáo khoa phổ thông ở Nhật đã trải qua nhiều lần sửa đổi nhưng mỗi lần sửa đổi  không gây ra những đảo lộn lớn cho dù về mặt học thuật còn tồn tại nhiều điểm bất đồng là vì nền giáo dục Nhật  có tính năng động. Tính năng động này có được là dựa trên mối quan hệ cân bằng giữa chương trình khung do Bộ giáo dục ban hành đi kèm với sách giáo khoa kiểm định và thực tiễn giáo dục do các giáo viên tiến hành ở hiện trường. Hiến pháp và các bộ luật giáo dục Nhật  vừa quy định nghĩa vụ chăm lo giáo dục của nhà nước vừa đảm bảo quyền tự do giáo dục của giáo viên và tự do tiếp nhận giáo dục của công dân và đấy là cơ sở pháp lí vững chắc cho sự xác lập quyền tự do thực tiễn giáo dục của các giáo viên. Các giáo viên trong quá trình giảng dạy sẽ căn cứ vào những mục tiêu, nội dung cơ bản trong Bản hướng dẫn học tập  và tình hình thực tiễn của nhà trường, yêu cầu của xã hội, trình độ nhận thức của học sinh để quyết định xem trong bài giảng của mình sách giáo khoa sẽ được sử dụng  như thế nào, những nội dung kiến thức nào sẽ  đưa vào hỗ trợ hoặc thay thế cho nội dung trong sách giáo khoa. Tất nhiên đồng hành  với sự chủ động này là sự hài hòa tương đối của quan điểm về học lực và các chuẩn mực kiểm tra đánh giá đi kèm.

Cơ chế mở và sự chủ động, sáng tạo nói trên  của giáo viên đã góp phần khắc phục được những  nhược điểm cố hữu của sách giáo khoa và Bản hướng dẫn học tập  là nhanh chóng trở nên lạc hậu và không bao quát được hết những yêu cầu luôn thay đổi của cuộc sống. Bởi vậy cứ 10 năm nội dung chương trình mới chính thức thay đổi một lần nhưng cải cách giáo dục ở Nhật  trên thực tế không ngừng diễn ra hằng ngày, hàng giờ nhờ  vào sự tự chủ, sáng tạo và năng động của các giáo viên trực tiếp giảng dạy tại trường phổ thông. Vì thế cho dù nội dung chương trình hay sách giáo khoa có thêm bớt gì đi chăng nữa thì những vấn đề như “chương trình qúa tải”, “sách giáo khoa nặng nề ” … không trở thành những vấn đề mà các nhà giáo dục Nhật Bản đặt trọng tâm khi tranh luận về giáo dục.

Nhật Bản 10/2009

(1) Công bố năm 1889

(2) Đến năm 1989 môn này chỉ còn tồn tại ở bậc tiểu học, ở trung học cơ sở và trung học phổ thông tách ra thành các môn: địa lí, lịch sử, giáo dục công dân.

(3) Dựa trên nội dung Bản hướng dẫn học tập ban hành năm 1989

(4) Bao gồm cả các ý kiến thực được trích dẫn và ý kiến do người biên soạn đóng vai tạo ra

(5) Kỉ yếu đại hội lần thứ 61 Hội giáo dục lịch sử Nhật Bản, Hokkaido, tháng 8-2009, trang 14

  Cục thông tin giáo dục dân sự (CIE)

March 7, 2015 Leave a comment

                                

Cục thông tin giáo dục dân sự (Civil information and Educational Section) là một cơ quan chỉ huy nằm trong Bộ tổng tư lệnh quân Đồng minh (GHQ/SCAP). Tên viết tắt là CIE. Nó đảm nhận chính sách về giáo dục, tôn giáo, văn hóa.

Cơ quan này thông qua Ủy ban cải cách giáo dục mà can dự vào việc chế định Luật giáo dục cơ bản. Ngoài ra còn tiến hành thiết lập Thư viện quốc hội quốc lập, phổ cập, phục hưng  thư viện công cộng, thư viện trường học và lập ra 23 trung tâm thông tin (thư viện CIE) ở khắp nước Nhật.

Bản báo cáo có tên gọi “Education in the New Japan”  của cơ quan này được công bố năm 1948 với tư cách là Báo cảo của cục thông tin giáo dục dân sự-Bộ tổng tư lệnh quân Đồng minh GHQ ( General Headquarters Supreme Commander for the Allied Powers Civil Information and Education Section Tokyo, May, 1948). Cục trưởng đầu tiên là chuẩn tướng Kermit R. Dyke. Tháng 5 năm 1946, trung tá Nugent, Donald R trở thành cục trưởng đời thứ 2.

Cục thông tin giáo dục dân sự bao gồm 4 đội và 7 Ủy ban

Đội phụ trách tiểu học

Đội phụ trách trung học

Đội phụ trách giáo dục bậc cao

Đội giáo dục đặc biệt

Ủy ban hợp tác

Ủy ban đào tạo giáo viên

Ủy ban điều tra  giáo dục bậc cao

Ủy ban điều tra cấp phép sách giáo khoa và tư liệu giáo dục

Ủy ban điều tra thông tin

Ủy ban thẩm tra

Ủy ban liên lạc

 Dịch từ wikipedia tiếng Nhật

(https://kotobank.jp/word/%E7%89%B9%E7%A8%AE-582580)

BẢN “HƯỚNG DẪN HỌC TẬP” VÀ CÁC MÔN HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG NHẬT BẢN TỪ SAU 1945 ĐẾN NAY (V)

November 24, 2014 Leave a comment

Năm 1980 (năm Showa thứ 55)  

Được gọi là chương trình “Yutori” (nhàn nhã, thong thả-ND), bản hướng dẫn học tập này có sự cắt giảm về nội dung học tập giáo khoa.

Chương trình hiện đại hóa trở nên quá tải và làm phát sinh những vấn đề ở hiện trường giáo dục như sự bất hoàn bị của cơ sở vật chất, giáo viên, khiến cho đông đảo học sinh không theo được và rút kinh nghiệm từ đó mà nội dung giờ học được cắt giảm.

Vào năm 1976 trong Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương việc cắt giảm nội dung học tập đã được đưa ra. Do trường tư không tiến hành cắt giảm cho nên đã bắt đầu phát sinh khoảng cách với trường công.

Không phải tất cả nội dung học tập đều được cắt giảm mà ngược lại số chữ Hán còn tăng thêm cho nên cũng có ý kiến phê phán là “yutori” không hề được tạo ra. Nó cũng ảnh hưởng đến chế độ các cụm trường và đây cũng là thời kỳ việc suy giảm thành tích học lên cao của các trường công lập trở nên rõ ràng.

Bản “Hướng dẫn học tập” của trường tiểu học được công bố vào năm 1977 (năm Showa thứ 52) và được thực hiện từ năm 1980 (năm showa thứ 55). Bản “Hướng dẫn học tập” dành cho THCS được thực thi từ năm 1981 (năm Showa thứ 56). Bản “Hướng dẫn học tập” của trường THPT được công bố năm 1978 (năm Showa thứ 53) và được thực hiện đối với năm thứ nhất từ năm 1982 (năm Showa thứ 57)
Tổng số giờ học dành cho 6 năm tiểu học là 5785 trong đó số giờ dành cho Quốc ngữ, Số học, Khoa học và Xã hội là 3659. Tổng số giờ học ở THCS là 3150.
Sự lựa chọn các môn tự chọn ở THCS tăng lên. Tiêu chuẩn học tập các môn ở trường THPT cũng được dung hòa.

Trường  Phân loại môn giáo khoa Môn học, phân môn Hoạt động giáo dục ngoài môn giáo khoa
Tiểu học Giáo khoa Quốc ngữ, Xã hội, Toán học, Khoa học, Âm nhạc, Thủ công, Gia đình, Thể dục Đạo đức, Hoạt động đặc biệt (hoạt động trẻ em, hoạt động lớp, hoạt động câu lạc bộ, nghi lễ trường học, chỉ đạo lớp)
Trung học cơ sở Giáo khoa bắt buộc Quốc ngữ, Xã hội, Toán học, Khoa học, Âm nhạc, Mĩ thuật, Sức khỏe-thể dục, Kĩ thuật gia đình Đạo đức, Hoạt động đặc biệt (hoạt động học sinh, hoạt động lớp, hoạt động hội học sinh, hoạt động câu lạc bộ)  nghi lễ trường học, chỉ đạo lớp
Môn giáo khoa tự chọn Ngoại ngữ, Âm nhạc, Mĩ thuật, Sức khỏe-thể dục, Kĩ thuật Gia đình, các môn cần thiết khác.
Trung học phổ thông Giáo khoa liên quan đến giáo dục phổ thông Quốc ngữ Quốc ngữ I, Quốc ngữ II, Cấu trúc quốc ngữ, Văn hiện đại, Cổ điển Hoạt động đặc biệt (homeroom, hoạt động hội học sinh, hoạt động câu lạc bộ, nghi lễ nhà trường)
Xã hội Xã hội hiện đại, Lịch sử Nhật Bản, Lịch sử thế giới, Địa lý, Luân lý, Kinh tế-chính trị
Toán Toán học I, Toán học II、Đại số-Hình học,Giải tích cơ sở Vi phân-Tích phan、Xác suất-thống kê
Khoa học Khoa học I、Khoa học II、
sinh vật, hóa học, vật lý, Địa học.
Sức khỏe-thể dục Sức khỏe, thể dục
Nghệ thuật Âm Nhạc I, Âm Nhạc II, Âm nhạc III, Mĩ thuật I, Mĩ thuật II, Mĩ thuật III.
Công nghệ I, Công nghệ II, Công nghệ III, Thư pháp I, Thư pháp II, Thư pháp III
Ngoại ngữ Tiếng Anh I, Tiếng Anh II, Tiếng Anh IIA, Tiếng Anh IIB, Tiếng Anh IIC, Tiếng Đức, Tiếng Pháp, các môn liên quan đến ngoại ngữ khác.
Gia đình Gia đình tổng quát
Môn học cần thiết đặc biệt khác
Các môn giáo khoa liên quan đến giáo dục chuyên môn Gia đình, Nông nghiệp, Công nghiệp, Thương nghiệp, Thủy sản, Hộ lý, Khoa học, Thể dục, Âm nhạc, Mĩ thuật, Tiếng Anh và các môn đặc biệt cần thiết khác.

Đối với môn ngoại ngữ-môn giáo khoa tự chọn ở trường THCS, về nguyên tắc học sinh từ năm thứ nhất chọn học một môn trong số các môn Tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Pháp, và các ngoại ngữ khác.

Các môn Quốc ngữ I, Xã hội hiện đại, Toán học I, Khoa học I, Thể dục, Sức khỏe là bắt buộc (tuy nhiên trường hợp đặc biệt có thể chọn học hai môn Luân lý và Kinh tế-chính trị thay cho Xã hội hiện đại).
Đối với môn Nghệ thuật ở THPT thì học sinh phải học một trong các môn Âm nhạc I, Mĩ thuật I, Công nghệ I, Thư pháp I.
Đối với môn gia đình ở THPT tất cả các học sinh nữ bắt buộc phải học môn Gia đình tổng quát.
Đối với môn Tiếng Anh IIA ở THPT nó tương đương với “Oral-communication” của khóa trình hiện hành, Tiếng Anh IIB tương tương với “Reading”.

Nguyễn Quốc Vương lược dịch từ Wikipedia

BẢN “HƯỚNG DẪN HỌC TẬP” VÀ CÁC MÔN HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG NHẬT BẢN TỪ SAU 1945 ĐẾN NAY (II)

November 24, 2014 Leave a comment

SỰ BIẾN ĐỔI CỦA BẢN “HƯỚNG DẪN HỌC TẬP”

Năm 1947 (năm Showa thứ 22)

Đây là bản “Hướng dẫn học tập” được đưa ra không lâu sau khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc. Nó được xây dựng từ quan điểm là văn bản hướng dẫn nên quyền của các trường học rất lớn. Từ đó cho đến năm 1953 (năm Showa thứ 28) bản “Hướng dẫn học tập” có tên  là tài liệu tham khảo (shian).

Ở trường tiểu học, các môn học có từ trước chiến tranh thế giới thứ II như Tu thân, Địa lý, Lịch sử bị đình chỉ, môn Xã hội ra đời và nam, nữ học sinh cùng học môn Gia đình. Môn Nghiên cứu tự do cũng được thiết lập.

Trường  Phân loại môn giáo khoa Môn học, phân môn Hoạt động giáo dục ngoài môn giáo khoa
Tiểu học Giáo khoa Quốc ngữ, Số học, Xã hội, Khoa học, Âm nhạc, Thủ công, Gia đình, Thể dục, Nghiên cứu tự do
Trung học cơ sở Giáo khoa bắt buộc Quốc ngữ, Luyện chữ, Xã hội, Quốc sử, Toán học, Khoa học, Âm nhạc, Thủ công, Thể dục, Nghề nghiệp (Nông nghiệp, Thương nghiệp, Thủy sản, Công nghiệp, Gia đình)
Giáo khoa tự chọn Ngoại ngữ,  Luyện chữ, Nghề nghiệp, Nghiên cứu tự do
Trung học phổ thông Giáo khoa Quốc ngữ Quốc ngữ, Hán tự (kanji)
Xã hội Xã hội đại cương、Quốc sử、Lịch  sử thế giới, Địa lý nhân văn, Các vấn đề thời sự、
Toán học Toán học cơ bản, Giải tích (1), Hình học, Giải tích (2)
Khoa học Vật lý, Hóa học, Sinh vật, Địa học
Thể dục
Nghệ thuật Âm nhạc, Hội họa, Thư pháp, Chế tạo đồ vật
Gia đình Gia đình tổng quát, Gia đình, Sức khỏe, Kế toán gia đình, Thực phẩm, Trang phục
Ngoại ngữ
Môn liên quan đến Nông nghiệp, Môn liên quan đến công nghiệp, Môn học liên quan đến Thương nghiệp, Môn học liên quan đến Thủy sản, Môn học liên quan đến kĩ nghệ gia đình, Môn học liên quan đến các nghề nghiệp khác.

Các môn nghề nghiệp ở trường THCS học sinh có thể lựa chọn học một môn tùy theo nguyện vọng và cơ sở vật chất của trường.

Các môn Quốc ngữ, Xã hôi đại cương và Thể dục là bắt buộc.

Đối với môn  Xã hội ở trường THPT học sinh bắt buộc phải chọn 1 môn trong các môn Quốc sử, Lịch sử thế giới, Địa lý nhân văn, Các vấn đề thời sự.

Đối với môn Toán học ở trường THPT học sinh chọn  một trong các môn Toán học tổng quát, Giải tích (1), Hình học, Giải tích (2) .

Đối với môn Khoa học ở trường THPT học sinh  phải chọn một trong các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học, Địa học.

Bản “Hướng dẫn học tập” đối với trường THPT được thực hiện từ năm 1948 (năm Showa thứ 23) nhưng đến năm 1949 (năm Showa thứ 24)  lại được sửa đổi. Bảng trên là lấy từ bản “Hướng dẫn học tập” năm 1949.

Nguyễn Quốc Vương lược dịch từ Wikipedia tiếng Nhật. 

BẢN “HƯỚNG DẪN HỌC TẬP” VÀ  CÁC MÔN HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG NHẬT BẢN TỪ SAU 1945 ĐẾN NAY

November 23, 2014 Leave a comment

Bản hướng dẫn học tập

Bản “Hướng dẫn học tập” là tiêu chuẩn về khóa trình giáo dục do Bộ giáo dục công bố.

Khái quát về bản  “Hướng dẫn học tập”

Bản “Hướng dẫn học tập” là văn bản quy định về nội dung giảng dạy của từng môn giáo khoa ở các trường tiểu học, trung học cơ sở (THCS), trung học phổ thông (THPT), các trường đặc biệt dựa trên quy định của  quy tắc thực thi Luật giáo dục trường học. Nó được áp dụng cho tất cả các trường không kể công lập, quốc lập hay tư thục nhưng trên thực tế thì ảnh hưởng của nó các trường công lập, quốc lập thường mạnh hơn ở các trường tư thục.

Ở trường mẫu giáo có văn bản tương đương với bản “Hướng dẫn học tập” gọi là “Yếu lãnh giáo dục mầm non”. Bộ giáo dục cũng phát hành “Giải thích về bản hướng dẫn học tập” ở đó có viết chi tiết hơn về các nội dung trong bản “Hướng dẫn học tập” và khác với bản “Hướng dẫn học tập”, nó được coi như không có giá trị pháp lý bắt buộc vì vậy trong “Quy tắc kiểm định sách giáo khoa” không hề có quy định phải tuân theo “Giải thích về bản hướng dẫn học tập”

Tuy nhiên, ở một số môn  thì chỉ công thức được đưa ra trong “Giải thích về bản hướng dẫn học tập” mới được xuất hiện trong sách giáo khoa trên thực tế (nội dung công thức nằm ngoài các công thức ghi trong “Giải thích về bản hướng dẫn học tập” không được đưa vào và cho dù có đưa vào thì khả năng được thông qua khi kiểm định là rất thấp). Vì vậy trên thực tế nó có ảnh hưởng lớn đối với kiểm định sách giáo khoa và có tính bắt buộc thực tế.

Nội dung bản Hướng dẫn học tập.

Nội dung bản hướng dẫn học tập có thay đổi tùy theo loại trường nhưng về cơ bản gồm 4 phần sau:

Tổng quy

Giáo khoa

Đạo đức

Hoạt động đặc biệt.

Tuy nhiên, trong trường THPT thì không có phần đạo đức. Ở trường đặc biệt thì ngoài phần trên còn có “Hoạt động tự lập”. Bên cạnh đó từ năm 2002 (năm Heisei 14) “Thời gian học tập tổng hợp” được thiết lập từ các lớp giữa bậc tiểu học đến THPT được quy định trong “Tổng quy”.Trong bản “Hướng dẫn học tập” được thực hiện vào năm 2011 (năm Heisei thứ 23), “Thời gian học tập tổng hợp” không còn nằm trong phần “Tổng quy” nữa mà đã trở thành một chương độc lập. Đồng thời, ở các lớp bậc cao tiểu học, “Hoạt động ngoại ngữ” cũng được quy định.

Nội dung của bản “Hướng dẫn học tập” thay đổi tùy theo các vụ án liên quan đến trường học và các vấn đề như sự gay gắt của “chiến tranh thi cử”, học sinh bỏ học, bạo lực học đường, suy giảm học lực, đặc biệt là mối quan hệ giữa Nhật Bản và các nước láng giềng trong lịch sử cũng như phương thức lý giải nó.

Vị trí pháp lý của bản “Hướng dẫn học tập”

Từng chủ đề và cấu trúc của các môn học được chỉ thị chi tiết nhưng nó không phải là pháp lệnh. Tuy nhiên, do được xác lập dựa trên quy chế thực thi luật giáo dục trường học cho nên mặc dù có sự tranh luận về hiệu lực, trong phán quyết của toàn án tối cao về vụ án tại trường THPT Denshukan trong khi cho rằng cách diễn đạt về tính pháp lý của bản “Hướng dẫn học tập” là không hợp lý, tòa án vẫn công nhận tính pháp lý của nó.
Denshukan là trường THPT công lập vì vậy chuyện phán quyết nói trên về bản “Hướng dẫn học tập” có ảnh hưởng gì đến các trường tư không là vẫn chưa rõ ràng.

Biện pháp sửa đổi

Biện pháp sửa đổi là việc trước khi thực hiện bản “Hướng dẫn học tập” vài năm sẽ tiến hành cắt bỏ một phần nội dung trong khóa trình cũ (ví dụ như nội dung được chuyển lên lớp trên), thêm một phần nội dung vào khóa trình mới.
Tiến hành cuốn chiếu (gakunen shinko)

“Gakunen shinko” là phương pháp thực hiện bản “Hướng dẫn học tập” ở trường THPT. Đó là việc ở năm thứ nhất (lớp 10)  nếu như thực hiện bản “Hướng dẫn học tập” mới đi nữa thì năm thứ 2 và 3 vẫn thực hiện bản “Hướng dẫn học tập” trước đó. Đó là do trường THPT không phải là giáo dục nghĩa vụ cho nên  sự thay đổi nội dung học tập có thể gây ra sự tổn hại về quyền lợi học tập của học sinh.

Nguyễn Quốc Vương lược dịch từ wikipedia tiếng Nhật. 

%d bloggers like this: