Archive

Posts Tagged ‘Hiến pháp Nhật Bản’

Nhật Bản cải cách giáo dục như thế nào

May 13, 2014 Leave a comment

Đề án đổi mới căn bản toàn diện giáo dục đang được thảo luận sôi nổi, trong đó có ý kiến bàn luận về “triết lý giáo dục” – vấn đề trọng tâm cần phải nhìn nhận cho thấu đáo trước khi định ra phương án và tiến hành cải cách giáo dục.

Đang nghiên cứu về giáo dục lịch sử tại Đại học Kanazawa, Nhật Bản và là người từng dịch cuốn “Cải cách giáo dục Nhật Bản”, tôi xin phác thảo triết lý giáo dục Nhật Bản cận – hiện đại để giúp bạn đọc có thêm thông tin tham chiếu, suy ngẫm.

Nói về triết lý giáo dục sẽ có nhiều cách hiểu nhưng tôi cho rằng, xét ở nghĩa hẹp nó là câu trả lời trực tiếp cho câu hỏi: “Giáo dục định tạo ra con người như thế nào?”

Nhìn một cách tổng quát, giáo dục Nhật Bản cận – hiện đại được bắt đầu từ thời Minh Trị (1868-1912). Vào cuối thời Mạc phủ Edo, đứng trước áp lực ngày một lớn của các nước đế quốc phương Tây, lực lượng võ sĩ bậc thấp, cùng các trí thức Tây học của Nhật Bản đã liên kết với thế lực quý tộc ủng hộ Thiên hoàng tiến hành đảo Mạc thành công. Chính phủ Minh Trị dựa vào tầng lớp trí thức mới đã tiến hành cải cách mạnh mẽ giáo dục nhằm nhanh chóng cận đại hóa đất nước theo mô hình phương Tây.

Nền giáo dục Nhật Bản trong 10 năm đầu thời Minh Trị đã du nhập mạnh mẽ các trào lưu tư tưởng cùng thành tựu khoa học kỹ thuật phương Tây nhằm đạt cho được mục tiêu “phú quốc cường binh”. Trong giai đoạn này và cả giai đoạn sau trong thời Taisho (1912-1926), cho dù trào lưu dân chủ xâm nhập mạnh mẽ, xét ở góc độ văn bản cả phía chính phủ và giới làm giáo dục Nhật chưa hề ý thức sâu sắc “triết lý giáo dục”. Các cụm từ “triết lý giáo dục” cũng không xuất hiện trong các văn bản pháp luật liên quan tới giáo dục.

Tuy nhiên, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các nhà nghiên cứu người Nhật cho rằng, trừ khoảng 10 năm đầu thời Minh Trị khi giáo dục còn mang tính chất khai sáng, giáo dục Nhật Bản trước 1945 chịu sự chi phối của triết lý được thể hiện trong “Sắc chỉ giáo dục”, một “thánh chỉ” của Thiên hoàng Minh Trị ban hành năm 1879. “Thánh chỉ” này nêu ra những nội dung đạo đức mang màu sắc Nho giáo mà nền giáo dục Nhật Bản phải hướng tới và yêu cầu nền giáo dục phải đào tạo nên những “thần dân trung quân ái quốc” hết lòng phụng sự Thiên hoàng.

Sau ngày 15/8/1945, Nhật Bản bị đặt dưới sự chiếm đóng của quân đội đồng minh. Dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt của Bộ tổng tư lệnh quân Đồng minh (GHQ), Nhật Bản đã tiến hành một cuộc cải cách toàn diện nhằm dân chủ hóa và phi quân sự hóa đất nước. Công cuộc cải cách giáo dục thời hậu chiến (1945-1950) được xúc tiến với sự hợp tác của ba lực lượng: các nhà giáo dục Nhật Bản, các viên chức phụ trách giáo dục và thành viên Sứ đoàn giáo dục đến từ Mỹ. Cuộc cải cách giáo dục này được tiến hành toàn diện từ hệ thống trường học, tài chính giáo dục, cơ cấu tổ chức bộ giáo dục, hệ thống hành chính giáo dục địa phương cho tới khóa trình giáo dục… Thay đổi lớn nhất và trước hết là thay đổi về triết lý giáo dục.

Triết lý của nền giáo dục mới, nền giáo dục mà sau này người Nhật quen gọi là giáo dục dân chủ, được xây dựng dựa trên sự phản tỉnh sâu sắc về nền giáo dục trước chiến tranh và tiếp thu tinh hoa giáo dục Mỹ. Mục tiêu giáo dục giờ đây không phải là đào tạo nên những “thần dân trung quân ái quốc” mà là người công dân có đủ tri thức, phẩm chất, năng lực phù hợp với xã hội hòa bình, dân chủ và tôn trọng nhân quyền. Triết lý giáo dục này được ghi rõ trong các bộ luật luật về giáo dục được công bố trong năm 1947 như: Luật giáo dục cơ bản, Luật giáo dục trường học…

Triết lý giáo dục nói trên đã chi phối và chỉ đạo toàn bộ nội dung, phương pháp và cách thức tổ chức bộ máy hành chính giáo dục Nhật Bản. Hệ thống trường học được đơn giản hóa theo một hệ thống thống nhất với chế độ 6-3-3-4 (6 năm tiểu học, 3 năm THCS, 3 năm THPT và 4 năm đại học). Quyền lực của bộ giáo dục bị giới hạn và quyền tự trị được trao trả cho các trường học. Hệ thống hành chính giáo dục tách rời khỏi hệ thống hành chính chung và Ủy ban giáo dục – cơ quan được tổ chức từ ba thành phần giáo viên, viên chức hành chính và người dân quan tâm tới giáo dục trở thành cơ quan nắm quyền hành chính giáo dục ở địa phương.

Bộ Giáo dục Nhật cũng chuyển từ chế độ “Sách giáo khoa quốc định” sang “chế độ sách giáo khoa kiểm định” và công nhận quyền tự do trong thực tiễn giáo dục của giáo viên. Trong khóa trình giáo dục, môn Nghiên cứu xã hội (Social Studies), một môn học hoàn toàn mới có nguồn gốc từ Mỹ, được đưa vào cả ba cấp học phổ thông.

Về phương pháp giáo dục cũng có sự thay đổi lớn. Nếu như trước 1945, các giờ học diễn ra theo hình thức giáo viên truyền thụ tri thức cho học sinh thì giờ đây lý luận “học sinh là trung tâm” được nhấn mạnh. Độc lập trong tư duy và tự do trong tinh thần trở thành những phẩm chất của người học sinh mơ ước.

Trong cuộc cải cách giáo dục toàn diện nói trên, nghiên cứu Xã hội, môn học tích hợp Lịch sử, Địa lý, Công dân trở thành nơi Bộ giáo dục và các nhà cải cách đặt nhiều kỳ vọng. Trong vai trò là môn học góp phần chủ yếu trong công cuộc tái khai sáng quốc dân, Nghiên cứu Xã hội đã thể hiện tập trung và cụ thể triết lý của nền giáo dục mới. Văn bản chỉ đạo mang tên “Hướng dẫn học tập môn Xã hội” năm 1947 của Bộ giáo dục Nhật Bản nhấn mạnh: “nếu như biết duy trì sự độc lập của bản thân, biết hưởng thụ cuộc sống thực sự là người… thì có thể lý giải được mối quan hệ cùng tồn tại với cuộc sống của người khác và có thể có được ý chí mãnh liệt muốn làm cho cuộc sống của mình trở nên tốt đẹp hơn.

Mục tiêu của môn học giờ đây là những công dân có tư duy độc lập, có tinh thần phê phán. Đó là những “con người không bị đánh lừa bởi đám đông thời thế”, “con người không bị mê hoặc bởi sự tuyên truyền dối trá”. Những con người ấy “không những không xâm phạm người khác mà còn chủ động mở rộng một cách tích cực những điều mình nghĩ tốt đẹp ra xung quanh”.

Để đạt được mục tiêu giáo dục nói trên, nội dung và phương pháp giáo dục môn Nghiên cứu Xã hội được nghiên cứu rất kỹ. Nội dung và phương pháp giáo dục này nhấn mạnh tính chủ thể của học sinh, coi trọng trải nghiệm trong cuộc sống của học sinh và đặt trọng tâm vào học tập giải quyết các vấn đề thiết thực đối với các em. Trong “học tập giải quyết vấn đề” này sự “nhồi nhét” tri thức, “truyền đạt tri thức” bị loại trừ.

Ở đó, học sinh không tiếp nhận thụ động, vô điều kiện các tri thức mà giáo viên đưa ra, coi nó là chân lý tuyệt đối mà học sinh dưới sự trợ giúp, hướng dẫn của giáo viên sẽ phải tìm kiếm các tri thức từ nhiều nguồn khác nhau và biến nó thành tư duy của mình. Có thể nói giáo dục môn Nghiên cứu Xã hội trong giai đoạn này đã chuyển từ “truyền đạt tri thức” sang hình thành và phát triển năng lực nhận thức khoa học cho học sinh.

Như vậy, có thể thấy, ở trường hợp Nhật Bản, cải cách giáo dục giống như một cuộc cách mạng xã hội trong hòa bình. Ở đó, triết lý giáo dục được bàn đến và minh định trước tiên. Triết lý giáo dục này đã chi phối toàn bộ nội dung, phương pháp giáo dục cũng như cách thức tồn tại của nền giáo dục mới và có mối quan hệ rất mật thiết với hiến pháp cũng như các bộ luật về giáo dục.

Nhờ hai cuộc cách mạng xã hội trong hòa bình nói trên Nhật Bản đã hai lần “thoát hiểm”. Lần thứ nhất là thoát khỏi móng vuốt của thực dân phương Tây và lần thứ hai là vượt thoát ra khỏi chính những sai lầm của mình để trở thành một nước hòa bình, dân chủ, văn minh.

Nguyễn Quốc Vương

Nguồn: VNEPRESS

Advertisements

Giáo dục pháp luật (2 )

April 17, 2014 Leave a comment

Đặc trưng của giáo dục pháp luật trong môn Xã hội ở Mĩ

Hiện tại giáo dục pháp luật được xúc tiến ở các địa phương bởi các tổ chức, đoàn thể như Hội luật sư Mĩ (American Bar Association), Trung tâm giáo dục công dân (Center for civic Education) với sự hợp tác của Bộ tư pháp.  Mục tiêu giáo dục là: (1)  giáo dục phẩm chất  và năng lực sáng tạo và hoạt động có trách nhiệm với xã hội; (2) Làm cho học sinh lý giải được giá trị cơ bản của chế độ dân chủ lập hiến và cung cấp cơ hội thực thi nghĩa vụ và quyền lợi tự giác trong xã hội công dân thứ là bệ đỡ cho chế độ đó; (3)  giáo dục tư duy và cách nhìn pháp luật nhằm có được sự phán đoán giá trị và hành động đối thới thiện-ác, công chính-bất chính dựa trên nền tảng luật pháp; (4) cung cấp cơ hội tham gia và phụng sự xã hội địa phương.

Về chương trình có nhiều kiểu khác nhau: kiểu dạy về cơ sở của việc xử lý, giải quyết các vấn đề pháp luật (tranh chấp) có liên quan đến thực tế của những người hành nghề luật hoặc hội luật sư, kiểu dạy các triết lý, khái niệm pháp luật được coi là tiền đề của quy phạm pháp luật, kiểu dạy về mối liên quan giữa cơ sở chế định luật pháp mà trước hết là hiến pháp với đời sống thực tế của học sinh. Các chương trình bồi dưỡng giáo viên đa dạng cũng được thực hiện. Điểm chung của các chương trình này là  việc có được cách nhìn, tư duy pháp luật với tư cách là công cụ của tư duy và thực thi ý chí quyết định nhăm giải quyết vấn đề với chủ thể là từng người một.

Thực tiễn này của Mĩ được xây dựng từ nhận thức rằng  cho dù là thiếu niên chăng nữa-học sinh cũng phải sống trong quy phạm pháp luật và ở đó một khi có phát sinh quyền lợi và nghĩa vụ và tiếp nhận lợi ích cũng như trách nhiệm thì cần phải học về hệ thống pháp luật, chế độ tòa án. Thêm nữa, phần lớn các vấn đề tranh luận có tính chất công cộng là đối tượng của môn Xã hội đều bao gồm các luận điểm liên quan đến pháp luật và để giải quyết thì cần đến biện pháp tư pháp, thảo luật, điều đình tự chủ.

 

Cách làm của Nhật Bản

Giáo dục pháp luật ở Nhật Bản trên thực tế là giáo dục hiến pháp. Sư mệnh to lớn của môn Xã hội-môn học được thiết lập mới sau Chiến tranh thế giới thứ hai là đảm nhận việc giáo dục về triết lý của quốc gia được ghi trong hiến pháp và thực hiện chủ quyền thuộc về nhân dân, hòa bình, dân chủ, tôn trọng nhân quyền cơ bản. Do đó giáo  dục quy phạm pháp luật có một bộ phận thực tiễn lấy các ví dụ xét xử làm giáo tài nhưng về cơ bản có thể nói nó “bắt đầu từ hiến pháp và kết thúc cũng ở hiến pháp”. Thêm nữa giá trị của quyền lực chính trị dân chủ làm sinh ra hiến pháp được coi trọng và  pháp luật với tư cách là  một lĩnh vực của  hành chính, chính trị cũng được đưa vào và triển khai.

Trước ảnh hưởng trên, xuất phát từ sự biến đổi của tình hình như sự tiến triển của xã hội công dân, xã hội thị trường, sự phân tán quyền lực, sự dâng cao của lý luận nhân quyền mới và sự gia tăng của mối quan tâm của quốc dân đối với tư pháp,  giáo dục pháp luật giống như ở Mĩ đã bắt đầu được thử nghiệm. Ví dụ như như sự thử nghiệm giáo dục chế độ tòa án, tư pháp tương thích với giáo dục kinh tế, chính trị, hành chính,. Không chỉ là mối quan hệ pháp luật với tư cách là quốc dân-quốc gia mà còn là sự thử nghiệm cụ thể cá biệt đưa vào đó các quy tắc pháp luật trong mối quan hệ giữa công dân với công dân, quốc gia với quốc gia, cơ cấu học tập về giá trị và triết lý trong quy định toàn thể hệ thống pháp luật, quá trình pháp luật. Giáo dục pháp luật thích hợp với thực tế, thời đại và hệ thống pháp luật của Nhật Bản đang được tiếp tục triển khai.

Triển vọng từ giờ về sau.

Trong xã hội toàn cầu hóa, cộng đồng quốc tế, quốc gia, xã hội kinh tế, xã hội công dân, cộng đồng địa phương, gia đình đều có liên quan với nhau vì thế đặt ra yêu cầu vừa phải giữ tính độc lập vừa hợp tác để xã hội hoạt động trôi chảy với tư cách là tổng thể. Thêm nữa trong giải quyết vấn đề  những người thuộc về từng xã hội đều mong muốn sự công chính của kết quả được dự báo. Do vậy cần phải cung cấp cơ hội học tập hệ thống quyết định như quy tắc xã hội, triết lý pháp luật, thủ tục. Từ yêu cầu này chắc chắn từ giờ trở đi giáo dục pháp luật sẽ được đòi hỏi phải đầy đủ hơn với tư cách là một lĩnh thực của môn Xã hội.
Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)

 

Học tập hiến pháp (1)

April 15, 2014 Leave a comment

Học tập hiến pháp

 

Sự tích tụ của học tập  Hiến pháp.

Trong lời nói đầu của Luật giáo dục cơ bản có viết: “Chúng ta trước hết đề ra Hiến pháp nước Nhật Bản, thể hiện rõ quyết tâm  xây dựng  quốc gia dân chủ, văn hóa và nỗ lực cống hiến cho hòa bình thế giới và phúc lợi của nhân loại. Việc thực hiện lý tưởng này về cơ bản là nhờ vào sức mạnh của giáo dục”. Trong sức mạnh của giáo dục thì vai trò trung tâm của môn Xã hội và môn Công dân với mục đích hình thành nhận thức xã hội và phẩm chất công dân trở nên rất rõ ràng. Bản Hướng dẫn học tập thông qua môn Xã hội ở trường tiểu học, lĩnh vực công dân thuộc môn Xã hội ở THCS, môn công dân, Xã hội hiện đại, Kinh tế-chính trị ở THPT đã chỉ ra việc tích tụ học tập hiến pháp như sau.

Ở trong môn Xã hội tiểu học, giáo viên làm cho học sinh lý giải được sự tôn trọng nhân quyền cơ bản, chủ quyền quốc dân và chủ nghĩa hòa bình-những nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp nước Nhật Bản. Về vị trí của Thiên hoàng như là biểu tượng của quốc gia và  thống nhất quốc dân, giáo viên làm cho học sinh hiểu thông qua việc đưa ra các hành vi quốc sự dễ hiểu đối với học sinh. Về quyền lợi của quốc dân, giáo viên làm cho học sinh hiểu  quyền tìm kiếm tự do, bình đẳng, hạnh phúc của quốc dân là quyền lợi vĩnh viễn và được bảo đảm và để duy trì nó cần đến sự nỗ lực không ngừng của quốc dân. Bên cạnh đó quốc dân để thực thi phúc lợi công cộng thì còn phải có cả trách nhiệm. Về quyền lợi và trách nhiệm của quốc dân, giáo viên sẽ chỉ đạo học tập bằng việc đưa ra các ví dụ cụ thể trong đời sống hàng ngày.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” 

Giáo dục phúc lợi

April 14, 2014 Leave a comment

Ý nghĩa của giáo dục phúc lợi

Thông thường thuật ngữ “Phúc lợi” được dùng với ý nghĩa hạnh phúc của nhiều người. “Phúc lợi” được dùng trong bản Hướng dẫn học tập (lĩnh vực công dân cấp THCS) trong các nội dung “Đời sống quốc dân và phúc lợi”, “Hòa bình thế giới và sự gia tăng phúc lợi của nhân loại”  là theo nghĩa này. Tuy nhiên, trong trường hợp hiểu theo nghĩa rộng thì phạm vi nội dung cần học tập lại quá rộng lớn nên rất khó nắm bắt hình ảnh của giáo dục phúc lợi.

Mặt khác, cũng có trường hợp “phúc lợi” được sử dụng với  tư cách  là danh từ rút gọn của phúc lợi xã hội-chính sách chế độ nhắm tới phòng ngừa và giải quyết các vấn đề của đời sống như nghèo đói. Giáo dục phúc lợi ở trường hợp nghĩa hẹp này có ý nghĩa chỉ hoạt động giáo dục nhằm làm sâu sắc mối quan tâm, sự lý giải và kĩ thuật, trải nghiệm đối với phúc lợi xã hội. Trong bản Hướng dẫn học tập cấp THPT công bố vào tháng 3 năm 1999 (năm Heisei thứ 11), “Phúc lợi” được lập ra với tư cách là  môn học mới liên quan đến giáo dục chuyên môn và nó có ý nghĩa chỉ phúc lợi xã hội.

Giáo dục phúc lợi trong trường hợp tiếp cận “phúc lợi” theo nghĩa hẹp có thể được phân chia thành giáo dục nhằm mục đích đào tạo những người làm việc trong lĩnh vực chuyên môn phúc lợi và giáo dục nhằm tạo ra những phẩm chất cần thiết của người công dân trong xã hội phúc lợi. Học tập môn học mới “Phúc lợi” chủ yếu nằm trong giáo dục chuyên môn còn học tập về phúc lợi diễn ra ở môn Xã hội (Địa lý-lịch sử, công dân) là chỉ giáo dục tạo ra phẩm chất của công dân.

Giáo dục phúc lợi trong môn Xã hội

“Một trong những sứ mệnh chủ yếu của môn Xã hội là có ích cho việc cải thiện đời sống xã hội” ( Hướng dẫn học tập môn Xã hội II, 1947). Giáo dục phúc lợi trong môn Xã hội nhằm mục tiêu “là học tập có ích” cho việc “cải thiện đời sống xã hội”, đảm bảo cho tất cả quốc dân có “đời sống tối thiểu về sức khỏe và văn hóa”.

Trong Hướng dẫn học tập bản năm 1947 có thiết lập một chủ đề (tangen) dành cho học sinh lớp 10 (THPT năm thứ nhất) với tên gọi “Biện pháp nào giúp thoát khỏi nghèo đói, khó khăn trong cuộc sống và giúp được người khác?” (chủ đề số 4). Ở đấy học tập phúc lợi được tiến hành với nội dung chủ yếu là học về vấn đề nghèo đói và mục đích học tập nhắm tới “giáo dục ý thức hợp tác của từng học sinh, tạo ra tinh thần trách nhiệm cá nhân khi tham gia giải quyết vấn đề”.

Trong các bản Hướng dẫn học tập về sau phúc lợi tiếp tục được coi như là một nội dung chủ yếu của môn Xã hội.

Trong bản Hướng dẫn học tập năm 1998 trong (2) “Đời sống quốc dân và kinh tế, Đời sống quốc dân và phúc lợi” học sinh được học về “Sự phong phú của an sinh xã hội”.

Ở môn “Xã hội hiện đại” ở cấp THPT đó là học tập về “những vấn đề của chúng ta trong đời sống hiện đại” và ở đó “đời sống phong phú và xã hội phúc lợi” được thể hiện. Tương tự ở “Luân lý” có học tập về “hiện đại và luân lý-luân lý của con người sống trong xã hội hiện đại”, “Tham gia xã hội và cống hiến”.

Trong “Chính trị-kinh tế” ở phần “Các vấn đề xã hội hiện đại-các vấn đề kinh tế và chính trị của Nhật Bản hiện đại”, học sinh được học về “Xã hội già hóa và an sinh xã hội”. Cho đến lúc này học tập phúc lợi nằm trong chủ đề kinh tế nhưng trong “Kinh tế” mới nó lại nằm trong chủ đề “Khảo sát mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị”.

Giáo dục phúc lợi trong “Thời gian học tập tổng hợp” và các môn giáo khoa khác

Học tập phúc lợi không chỉ diễn ra trong môn Xã hội. Giống như trước đó đã trình bày, ở THPT môn “Phúc lợi” đã được thiết lập.

Trong các môn giáo khoa thông thường như môn Gia đình ở THPT (cơ sở gia đình) có học tập về “sự phát triển của trẻ và nuôi dưỡng con cái, phúc lợi”. Trong “Sức khỏe” ở THPT, học sinh được học về “chế độ bảo hiểm, y tế và các cơ sở y tế ở địa phương”.

Không chỉ trong các môn giáo khoa, giáo dục phúc lợi còn được tiến hành cả trong “đạo đức” và hoạt động đặc biệt. Trong bản Hướng dẫn học tập THCS ở phần đạo đức có ghi: “có tinh thần phục vụ, nỗ lức cho sự phát triển của phúc lợi công cộng và xã hội”. Bên cạnh đó ở hoạt động đặc biệt “Lao động sản xuất và hoạt động cống hiến” cũng trở thành một nghi lễ của trường học.

Phúc lợi không phải chỉ là việc học tập trong môn Xã hội mà còn diễn ra ở nhiều môn học khác. Trong “thời gian học tập tổng hợp” nó được thiết lập với tư cách là “chru đề tổng hợp theo chiều ngang”.

Cái nhìn về môn xã hội cần thiết cho giáo dục phúc lợi

Do phúc lợi có tính chất bao phủ các môn khác và có tính chất tổng hợp cho nên “thời gian học tập tổng hợp” được đặt ra nhằm giải quyết những vấn đề có tính chất tổng hợp như thế. Từ giờ về sau các thực tiễn giáo dục phúc lợi nằm trong “thời gian học tập tổng hợp” sẽ được chú ý.

Tuy nhiên, cho dù nói vậy, tầm quan trọng của giáo dục phúc lợi trong môn Xã hội không hề giảm đi, trái lại để làm phong phú thực tiễn trong “thời gian học tập tổng hợp” thì cái nhìn về môn Xã hội là cần thiết.

Ở đây, xin chỉ ra hai điểm với tư cách là cái nhìn về môn Xã hội không thể thiếu với giáo dục phúc lợi.

Thứ nhất là cái nhìn về nhân quyền. Trong Hiến pháp Nhật Bản việc sống sao cho thật sự là người là quyền lợi và hiến pháp quy định nhà nước phải có trách nhiệm nâng cao, xúc tiến phúc lợi. Cách tiếp cận phúc lợi từ quan điểm nhân quyền rất quan trọng trong môn Xã hội.

Thứ hai là cái nhìn kinh tế. Cái nhìn về việc để gia tăng phúc lợi thì tăng thuế người dân phải đóng lên mức nào, việc tăng thuế có ảnh hưởng như thế nào đến kinh tế vi mô hầu như không được đưa ra trong các môn học khác. Trong giáo dục phúc lợi ở môn Xã hội, cần phải chú ý đến phương diện kinh tế của phúc lợi.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội”(Gyosei, 2000)

 

Trò chuyện về tân hiến pháp (Kỳ III):Tư pháp, tự trị địa phương, sửa đổi hiến pháp, pháp quy tối cao

February 24, 2014 Leave a comment

Hình minh họa cho mục “Sửa đổi”
trong sách: Khi sửa đổi hiến pháp
thì một mình quốc hội không thể
làm được mà quốc dân phải
bỏ phiếu tán thành hay phản đối
“Trò chuyện về tân hiến pháp” (1947) được soạn ra để giúp người dân Nhật Bản lĩnh hội được nội dung của hiến pháp mới, thay thế cho Hiến pháp Đại đế quốc Nhật Bản ban bố dưới thời Minh Trị. Tia Sáng xin trích đăng một phần nội dung của cuốn sách đã có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình dân chủ hóa nước Nhật và khai sáng quốc dân Nhật.
10. Nội các[…]

11. Tư pháp

“Tư pháp” là công việc xét xử tranh chấp, quyết định xem có tội hay không có tội. “Tòa án” là thứ chỉ công việc tương tự. Cho dù là ai thì cũng có quyền tiếp nhận sự phán xử công bằng để bảo vệ sinh mệnh, tự do, tài sản…của bản thân. Việc nước gọi là tư pháp này là việc rất quan trọng đối với quốc dân vì thế việc xét xử và đưa ra phán quyết công bằng là rất quan trọng.

Ở đó nhà nước có “tòa án” là nơi tiến hành công việc “tư pháp”. Tòa án khi tiến hành công việc này chỉ tuân theo pháp luật mà hiến pháp và quốc hội tạo ra và xét xử một cách công bằng theo quy định của hiến pháp. Ngoài ra không được nói ra bất cứ thứ gì khác. Thêm nữa, người có vai trò xét xử tức là “thẩm phán” không được tùy tiện quyết định.

Đây gọi là “sự độc lập của quyền tư pháp”. Để cho sự phán xử công bằng thì ai cũng có thể nghe và xem xét xử. Cũng giống như quốc hội công việc của tòa án được diễn ra trước sự chứng kiến của quốc dân. Điều này cũng được hiến pháp quy định rõ ràng.

Hiến pháp lần này có một điều thay đổi lớn cần phải nói. Đó là có thể điều tra xem pháp luật do quốc hội tạo ra có hợp với hiến pháp hay không. Nếu như cho rằng pháp luật đó trái với điều hiến pháp quy định thì việc bất tuân pháp luật đó là có thể. Vì vậy tòa án có vai trò rất lớn.

Các bạn thân mến, quốc dân chúng ta cần phải nghĩ rằng quốc hội là nơi thay mặt cho chúng ta và tin tưởng quốc hội đồng thời phải nghĩ rằng tòa án là nơi bảo vệ tự do và quyền lợi của chúng ta đồng thời tôn kính nó.

12. Tài chính

[…]

13. Tự trị địa phương

Trong thời chiến tranh cái gì cũng nói “vì đất nước” vì thế việc của từng người dân đã bị tư duy rất cứng nhắc. Tuy nhiên đất nước là sự tập trung của quốc dân vì vậy từng quốc dân không tốt thì đất nước sẽ không thể tốt. Cũng giống như thế, nước Nhật Bản chia làm rất nhiều địa phương, các địa phương này nếu như không trở nên giàu có thì đất nước cũng không thể nào giàu có.

Để làm được điều đó thì từng địa phương tự mình tiến hành mọi việc là tốt nhất. Bởi vì ở địa phương đó có rất nhiều thông tin và người sống ở địa phương đó là người biết rõ nhất mọi điều. Tự mình làm những việc của mình gọi là “tự trị”. Vì vậy việc nhà nước trao quyền cho từng địa phương tiến hành tự trị được gọi là “tự trị địa phương”.
Trong Hiến pháp lần này, tự trị địa phương này được xem trọng và quy định rõ ràng. Từng địa phương trở thành một đoàn thể và tự mình tiến hành công việc của bản thân.
Thủ đô Tokyo, đạo Hokkaido, các phủ tỉnh, thành phố làng đều là các đoàn thể. Đây  được gọi là “Đoàn thể công cộng địa phương” .
 
Nếu như tiến hành việc nước là dân chủ thì cách tiến hành công việc của đoàn thể công cộng địa phương cũng phải là dân chủ. Đoàn thể công cộng địa phương có thể nói là bộ phận của đất nước. Giống như nước có quốc hội, đoàn thể công cộng địa phương cũng có “Hội đồng ” làm đại diện cho người dân sống ở địa phương. Thống đốc điều hành công việc của đoàn thể công cộng địa phương và những người có trách nhiệm quan trọng khác, cả các nghị viên của hội đồng  địa phương tất cả đều do người dân tự mình bỏ phiếu bầu ra.

Và như thế tự trị địa phương đã được quy định rõ trong Hiến pháp vì vậy pháp luật quy định công việc của một đoàn thể công cộng địa phương nào đó khi được tạo ra ở quốc hội muốn biết ý kiến của người dân ở địa phương thì tiến hành bỏ phiếu và nếu như số phiếu không quá bán thì sẽ không thể được.
Các bạn thân mến,  để yêu nước và dốc sức cho đất nước  các bạn hãy yêu địa phương mình sống và dốc sức cho địa phương mình. Hãy nghĩ rằng nếu địa phương giàu có thì đất nước cũng sẽ phồn vinh.

14. Sửa đổi

“Sửa đổi” là chỉ việc thay đổi hiến pháp. Hiến pháp như trước đó đã nói là quy tắc quan trọng nhất trong số các quy tắc của đất nước vì vậy thủ tục sửa đổi nó phải hết sức nghiêm cẩn.
 
Vì vậy, trong Hiến pháp lần này quy định khi sửa đổi hiến pháp thì một mình quốc hội không thể làm được mà quốc dân phải bỏ phiếu tán thành hay phản đối.

Trước hết là một viện của quốc hội có trên 2/3 số nghị viện tán thành thì sẽ quyết định thay đổi Hiến pháp. Đây gọi là “đề xuất” sửa đổi Hiến pháp. Sau đó thông báo cho quốc dân biết và quốc dân tiến hành bỏ phiếu tán thành hay phản đối. Khi trên một nửa tổng số phiếu tán thành thì có nghĩa là việc sửa đổi Hiến pháp đã được quốc dân đồng ý. Đây gọi là sự “thừa nhận” của quốc dân. Sự sửa đổi được quốc dân thừa nhận sẽ được công bố dưới tên Thiên hoàng. Đây gọi là sự “công bố”.

Hiến pháp mới do quốc dân tạo ra là của quốc dân vì vậy khi công bố cũng phải dưới danh nghĩa của quốc dân.

15. Pháp quy tối cao

Giống như đã nói ở phần đầu tiên của cuộc trò chuyện này, “Pháp quy tối cao” là quy tắc có vị trí cao nhất nước tức là Hiến pháp. Trong Hiến pháp này với tư cách  là pháp quy tối cao đã nói về hai nội dung là quy tắc quyết định cách tiến hành việc nước và quy tắc quy định các quyền con người cơ bản của quốc dân. Trong đó các quyền con người cơ bản của quốc dân do từ trước đến nay bị tư duy rất cứng nhắc vì vậy Điều 9 của Hiến pháp đã ghi rất nghiêm trang rằng các quyền con người cơ bản này là thứ con người có được sau thời gian dài nỗ lực, được thử thách qua rất nhiều  sự việc và nó là quyền vĩnh viễn không thể xâm phạm.

Hiến pháp này là pháp quy tối cao  vì vậy những gì trái với những điều được quy định bởi Hiến pháp này cho dù là pháp luật hay mệnh lệnh đều không có hiệu lực với tư cách là quy tắc. Điều này được Hiến pháp quy định rõ.  Cả Thiên hoàng, bộ trưởng, nghị viên quốc hội, thẩm phán tất cả đều phải có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp này. Thêm nữa, Nhật Bản cũng phải tuân theo cả giao ước giữa Nhật Bản và các nước khác (gọi là “điều ước”), cả các quy tắc về giao lưu giữa các nước (gọi là “pháp quy quốc tế”) và điều này cũng được Hiến pháp quy định.

Các bạn thân mến, Hiến pháp mới là hiến pháp do quốc dân Nhật Bản tạo ra và là hiến pháp của quốc dân. Từ giờ về sau các bạn hãy tuân theo Hiến pháp và làm cho nước Nhật Bản phồn vinh.

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

Nguồn: Tia sáng

Trò chuyện về tân hiến pháp (Kỳ II): Quyền cơ bản của con người, Quốc hội, và chính đảng

February 21, 2014 Leave a comment

 


Minh họa cho mục “Chính đảng” trong “Trò chuyện
về tân hiến pháp”
“Trò chuyện về tân hiến pháp” (1947) được soạn ra để giúp người dân Nhật Bản lĩnh hội được nội dung của hiến pháp mới, thay thế cho Hiến pháp Đại đế quốc Nhật Bản ban bố dưới thời Minh Trị. Tia Sáng xin trích đăng một phần nội dung của cuốn sách đã có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình dân chủ hóa nước Nhật và khai sáng quốc dân Nhật.
5. Thiên hoàng
 
[…]

6. Từ bỏ chiến tranh

[…]

7. Các quyền cơ bản của con người

Hãy thử đến những nơi bị cháy bởi không kích. Từ mặt đất bị cháy những mầm cỏ xanh đang bật lên. Sự sống đang nảy mầm. Cả cỏ cũng sống vươn lên mạnh mẽ. Nữa là các bạn là con người. Các bạn chắc chắn có sức sống mạnh mẽ. Đó là sức mạnh tự nhiên mà trời ban cho. Không ai được cản trở con người sống bằng sức mạnh như thế trong thế giới này. Tuy nhiên con người khác với cây cỏ, con người không chỉ có sống không thôi, con người còn phải sống cuộc sống thật sự là người. Để có cuộc sống thật sự là người thì cần đến hai thứ. Đó là “Tự do” và “Bình đẳng”.

Con người một khi sống trên thế giới này thì cần được sống ở nơi mình thích, được đi đến nơi mình thích, được nói những điều mình nghĩ, được tuân theo những điều dạy bảo mình thích. Những điều này là tự do của con người, tự do này nhất quyết không thể bị tước đoạt. Thêm nữa, không thể tùy tiện dùng sức mạnh của nhà nước để tước bỏ tự do và thi hành hình phạt bừa bãi. Vì vậy Hiến pháp quy định rõ nhất quyết không được xâm phạm tự do.
 
Thêm nữa chúng ta một khi đã là con người thì đều như nhau. Một khi đã là con người thì chắc chắn sẽ không có người vĩ đại và cũng không có người thấp kém dưới con người. Không thể có chuyện nam tốt hơn nữ hay nữ tốt hơn nam. Nếu các bạn đều là con người thì khi sống trong thế giới này không có lý do gì phải gánh chịu sự phân biệt. Việc không có sự phân biệt đó được gọi là “Bình đẳng”. Vì vậy trong hiến pháp cùng với tự do còn quy định cả bình đẳng.

Thứ được công nhận một cách rõ ràng trong quy tắc của quốc gia được gọi là “quyền lợi”. Nếu như tự do và bình đẳng được công nhận một cách rõ ràng và không bị xâm phạm thì tự do và bình đẳng này là quyền lợi của các bạn. Đây được gọi là “quyền tự do”. Thêm nữa, đây là quyền lợi quan trọng nhất của con người. Những quyền lợi quan trọng nhất của con người được gọi là “quyền con người cơ bản”. Hiến pháp mới ghi rằng các quyền con người cơ bản này vĩnh viễn không được xâm phạm. Đây được gọi là “bảo đảm” các quyền con người cơ bản.

Tuy nhiên các quyền cơ bản của con người không phải chỉ có quyền tự do nói tới ở đây. Vẫn còn có nhiều quyền khác. Chỉ có quyền tự do thôi thì con người không thể sống được. Ví dụ như các bạn phải học để trở thành quốc dân tốt. Nhà nước cần phải làm cho tất cả quốc dân học tập. Vì vậy, mọi người có quyền tiếp nhận giáo dục quy định trong Hiến pháp. Trong trường hợp này, từ phía các bạn sẽ đưa ra yêu cầu tiếp nhận giáo dục đối với nhà nước. Đây cũng là quyền con người cơ bản rất quan trọng và được gọi là “quyền đưa ra yêu cầu”. Khi xảy ra tranh chấp thì sẽ nhận được sự xét xử một cách công bằng ở tòa án của đất nước, nó được gọi là quyền yêu cầu xét xử-quyền cơ bản của con người và  đây cũng là quyền đưa ra yêu cầu.

Rồi nữa, trong việc quốc dân trị nước sẽ có rất nhiều thứ có quan hệ và nó là quyền con người cơ bản quan trọng được gọi là “quyền tham gia chính trị”. Việc bầu cử lựa chọn ra nghị viên của quốc hội, thống đốc, thị trưởng, trưởng thôn,… bản thân mình trở thành những người đó được gọi  là quyền tham gia chính trị. Các bạn thân mến quyền con người cơ bản tôi đã nói cho đến lúc này là thứ rất quan trọng vì vậy chúng ta hãy cùng ôn lại nào. Các bạn được Hiến pháp bảo hộ những quyền rất quan trọng gọi là quyền con người cơ bản. Quyền này được chia làm ba. Thứ nhất là tự do. Thứ hai là quyền yêu cầu. Thứ ba là quyền tham gia chính trị.

Khi được trao những quyền tuyệt vời như thế các bạn phải tự mình bảo vệ lấy nó và không được để mất. Thêm nữa không được dùng nó một cách ám muội để làm phiền người khác. Không được quên rằng những người khác cũng có các quyền như các bạn. Hiến pháp viết rằng toàn thể đất nước có trách nhiệm bảo vệ các quyền con người cơ bản quan trọng này để làm cho toàn thể quốc dân hạnh phúc.

8. Quốc hội

Dân chủ là quốc dân  tự mình trị nước  và vì mình trị nước. Tuy nhiên số lượng quốc dân thật là lớn vì vậy chẳng có cách nào khác là phải có người thay mặt toàn thể quốc dân làm việc nước. Người thay mặt cho quốc dân là “Quốc hội”. Như trước đó đã nói, quốc dân có trong tay sức mạnh trị nước tức là có chủ quyền. Vì quốc hội là người thay mặt quốc dân nắm chủ quyền này vì thế quốc hội có vị trí cao nhất nước và được gọi là “cơ quan tối cao”. “Cơ quan”, cũng giống như con người thì có tay chân, là thứ có chức năng phân theo công việc khác nhau của đất nước. Đất nước có rất nhiều các cơ quan làm việc. Cả nội các và tòa án tôi trình bày ở phần sau cũng là các cơ quan của nhà nước. Tuy nhiên quốc hội là cơ quan có vị trí cao nhất. Đó là vì nó đại diện cho toàn thể quốc dân.

Việc nước rất nhiều nhưng có thể phân chia đại thể làm ba. Thứ nhất là công việc tạo ra các quy tắc của đất nước được gọi là “lập pháp”. Thứ hai là công việc  phân xử các tranh chấp xem xét xem có tội hay không có tội được gọi là “tư pháp”. Thông thường hay nói đến tòa án chính là nói đến công việc này. Thứ ba là công việc nằm ngoài “tư pháp” và “lập pháp” được gọi chung là “hành chính”. Nếu xem xét xem quốc hội làm gì trong ba công việc này thì quốc hội chính là cơ quan lập pháp. Tư pháp thuộc về tòa án. Hành chính thuộc về chính phủ và vô số các cơ quan cấp dưới.

Quốc hội do làm công việc lập pháp cho nên tất cả các quy tắc của đất nước đều được tạo ra ở quốc hội. Quy tắc do quốc hội tạo ra được gọi là “pháp luật”. Các bạn thường xuyên nghe thấy từ “Pháp luật” phải không nào. Tuy nhiên để tạo ra được pháp luật ở quốc hội thì phải trải qua rất nhiều thủ tục vì vậy không thể tạo ra cả các quy tắc chi tiết. Vì vậy hiến pháp cũng trao quyền tạo ra các quy tắc của đất nước cho các cơ quan khác ngoài quốc hội như nội các. Những quy tắc này gọi là “mệnh lệnh”.

Tuy nhiên quy tắc của đất nước càng được tạo ra bởi quốc hội thì càng tốt. Bởi vì quốc hội là nơi tập hợp của những nghị viên do quốc dân bầu ra và đó là những người lắng nghe ý kiến của quốc dân nhiều nhất. Vì vậy hiến pháp mới quy định rằng quy tắc của đất nước chỉ quốc hội mới có quyền tạo ra. Điều này có nghĩa là quốc hội là “cơ quan lập pháp duy nhất”. “Duy nhất” tức là chỉ có một không có cái thứ hai.

Cơ quan lập pháp là cơ quan có vai trò tạo ra quy tắc của đất nước.  Vì vậy trường hợp  cơ quan ngoài quốc hội  có thể tạo ra quy tắc của đất nước cũng được quy định bởi hiến pháp. Thêm nữa ở trong quy tắc của đất nước do quốc hội tạo ra tức là pháp luật thì việc quyết định bằng mệnh lệnh cũng được phép. Việc những đại biểu do quốc dân lựa chọn tạo ra quy tắc trị quốc dân ở quốc hội là tiền đề của dân chủ.

Tuy nhiên quốc hội ngoài tạo ra quy tắc của đất nước còn có một vai trò quan trọng nữa. Đó là giám sát công việc của nội các và các cơ quan công cấp dưới. Công việc của các cơ quan công này được gọi là hành chính như trước đó đã nói vì thế quốc hội giám sát hành chính và đóng vai trò làm cho công việc của các cơ quan không sai sót. Như thế đại biểu của nhân dân đã giám sát công việc của nhà nước. Đây cũng là cách trị nước dân chủ. Quốc hội của Nhật Bản được tạo thành từ hai viện là “Chúng nghị viện” và “Tham nghị viện”. Mỗi viện đó được gọi là “Nghị viện”. Và như thế việc quốc hội được tạo thành từ hai nghị viện được gọi là “Chế độ lưỡng viện”. Có nước chỉ có một nghị viện duy nhất và đó là “Chế độ nhất viện”. Tuy nhiên quốc hội ở phần lớn các nước  được tạo thành từ hai viện. Việc nước do hai viện này cùng quyết định. Tại sao lại phải có hai viện?

Các bạn có biết cái gọi là “back-up” trong các môn thể thao như bóng chày hay không? Khi một tuyển thủ lấy bóng một cầu thủ khác chạy quanh ở phía sau để dõi theo đề phòng sai sót – đó gọi là “back-up”. Quốc hội do tiến hành việc nước cho nên chỉ một mình Chúng nghị viện sẽ xảy ra sai sót cho nên mới có Tham nghị viện để đề phòng sai sót.

Tuy nhiên trong thể thao thì các tuyển thủ  cùng nhau tiến hành “back-up” nhưng ở quốc hội thì công việc chủ yếu được tiến hành bởi Chúng nghị viện còn Tham nghị viện thì chủ yếu làm công việc “back-up” Chúng nghị viện. Do đó Chúng nghị viện được trao quyền lực lớn hơn Tham nghị viện. Chúng nghị viện với quyền lực lớn như vậy được gọi là “Đệ nhất viện” và Tham nghị viện được gọi là “Đệ nhị viện”. Tại sao Chúng nghị viện lại có quyền lực lớn hơn? Đó là do như sau:

Cuộc bầu cử ra Chúng nghị viện diễn ra bốn năm một lần. Nghị viên của Chúng nghị viện có nhiệm kì bốn năm một. Tuy nhiên khi mà nội các cho rằng suy nghĩ của Chúng nghị viện không phản ánh đúng đắn suy nghĩ của quốc dân thì nội các, để biết được ý kiến của quốc dân, có thể nói với Thiên hoàng và tiến hành bầu cử lại Chúng nghị viện. Đây được gọi là sự “giải tán” Chúng nghị viện. Bằng cuộc bầu cử sau khi giải tán, quốc dân lại lựa chọn ra Chúng nghị viện mới.

Ở phía Tham nghị viện thì nghị viên có nhiệm kỳ 6 năm  và cứ 3 năm thì bầu cử thay một nửa nghị viên nhưng không có chuyện giải tán giống như Chúng nghị viện. Và như vậy thì thấy Chúng nghị viện phản ánh tốt hơn Tham nghị viện ý kiến của quốc dân ở thời điểm nhất định nào đó. Do đó Chúng nghị viện có quyền lực lớn hơn Tham nghị viện. Chuyện Chúng nghị viện có quyền lực lớn hơn như thế nào được hiến pháp quy định nhưng nói gọn lại là khi Chúng nghị viện và Tham nghị viện có ý kiến khác nhau thì ý kiến của Chúng nghị viện sẽ được thông qua.

Tuy nhiên cả Chúng nghị viện và Tham nghị viện đều là đại biểu của toàn thể quốc dân vì thế nghị viên đều được lựa chọn từ trong quốc dân. Chúng nghị viên có số nghị viên là 466 người, Tham nghị viện có 250 người. Để lựa chọn được các nghị viên này, đất nước được chia thành các “khu vực bầu cử” ở khu vực bầu cử này tùy theo dân số mà phân ra số nghị viên. Do đó bầu cử được diễn ra theo từng khu vực bầu cử và số nghị viên được lựa chọn ra phù hợp với số nghị viên được phân chia.

Để bầu cử ra nghị viên, vào ngày bầu cử người dân phải đi đến nơi bỏ phiếu, lấy phiếu bầu và viết tên người mình nghĩ là tốt vào phiếu. Sau đó gấp tờ phiếu lại bỏ vào hòm đã khóa kín. Bỏ phiếu là quyền vô cùng quan trọng. Người bầu cử phải tự mình quyết định xem mình bỏ phiếu cho ai. Tuyệt đối không được bị thuyết phục bởi cam kết vật chất hay lợi ích. Sự bỏ phiếu này là bỏ phiếu kín vì thế không có nghĩa vụ nói bỏ phiếu cho ai và cho dù có bị hỏi tại sao lại lựa chọn người đó cũng không cần thiết phải trả lời.

Quốc dân Nhật Bản người từ 20 tuổi trở lên ai cũng có thể tham gia bầu cử ra nghị viên quốc hội, thống đốc, thị trưởng… Đây gọi là “Quyền bầu cử”. Ở nước ta trong một thời gian dài, chỉ có nam giới có quyền bầu cử. Thêm nữa chỉ có những người có tài sản và nộp thuế mới có quyền bầu cử.

Hiện tại do trị nước bằng phương thức dân chủ cho nên những người trên 20 tuổi dù là nam hay nữ đều có quyền bầu cử. Và như thế việc tất cả quốc dân có trong tay quyền bầu cử này được gọi là “bầu cử phổ thông”. Hiến pháp lần này công nhận bầu cử phổ thông là quyền con người cơ bản của quốc dân. Tuy nhiên cho dù nói là bầu cử phổ thông đi nữa thì cũng không phải là cả trẻ em và người điên cũng có quyền bầu cử nhưng ít nhất thì cũng không có sự phân biệt nhân chủng, nam nữ, tôn giáo, tài sản, tất cả mọi người đều có quyền bầu cử một cách bình đẳng.

Thêm nữa, quốc dân Nhật Bản ai cũng có thể trở thành nghị viên quốc hội. Cả nam và nữ đều có thể trở thành nghị viên. Đây gọi là “quyền được bầu cử”. Tuy nhiên về tuổi có sự khác biệt so với quyền bầu cử. Để trở thành nghị viên của Chúng nghị viện thì phải trên 25 tuổi và trở thành nghị viên Tham nghị viện phải trên 30 tuổi. Trong trường hợp quyền được bầu cử này cũng giống như quyền bầu cử đối với những người mà cho dù là ai đi nữa cũng nghĩ là không ổn thì người đó  sẽ không có quyền được bầu cử. Những người muốn trở thành nghị viên quốc hội và tự mình đăng ký thì đó là các “ứng cử viên”. Cũng có thể đăng ký ứng cử cho người khác khi mình nghĩ đó là người tốt. Đây được gọi là “tiến cử”.

Việc đăng ký ứng cử viên này được tiến hành trước ngày bầu cử. Người bỏ phiếu sẽ phải lựa chọn trong số các ứng cử viên này người mà bản thân cho là tốt. Không được viết tên người khác. Và những ứng cử viên có số phiếu cao sẽ trở thành nghị viên. Đó là “trúng cử”.

Các bạn thân mến, dân chủ là toàn thể quốc dân trị nước. Và quốc hội là đại biểu của toàn thể quốc dân. Vì vậy việc bầu cử nghị viên  quốc hội là quyền quan trọng của quốc dân đồng thời là trách nhiệm quan trọng. Quốc dân nhất định phải đi bầu cử. Việc không đi bầu cử là đánh mất quyền lợi quan trọng đồng thời cũng là lãng quên trách nhiệm quan trọng. Việc không đi bầu cử thông thường gọi là “khi quyền”. Có nghĩa là từ bỏ quyền lợi. Quốc dân không được ném bỏ quyền lợi. Các bạn giờ đây có quyền này trong tay vì vậy việc bầu cử tôi đã viết rất kĩ.

Quốc hội tập trung các nghị viên được quốc dân lựa chọn và là nơi quyết định việc nước vì thế khác với các cơ quan công khác là  quốc dân có thể biết tình hình các nghị viên tiến hành công việc của đất nước ở quốc hội. Quốc dân bất cứ khi nào cũng có thể đến quốc hội và xem xét hay nghe ngóng. Thêm nữa có thể xem và nghe qua đài báo.

Tóm lại, công việc của quốc hội được diễn ra trước mắt của quốc dân. Đó là do hiến pháp quy định rằng công việc của quốc hội phải được diễn ra sao cho lúc nào người dân cũng có thể chứng kiến. Đó là công việc rất vất vả. Cho dù hiếm hoi nhưng giả sử như có hội nghị bí mật mở ra thì cần phải có các thủ tục đầy khó khăn. Và nhờ thế quốc dân sẽ hiểu được việc trị nước được tiến hành như thế nào, nhà nước đang tiến hành việc gì, các nghị viên được dân chọn ra đưa ra ý kiến gì trước quốc hội. Sự sáng sủa  và đúng đắn của việc nước sẽ sinh ra từ đây. Nếu như quốc hội mất đi thì đất nước sẽ trở nên tăm tối. Đó là cách làm hay của dân chủ. Quốc hội là thứ không thể thiếu được trong dân chủ.
Quốc hội của Nhật Bản không phải là mở ra suốt cả năm. Tuy nhiên mỗi năm nhất thiết phải mở một lần. Đây gọi là “Họp thường kì”. Họp thường kì được quy định là 150 ngày. Đây được gọi là “Kì họp” của quốc hội. Bên cạnh đó thì khi cần thiết cũng tiến hành họp lâm thời. Đây được gọi là “Họp lâm thời”.

Thêm nữa, khi Chúng nghị viện bị giải tán, trong vòng 40 ngày kể từ ngày giải tán thì bầu cử diễn ra và trong vòng 30 ngày kể từ ngày bầu cử quốc hội mới sẽ họp. Đây được gọi là “Kì họp đặc biệt”. Kì họp lâm thời và Kì họp đặc biệt là do quốc hội tự quyết định. Thêm nữa, kì họp  thường kì của quốc hội cũng có thể kéo dài khi cần thiết. Và điều này cũng là do quốc hội tự quyết định. Khi quốc hội họp thì các nghị viên sẽ bị gọi đến. Cái này quốc hội gọi là “triệu tập”. Quốc hội được triệu tập sẽ tự họp và tiến hành công việc, nếu như kì họp kết thúc thì tự bế mạc và quốc hội có kì nghỉ tạm thời.

Các bạn có biết tòa nhà quốc hội không? Hãy nhìn tòa nhà trắng đẹp đẽ phản chiếu ánh sáng mặt trời kia. Đó là nơi thể hiện quyền lực của quốc dân Nhật Bản. Đó là nơi quốc dân Nhật Bản có trong tay chủ quyền tiến hành trị nước.

9. Chính đảng

“Chính đảng” là chỉ đoàn thể tập trung những người có cùng ý kiến về việc trị nước. Các bạn đã từng nghe đến những cái tên “Đảng xã hội, đảng dân chủ, đảng tự do, Đảng quốc dân hiệp đồng, Đảng cộng sản phải không nào? Tất cả đều là các chính đảng. Các nghị viên xuất thân từ chính đảng có một bộ phận là người tạo ra chính đảng. Vì vậy, khi nói có một chính đảng có nghĩa rằng ở trong nước có rất nhiều người có ý kiến giống với đảng đó.
 
Trong chính đảng có ý kiến quyết định về việc trị nước và họ thông báo điều này cho quốc dân biết. Ý kiến của quốc dân thì thay đổi theo từng người nhưng nếu phân chia đại thể thì nó sẽ phân chia theo các đảng này. Tóm lại, có thể nói chính đảng là thứ thể hiện sự phân chia phong phú ý kiến của toàn thể quốc dân về việc trị nước. Để trị nước bằng dân chủ toàn thể quốc dân cần phải thảo luận ý kiến và đi đến quyết định. Các chính đảng cùng nhau thảo luận về việc nước chính là vì thế.

Ở  Nhật Bản liên quan đến chính đảng có những suy nghĩ sai lầm. Đó là sự nhìn nhận cho rằng các chính đảng trong nước không nên khăng khăng ý kiến của bản thân mình. Đây là sự sai lầm lớn. Bởi vì cách làm dân chủ liên quan đến việc nước là quốc dân phải quyết định sau khi đã thảo luận rất nhiều ý kiến vì vậy sự cạnh tranh giữa các chính đảng không phải là sự cãi nhau. Nếu tiến hành dân chủ thì chắc chắn sẽ có các chính đảng.

Thêm nữa, cần phải có các chính đảng. Có bao nhiêu chính đảng đi nữa cũng tốt. Có thể nghĩ rằng chỉ bằng con số chính đảng thì ý kiến của quốc dân đã phân chia ở mức độ tổng quát. Ở Đức hay Ý đã từng có chuyện chỉ có một chính đảng và ở Nhật cũng có chuyện từ bỏ chính đảng. Kết quả thế nào đây? Chẳng phải là ý kiến của quốc dân đã không còn được nghe nữa thay vào đó là quyền lợi của cá nhân và rồi chiến tranh bắt đầu sao?

Mỗi lần có bầu cử quốc hội các chính đảng lại đưa ra các ứng cử viên từ chính đoàn thể của mình và cho quốc dân biết về ý kiến của bản thân và cố gắng có được càng nhiều nghị viên trong quốc hội càng tốt. Chúng nghị viện có quyền lực lớn hơn Tham nghị viện cho nên từng chính đảng đều muốn người của mình chiếm số đông nhất trong Chúng nghị viện. Vì vậy đối với các chính đảng thì cuộc bầu cử Chúng nghị viện là việc quan trọng nhất. Quốc dân xem xét ý kiến của các chính đảng này và nếu bỏ phiếu cho ứng cử viên của đảng mà mình cho là tốt nhất thì ý kiến của bản thân thông qua chính đảng sẽ đến được quốc hội.

Người không vào đảng nào cũng có thể trở thành ứng cử viên. Quốc dân tất nhiên cũng tự do bỏ phiếu cho các ứng cử viên này. Tuy nhiên ở trong đảng thì có ý kiến quyết định sẵn và điều đó được thông báo tới quốc dân do đó nếu như bỏ phiếu cho ứng cử viên của chính đảng thì  khi người đó ra quốc hội việc người đó đưa ra ý kiến như thế nào, làm việc như thế nào đã được quyết định rõ ràng. Và cứ thế qua từng cuộc bầu cử công việc của đất nước được  tiến hành bằng ý kiến của chính đảng có số nghị viên đông đảo trong Chúng nghị viện. Điều này nói một cách khác là trong toàn thể quốc dân việc trị nước được tiến hành theo ý kiến của phe đa số.

Các bạn quốc dân cần phải biết cặn kẽ về các chính đảng. Hãy vào đảng mà mình yêu thích, thêm nữa việc tự mình tạo ra các chính đảng là tự do của quốc dân và hiến pháp công nhận đây là “quyền con người cơ bản”. Không ai có thể cản trở điều này.

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

Trò chuyện về tân hiến pháp (Kỳ I): Hiến pháp, dân chủ, và chủ quyền toàn dân

February 16, 2014 Leave a comment

Hình minh họa cho mục “Hiến pháp” trong sách
“Trò chuyện về tân hiến pháp”
“Trò chuyện về tân hiến pháp” (1947) được soạn ra để giúp người dân Nhật Bản lĩnh hội được nội dung của hiến pháp mới, thay thế cho Hiến pháp Đại đế quốc Nhật Bản ban bố dưới thời Minh Trị. Tia Sáng xin trích đăng một phần nội dung của cuốn sách đã có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình dân chủ hóa nước Nhật và khai sáng quốc dân Nhật.
1. Hiến pháp Chào các bạn, Hiến pháp mới đã hoàn thành. Từ ngày 3 tháng 5 năm Showa thứ 22 (năm 1947-ND), quốc dân Nhật Bản chúng ta sẽ phải tuân thủ hiến pháp này. Để có được bản Hiến pháp này, rất nhiều người đã lao tâm khổ tứ.  Nhân tiện đây, các bạn có biết hiến pháp là thứ như thế nào không? Có ai nghĩ nó giống như là thứ không có liên quan gì đến mình không? Giả sử có, thì đó là một sai lầm lớn.

Việc nước không thể một ngày ngơi nghỉ. Thêm nữa, cách tiến hành công việc trị nước cần phải được quyết định rõ ràng. Để làm được điều đó cần đến rất nhiều quy tắc. Các quy tắc này có rất nhiều nhưng trong đó quy tắc quan trọng nhất là Hiến pháp.

Quy tắc cơ bản nhất quyết định trị nước như thế nào, tiến hành việc nước như thế nào là Hiến pháp. Nếu như nhà của các bạn bị mất cột thì sẽ thế nào? Ngôi nhà sẽ đổ sập ngay lập tức. Nếu ví đất nước như ngôi nhà thì cây cột chính là Hiến pháp. Nếu như không có Hiến pháp, thì cho dù trong nước có bao nhiêu người đi chăng nữa cũng không hiểu được phải trị nước như thế nào. Vì vậy cho dù là ở nước nào, Hiến pháp với tư cách là quy tắc quan trọng nhất cũng được tuân thủ chặt chẽ. Quy tắc quan trọng nhất của đất nước nói một cách khác cũng là quy tắc có vị trí cao nhất vì thế  Hiến pháp còn được gọi là “quy tắc tối cao” của đất nước.

Tuy nhiên trong Hiến pháp này, giống như vừa trình bày, bên cạnh cách tiến hành việc nước còn viết về một điều quan trọng nữa. Đó là quyền lợi của quốc dân. Quyền lợi này sẽ được nói chi tiết ở phần sau vì thế ở đây chỉ xin được nói về việc tại sao nó lại quan trọng giống như là quy tắc quyết định cách  tiến hành việc nước.

Các bạn là một thành viên trong quốc dân Nhật Bản. Nếu như từng quốc dân không trở nên thông minh và mạnh mẽ thì toàn thể quốc dân không thể nào trở nên thông minh và mạnh mẽ được. Nguồn gốc của sức mạnh đất nước là nằm ở mỗi người dân. Vì thế mà nhà nước thừa nhận năng lực của từng người dân và bảo vệ nó chu đáo. Để làm được điều đó, Hiến pháp đã quy định  rất nhiều quyền lợi của từng người dân. Quyền lợi quan trọng này của người dân được gọi là “các quyền cơ bản của con người”. Quyền lợi này cũng được ghi trong Hiến pháp.

Vì vậy, một lần nữa tôi lại muốn nói xem Hiến pháp là gì. Hiến pháp là quy tắc quan trọng nhất của đất nước tức là “Pháp quy tối cao” vì vậy ở trong đó có ghi hai việc quan trọng. Thứ nhất là quy tắc quyết định cách trị nước, cách tiến hành việc nước. Thứ hai là quy tắc quy định những quyền quan trọng nhất của quốc dân tức là những “quyền con người cơ bản”. Bên cạnh đó hiến pháp cũng quy định nhiều việc cần thiết khác. Như sẽ được trình bày ở phần sau, Hiến pháp lần này cũng quy định một việc vô cùng quan trọng là không tiến hành chiến tranh.

Hiến pháp có từ trước đến nay là hiến pháp ra đời vào năm Minh Trị thứ 22 (tức năm 1889-ND), là hiến pháp do Thiên hoàng Minh Trị tạo ra và áp dụng cho người dân. Tuy nhiên Hiến pháp mới lần này là do chính bản thân quốc dân tạo ra, là thứ được lập ra một cách tự do bằng ý kiến của toàn thể quốc dân Nhật Bản. Để biết được ý kiến của toàn thể quốc dân, cuộc tổng tuyển cử đã diễn ra vào ngày 10 tháng 4 năm Showa thứ 21 (năm 1946-ND), các đại biểu mới của quốc dân được bầu và những người này đã tạo ra Hiến pháp. Vì vậy Hiến pháp mới là do toàn thể quốc dân lập nên.

Các bạn cũng là một trong số quốc dân Nhật Bản. Nếu vậy Hiến pháp này là do các bạn tạo ra. Các bạn sẽ coi trọng thứ mà bản thân mình tạo ra phải không nào. Nếu như Hiến pháp lần này là thứ được tạo ra từ toàn thể quốc dân bao gồm các bạn và là quy tắc quan trọng nhất của đất nước thì các bạn với tư cách là một thành viên của quốc dân phải bảo vệ cho được Hiến pháp. Để làm được điều đó thì trước hết các bạn phải biết rõ những nội dung nào được viết trong hiến pháp này.

Khi quyết định quy tắc cho trò chơi nào đó các bạn cùng nhau viết và đặt kí hiệu cho nó  phải không nào. Quy tắc của quốc gia cũng thế, nó được viết phân theo từng nội dung và có thêm vào kí hiệu như điều số mấy. Hiến pháp lần này có từ điều 1 đến điều 103. Bên cạnh đó  còn có phần viết ở đầu tiên. Đây được gọi là “Lời nói đầu”.

Ở phần “Lời nói đầu” này có ghi những việc như ai tạo ra Hiến pháp này, quy tắc của Hiến pháp này được tạo ra từ tư duy nào… Lời nói đầu nhắm đến hai mục đích. Thứ nhất là khi mọi người đọc Hiến pháp và muốn biết ý nghĩa của nó thì đây là đầu mối. Tóm lại, Hiến pháp lần này là thứ được tạo ra từ tư duy được ghi ở lời nói đầu vì vậy không được nghĩ khác với tư duy có ở Lời nói đầu. Tác dụng thứ hai là từ giờ trở đi khi thay đổi Hiến pháp không được trái với tư duy đã được ghi trong Lời nói đầu.

Vậy thì tư duy của Lời nói đầu là như thế nào. Tư duy quan trọng nhất có ba điều. Đó là “dân chủ chủ nghĩa”, “chủ nghĩa hòa bình quốc tế” và “chủ nghĩa chủ quyền thuộc về quốc dân”. Khi sử dụng từ “chủ nghĩa” thì nghe có vẻ khó nhưng nếu nghĩ thì chẳng có gì là khó. Tôi nghĩ rằng chủ nghĩa là cách suy nghĩ về sự vật. Do vậy các bạn cần phải biết về ba nội dung này. Trước hết hãy bắt đầu từ  “Dân chủ chủ nghĩa”

2. Dân chủ là gì

Tư duy số một trở thành nền tảng của Hiến pháp lần này là dân chủ. Vậy tóm lại dân chủ là gì? Các bạn đại thể đã nghe thấy từ này phải không nào? Nếu nói đây là thứ tạo nên nền tảng của Hiến pháp mới thì các bạn cần phải biết rõ về điều này. Thêm nữa cần phải hiểu biết đúng đắn về nó.

Các bạn hãy thử nghĩ đến việc đông đảo mọi người tập trung lại để cùng làm điều gì đó. Mọi chuyện sẽ được quyết định bằng ý kiến của ai? Nếu như ý kiến của mọi người đều giống nhau  thì sẽ không có chuyện gì. Giả sử như khi ý kiến khác nhau thì làm thế nào? Quyết định bằng ý kiến của một người? Quyết định bằng ý kiến của hai người? Hay là quyết định bằng ý kiến của số đông? Cái nào tốt hơn đây? Cũng có trường hợp ý kiến của một người đúng đắn và ưu việt trong khi ý kiến của nhiều người lại sai. Tuy nhiên phần lớn là ngược lại. Khi đó, việc mọi người thảo luận về suy nghĩ của bản thân sau đó quyết định theo ý kiến của số đông là điều hoàn toàn đúng đắn. Và những người còn lại nên tuân theo ý kiến của số đông mọi người. Việc quyết định mọi việc theo ý kiến của số đông mọi người là cách làm dân chủ.

Việc trị nước cũng giống như thế. Việc trị nước theo ý kiến của một số ít người là điều không tốt. Trị nước theo ý kiến của đông đảo quốc dân là tốt nhất. Tóm lại đông đảo quốc dân tiến hành trị nước là cách trị nước dân chủ.

Tuy nhiên đất nước khác với lớp học. Toàn thể quốc dân không thể tập trung lại một chỗ để thảo luận được. Việc đi đến từng nơi lắng nghe ý kiến của từng người cũng không thể làm được. Vì vậy cần phải có người thay mặt cho mọi người quyết định cách trị nước. Đó là quốc hội.

Việc quốc dân bầu cử nên nghị viên quốc hội cũng chính là việc họ lựa chọn ra người thay mặt mình trị nước. Vì vậy ở quốc hội công việc sẽ được quyết định bởi ý kiến của các nghị viên thay mặt quốc dân. Các nghị viên khác sẽ phải tuân theo điều này. Đó là việc quyết định công việc theo ý kiến của toàn thể quốc dân. Đây là dân chủ. Vì vậy dân chủ là toàn dân trị nước. Việc quyết định mọi việc theo ý kiến của mọi người sẽ ít sai sót nhất. Vì vậy nếu trị nước bằng dân chủ thì mọi người sẽ hạnh phúc và đất nước sẽ phồn vinh.

Do đất nước rộng lớn vì thế việc nước được giao phó cho các nghị viên quốc hội cho nên quốc hội thay mặt cho quốc dân. Sự “thay mặt” này được gọi là “đại diện”. Giống như trước đó tôi đã trình bày, dân chủ là toàn dân trị nước nên quốc hội sẽ thay mặt cho toàn thể quốc dân quyết định việc nước do đó người ta gọi đây là “dân chủ theo chế độ đại biểu”.

Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là không giao phó cho quốc hội mà quốc dân quyết định công việc theo ý kiến của bản thân mình. Trong hiến pháp lần này có giả sử nếu như có sửa đổi hiến pháp thì một mình quốc hội không thể quyết định được mà phải bỏ phiếu để biết từng người dân phản đối hay đồng ý. Khi đó, quốc dân trực tiếp quyết định việc nước vì vậy đây được gọi là cách làm “dân chủ trực tiếp”. Hiến pháp mới chọn hai cách trị nước là dân chủ theo chế độ đại biểu và dân chủ trực tiếp nhưng chủ yếu là dân chủ theo chế độ đại biểu, dân chủ trực tiếp chỉ giới hạn trong những việc quan trọng nhất. Vì vậy có thể nói Hiến pháp lần này đại thể là dân chủ theo chế độ đại biểu.

Các bạn là quốc dân Nhật Bản. Tuy nhiên vẫn  đang  còn là học sinh. Khi các bạn 20 tuổi lúc đó các bạn lần đầu tiên mới có thể quyết định được việc nước. Cả việc bầu nghị viên quốc hội hay bỏ phiếu liên quan đến việc nước khi các bạn đủ 20 tuổi các bạn mới có thể bắt đầu. Các bạn có anh trai, chị gái trên 20 tuổi phải không nào? Khi nhìn thấy anh, chị phân vân khi bỏ phiếu các bạn có tâm trạng thế nào? Bây giờ các bạn hãy học hành thật chăm chỉ, tìm hiểu thật kĩ về việc trị nước cũng như là Hiến pháp. Chẳng bao lâu nữa các bạn sẽ cùng anh, chị có thể tự mình quyết định việc nước. Việc trị nước sẽ được tiến hành bằng suy nghĩ của các bạn. Không có gì vui hơn việc các bạn hòa thuận và tự mình tiến hành việc nước. Đó là dân chủ.

3. Chủ nghĩa hòa bình quốc tế

[…]

4. Chủ quyền thuộc về quốc dân

Các bạn hãy thử tập trung lại và  chọn ra xem ai là người vĩ đại nhất. Tóm lại “vĩ đại nhất” tức là thế nào? Có phải là học giỏi không? Hay là người khỏe  mạnh? Thật là khó vì có rất nhiều cách quyết định.

Trong đất nước thì có thể nói ai là  người “vĩ đại nhất” đây? Giả sử như việc nước được quyết định bởi ý nghĩ của một người thì phải nói người đó là vĩ đại. Nếu như việc nước được quyết định bằng ý nghĩ của nhiều người thì mọi người sẽ trở nên vĩ đại. Nếu như toàn thể quốc dân quyết định thì người vĩ đại nhất là toàn thể quốc dân. Hiến pháp lần này là hiến pháp dân chủ nên việc trị nước được tiến hành bằng suy nghĩ của toàn thể quốc dân. Và như thế thì rõ ràng toàn thể quốc dân là vĩ đại nhất.
 
Sức mạnh trị nước được gọi là “chủ quyền” và nếu sức mạnh này nằm ở toàn thể quốc dân thì người ta gọi đó là “chủ quyền thuộc về quốc dân”. Hiến pháp lần này giống như tôi vừa trình bày, coi dân chủ là gốc vì vậy chủ quyền đương nhiên là thuộc về quốc dân Nhật Bản. Vì vậy ngay ở phần Lời nói đầu và  ở  Điều 1 của hiến pháp cũng ghi rõ ràng là “chủ quyền thuộc về quốc dân”. Chủ quyền thuộc về quốc dân được gọi là “chủ quyền tại dân”. Hiến pháp mới được tạo thành từ tư duy chủ quyền tại dân vì vậy nó là hiến pháp chủ nghĩa chủ quyền tại dân. Các bạn là một người dân Nhật Bản. Các bạn  sẽ là người nắm chủ quyền trong tay. Tuy nhiên chủ quyền lại nằm trong toàn thể quốc dân Nhật Bản. Nó không phải là thứ từng người riêng biệt nắm trong tay. Chuyện từng người nghĩ rằng mình là vĩ đại và tự ý tiến hành mọi việc chắc chắn không phải là điều tốt. Đó là điều không thích hợp với dân chủ. Các bạn vừa phải tự hào rằng mình là một người dân nắm chủ quyền trong tay vừa phải có tinh thần trách nhiệm. Vừa phải là học sinh tốt vừa phải là quốc dân tốt.

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

Nguồn: Tia sáng
%d bloggers like this: