Archive

Posts Tagged ‘Lịch sử Nhật BẢn’

Bài phát biểu của thủ tướng Abe Shinzo nhân dịp 70 năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai

August 15, 2015 5 comments

Đây là bài phát biểu của đương kim thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe vào thời điểm kỉ niệm 70 năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong bối cảnh Nhật Bản có những thay đổi chiến lược về chính sách an ninh, diễn văn của ông được cộng đồng thế giới đặc biệt là châu Á quan tâm. Xin dịch và trân trọng giới thiệu với các bạn. 

Tôi cho rằng ở vào thời điểm 70 năm sau chiến tranh, chúng ta phải bình tĩnh nhìn lại con đường dẫn tới chiến tranh, những bước đi từ sau chiến tranh, tức thời đại được gọi là thế kỷ 20, để học lấy trí tuệ cho tương lai từ những bài học của lịch sử ấy.

Trong thế giới 100 năm về trước, các thuộc địa rộng lớn của các nước mà chủ yếu là các nước phương Tây đã mở rộng. Với bối cảnh đằng sau là sự ưu việt áp đảo về kĩ thuật, làn sóng cai trị thuộc địa đã dội đến châu Á vào thế kỷ 19.

Việc cảnh giác trước nguy cơ ấy đã trở thành động lực cận đại hóa Nhật Bản là điều không cần bàn cãi. Lần đầu tiên ở châu Á chính trị lập hiến đã được xác lập và Nhật Bản bảo vệ được độc lập. Chiến tranh Nhật-Nga có nguồn gốc từ sự cai trị thực dân và đem lại dũng khí cho đông đảo người dân châu Á và châu Phi.

Trải qua Đại chiến thế giới thứ nhất, các động thái dân tộc tự quyết lan rộng và sự thuộc địa hóa từ trước đến nay bị chặn lại. Cuộc chiến tranh này đã làm cho 10 triệu người chết và là cuộc chiến tranh bi thảm.

Trào lưu cộng đồng quốc tế mới coi chiến tranh là bất hợp pháp nảy sinh đương thời đã thu hút cả Nhật Bản. Tuy nhiên, khủng hoảng thế giới phát sinh và các nước Âu Mĩ đã cuốn theo kinh tế thuộc địa vào đó và khi kinh tế bị đóng băng nền kinh tế Nhật Bản đã bị chấn động mạnh.

Trong bối cảnh ấy, Nhật Bản ngày càng cảm thấy bị cô lập và đã cố gắng giải quyết sự bế tắc về kinh tế, ngoại giao bằng sử dụng sức mạnh. Hệ thống chính trị trong nước đã không thể cản được điều đó. Và rồi Nhật Bản đã không còn nhận biết được đại cục thế giới.

Sau sự biến Mãn Châu và rút khỏi Hội Quốc liên, Nhật Bản đã trở thành “kẻ thách thức” đối với “trật tự thế giới mới” được cộng đồng quốc tế cố gắng xây dựng trên sự hi sinh to lớn. Nhật Bản đã chọn lầm đường và tiến vào con đường chiến tranh.

Và rồi 70 năm trước, Nhật Bản đã bại chiến.

Nhân dịp 70 năm sau chiến tranh trước sinh mệnh của tất cả những người đã chết ở trong và ngoài nước, xin cúi đầu thật thấp để bày tỏ chân thành nỗi đau và sự tiếc thương mãi mãi.

Trong đại chiến trước đó, hơn 3 triệu đồng bào đã bỏ mạng. Đấy là những người đã lo lắng về tương lai của tổ quốc và vừa nguyện cầu cho hạnh phúc gia đình vừa đi ra chiến trường. Cũng là những người sau chiến tranh đã khổ sở hoặc qua đời vì bệnh tật, nạn đói ở những đất lạnh lẽo hoặc nóng bức xa xôi khác biệt. Rất nhiều  người dân đã chết bi thảm vì bom nguyên tử ở Hiroshima, Nagasaki, các cuộc không kích vào các đô thị như Tokyo và cuộc chiến  trên  đất Okinawa.

Cả những nước tham gia chiến tranh cũng có biết bao nhiêu người trẻ tuổi có tương lai bỏ mạng. Ở những khu vực trở thành chiến trường như Trung Quốc, Đông Nam Á, các hòn đảo ở Thái Bình Dương rất nhiều người dân bất hạnh đã khốn khổ và chết vì chiến tranh và cả vì nạn thiếu lương thực. Cũng không được quên rằng dưới bóng đen của chiến trường đã có những phụ nữ bị tổn thương danh dự và phẩm giá sâu sắc.

Sự thật là nước ta đã làm cho bao nhiêu người vô tội phải chịu những khổ đau và tổn thất không gì đo đếm được. Lịch sử là thứ khắc nghiệt và không thể nào làm lại. Mỗi người đều đã có cuộc đời, giấc mơ và gia đình yêu mến. Giờ đây, khi nếm trải sự thật đương nhiên này, không biết nói gì hơn ngoài nỗi buồn đau.

Từ những hi sinh quý giá từ trước đến nay ấy mà giờ đây có hòa bình. Đấy là điểm xuất phát của Nhật Bản sau chiến tranh.

Không được để cho sự bi thảm của chiến tranh lặp lại lần thứ hai.

Sự biến, xâm lược, chiến tranh. Cả sự uy hiếp, sử dụng vũ lực cũng không được dùng như là phương tiện giải quyết tranh chấp quốc tế lần thứ hai. Phải chia tay vĩnh viễn với sự cai trị thực dân và tạo ra thế giới nơi quyền tự quyết của tất cả các dân tộc được tôn trọng.

Cùng với sự ăn năn sâu sắc về cuộc đại chiến trước kia, nước chúng ta đã thề như thế. Chúng ta đã tạo ra đất nước dân chủ và tự do, tôn trọng pháp luật và duy trì lời thề bất chiến. Trước những bước đi với tư cách là quốc gia hòa bình trong suốt 70 năm, chúng ta vừa mang trong mình lòng tự hào điềm tĩnh vừa nhất quán duy trì phương châm không đổi ấy.

Nước chúng ta đã nhiều lần thể hiện sự phản tỉnh thống thiết và cảm xúc hối lỗi về những điều đã làm trong cuộc đại chiến trước đó. Để thể hiện ý nghĩ đó bằng hành động, chúng ta đã khắc sâu lịch sử những nỗi khổ đau mà người dân châu Á láng giềng như Indonesia, Phillipin, các nước Đông Nam Á, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc đã trải qua và sau chiến tranh đã nhất quán dốc lòng vì  hòa bình và sự phồn vinh.

Lập trường như trên của các nội các trong quá khứ vẫn là thứ không hề thay đổi từ giờ về sau.

Tuy nhiên, cho dù chúng ta có nỗ lực bao nhiêu đi nữa thì có lẽ cũng sẽ không làm nguôi ngoai đi ký ức cay đắng của những người đã nếm trải nỗi đau khổ lầm than do chiến tranh và nỗi buồn của những người đã mất đi gia đình.

Vì vậy, chúng ta phải khắc sâu trong tim những điều sau.

Sự thật rằng sau chiến tranh, hơn 6 triệu người Nhật đã trở về vô sự từ các khu vực ở châu Á-Thái Bình Dương và trở thành động lực tái thiết Nhật Bản.

Sự thật rằng gần 3000 trẻ em người Nhật bị bỏ lại ở Trung Quốc đã lớn lên vô sự và lại được đặt chân lên mảnh đất của tổ quốc.

Sự thật rằng những người vốn là tù binh ở các nước Mĩ, Anh, Hà Lan, Úc trải qua năm tháng dài lâu đã đến thăm Nhật Bản và tiếp tục an ủi những người đã chết trận của cả hai bên.

Những người Trung Quốc đã nếm trải khổ đau của chiến tranh, những người vốn là tù binh đã phải chịu những nỗi khổ đau của quân đội Nhật khi khoan dung như thế trong lòng họ đã có những nỗi khổ tâm như thế nào và cần đến sự nỗ lực biết bao nhiêu.

Trước những việc đó, chúng ta không thể nào không suy nghĩ. Bằng tấm lòng khoan dung, Nhật Bản sau chiến tranh đã trở lại cộng đồng quốc tế.

Nhân dịp 70 năm sau chiến tranh đất nước chúng ta muốn bày tỏ lòng biết ơn từ tấm lòng mình tới tất cả các quốc gia, tới tất cả những người đã dốc sức cho sự hòa giải.

Ở Nhật Bản những thế hệ sinh ra sau chiến tranh hiện nay đang chiếm trên 80% dân số. Không thể để cho con cháu chúng ta, những người không liên quan gì tới cuộc chiến tranh đó và con cháu của những thế hệ trước phải tiếp tục gánh trên vai lời xin lỗi.

Tuy nhiên, cho dẫu thế, người Nhật chúng ta, bất kể thế hệ phải đối diện thẳng thắn với lịch sử của quá khứ.

Chúng ta có trách nhiệm tiếp nhận quá khứ bằng tấm lòng khiêm tốn và đưa nó vào tương lai.

Thế hệ cha mẹ chúng ta và thế hệ ông bà chúng ta đã sống sót trong tận cùng nghèo đói và sự hoang phế sau chiến tranh.

Điều đó có thể kết nối tương lai với thế hệ chúng ta hiện tại và thế hệ tiếp theo. Đấy là nhờ vào nỗ lực không mệt mỏi của những người đi trước cùng lòng tốt, sự giúp đỡ vượt qua ân oán của rất nhiều nước đã từng đánh nhau dữ dội trong tư cách là kẻ địch như Mĩ, Úc, các nước châu Âu.

Chúng ta phải tiếp tục kể về điều đó trong tương lai. Chúng ta sẽ khắc sâu bài học lịch sử trong lòng, xây dựng tương lai tốt đẹp hơn và nỗ lực vì sự hòa bình và thịnh vượng của châu Á, thế giới.

Chúng ta tiếp tục khắc sâu trong lòng quá khứ mong muốn thoát ra khỏi sự bế tắc của bản thân bằng sức mạnh. Vì vậy, nước chúng ta cho dù xung đột vẫn phải tôn trọng pháp luật và giải quyết bằng ngoại giao, hòa bình thay vì sử dụng sức mạnh.

Chúng ta từ giờ về sau sẽ tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc này và vận động những nước khác. Với tư cách là nước duy nhất bị chiến tranh nguyên tử, chúng ta sẽ phát huy trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế hướng tới hạn chế phát tán và loại trừ vĩnh viễn vũ khí nguyên tử.

Chúng ta sẽ tiếp tục khắc sâu trong lòng quá khứ trong thế kỉ 20 ở đó danh dự và phẩm giá của rất nhiều phụ nữ bị làm tổn thương sâu sắc. Chính vì vậy, nước chúng ta muốn trở thành nước luôn ở cạnh những phụ nữ ấy. Chính thế kỉ 21 này, chúng ta sẽ trở thành nước dẫn đầu thế giới vì một thế kỉ nhân quyền phụ nữ không bị xâm hại.

Chúng ta sẽ tiếp tục khắc sâu trong lòng quá khứ ở đó sự trì trệ về kinh tế đã gieo mầm chiến tranh. Chính vì vậy mà nước ta sẽ không bị chi phối bởi ý muốn của bất cứ nước nào mà sẽ tăng cường giúp đỡ các nước đang phát triển, phát triển hệ thống kinh tế quốc tế rộng mở, tự cho, công bằng và làm cho thế giới ngày một phồn vinh.

Chính phồn vinh sẽ là nền tảng của hòa bình. Chúng ta sẽ đối mặt với nghèo đói, thứ là mảnh đất màu mỡ của bạo lực và nỗ lực hơn nữa để cung cấp y tế, giáo dục, cơ hội tự lập cho tất cả mọi người trên thế giới.

Chúng ta sẽ tiếp tục khắc sâu trong lòng quá khứ ở đó chúng ta đã trở thành kẻ khiêu khích trật tự thế giới. Chính vì vậy, đất nước chúng ta sẽ duy trì vững chắc không dao động các giá trị cơ bản như tự do, dân chủ, nhân quyền, bắt tay với các nước cùng có chung các giá trị ấy, giương cao ngọn cờ “chủ nghĩa hòa bình tích cực” và cống hiến hơn nữa cho hòa bình và phồn vinh của thế giới.

Hướng đến 80, 90, 100 năm sau chiến tranh, chúng tôi quyết tâm sẽ cùng với quốc dân dựng xây nước Nhật như thế.

Ngày 14 tháng 8 năm 2015 năm Heisei 27 (2015)

Thủ tướng Abe Shinzo

Nguyễn Quốc Vương dịch từ tiếng Nhật

Nguồn: http://www.sankei.com/politics/news/150814/plt1508140016-n8.html

Advertisements

Ashikaga Yoshimitsu (1358-1408): Tướng quân thống nhất Nam-Bắc triều

October 16, 2014 Leave a comment

220px-Yoshimitsu_Ashikaga_cropped

Ashikaga Yoshimitsu là cháu nội của Ashikaga Takauji-người sáng lập Mạc phủ Muromachi, con trai thứ hai của Tướng quân đời thứ 2 Ashikaga Yoshiakira. Năm 11 tuổi khi cha mất, Ashikaga Yoshimitsu trở thành tướng quân và điều hành chính trị với sự giúp đỡ của viên quan chấp sự Hosokawa Yoriyuki. Ashikaga Yoshimitsu lên làm tướng quân trong bối cảnh cuộc nội chiến tranh giành quyền lực và ngôi vị chính thống Nam-Bắc triều vẫn tiếp tục. Tướng quân Ashikaga Yoshimitsu một mặt lo củng cố quyền lực một mặt ra tay đánh dẹp các thế lực chống đối.

Năm 21 tuổi, Ashikaga Yoshimitsu chuyển dinh về Kitakoji Muromachi của Kyoto. Các nguyên vật liệu tốt nhất từ gỗ, đá cho đến cây cối, hoa cỏ được tập trung về đây vì thế dinh thự của tướng quân được gọi là “Hana no Gosho” (Cung điện hoa). Từ thời điểm này trở đi Ashikaga Yoshimitsu đủ tự tin tự mình  điều hành chính trị. Đối thủ mà ông để mắt tới là các daimyo thủ hộ. Trước đó vào thời Kamakura các thủ hộ vốn làm công việc như cảnh sát được đặt ra ở khắp nước. Các daimyo thủ hộ này có trong tay nhiều thuộc hạ và ruộng đất trở thành lực lượng cát cứ lấn lướt quyền Mạc phủ. Trong số các thủ hộ nổi lên chống đối, Ashikaga Yoshimitsu đặc biệt chú ý đến dòng học Yamana và Ochi. Thủ hộ Yamana khi đó có trong tay 11 “nước” trong tổng số 66 “nước” trên toàn Nhật Bản. Năm 1391 Tướng quân Ashikaga Yoshimitsu tấn công Yamana giành chiến thắng và làm giảm số lãnh địa mà thủ hộ này có trong tay. Tiếp theo vào năm 1399, Ashikaga Yoshimitsu mở cuộc tấn công nhằm vào đối thủ Ochi, thủ hộ đang kiểm soát 6 “nước” đứng hàng thứ hai sau Yamana. Năm 1392 nhờ vai trò trung gian của Thủ hộ Ochi Yoshihiro dưới sự chứng kiến của Tướng quân Ashikaga Yoshimitsu, “Ba vật linh thiêng” tượng trưng cho Thiên hoàng đã chuyển từ tay Thiên hoàng Gokameyama của Nam triều về  tay Thiên hoàng Bắc triều Gokomatsu. Sau 57 năm kể từ khi Thiên hoàng Godaigo rời Kyoto làm nổ ra cuộc nội chiến tranh giành địa vị chính thống, hai triều Nam-Bắc đã nhập làm một. Nam-Bắc triều thống nhất cùng với sự hàng phục của các Thủ hộ đã đưa Mạc phủ Muromachi bước vào thời kỳ hoàng kim.

Ashikaga Yoshimitsu trở thành tướng quân đời thứ 3 vào đúng lúc nhà Nguyên ở Trung Quốc bị thay thế bởi nhà Minh. Năm 1401 Ashikaga Yoshimitsu mở quốc giao với nhà Minh và ba năm sau thì mậu dịch giữa hai nước bắt đầu. Hoàng đế Vĩnh Lạc của nhà Minh cũng cử sứ giả đến Nhật Bản và phong cho Ashikaga Yoshimitsu là “Quốc vương Nhật Bản”. Quan hệ buôn bán giữa hai nước khi ấy được gọi là “mậu dịch Kango”. Tên gọi này xuất phát từ việc đương thời cả nhà Minh và Mạc phủ đều sử dụng và công nhận “Kangofu” (tấm thẻ Kango) trong hoạt động thương mại. Tấm thẻ này được trao cho các thuyền được Mạc phủ công nhận và ủy quyền buôn bán với nhà Minh. Khi thuyền của Mạc phủ gặp thuyền của nhà Minh hai bên sẽ đem thẻ bài ra nếu hợp lại thấy khớp nhau sẽ tiến hành buôn bán. Biện pháp này một mặt giúp cho Mạc phủ nắm độc quyền thương mại thu nhiều lợi nhuận mặt khác hỗ trợ tích cực cho hoạt động trấn áp cướp biển. Ban đầu “mậu dịch Kango” chỉ diễn ra dưới tay Mạc phủ nhưng về sau các daimyo có thế lực cũng tham gia và cuối cùng thì dòng họ Ochi bắt tay với thương nhân ở Hakata (thuộc tỉnh Fukushima ngày nay) nắm phần lớn việc buôn bán. Mậu dịch Kango đã làm cho các trung tâm thương mại ở Nhật Bản hình thành và phát đạt.

Năm 1397 Ashikaga Yoshimitsu cho xây dinh thự Kitayama ở núi Kitayama thuộc Kyoto. Do tòa điện chính là tòa nhà có 3 tầng và tầng phía trên dát vàng nên về sau gọi là Kim Các (chùa vàng). Kim Các là biểu tượng quyền lực của Ashikaga Yoshimitsu. Ông chuyển đến sống ở đây và tiến hành chính trị. Việc cử sứ sang nhà Minh cũng diễn ra ở đây. Những người có mối quan hệ với Mạc Phủ cũng chuyển đến sống ở khu vực xung quanh và nơi đây dần trở thành trung tâm chính trị. Có lần Thiên hoàng Gokomatsu cũng được Ashikaga Yoshimitsu mời tới đây và trong 20 ngày Thiên hoàng lưu lại  ông đã luôn ngồi đối diện ngang bằng với thiên hoàng để thể hiện quyền lực của mình.

Ashikaga Yoshimitsu qua đời năm 1408 thọ 50 tuổi.

Nguyễn Quốc Vương 

Oda Nobunaga (1534-1582): Thiên tài quân sự thời Chiến Quốc

September 17, 2014 Leave a comment

220px-Odanobunaga

Lịch sử Nhật Bản từ năm 1467 đến năm 1568  được gọi là thời kỳ Chiến Quốc. Trong giai đoạn lịch sử này các daimyo liên tục đem quân đánh lẫn nhau nhằm thôn tính đất đai và thống nhất thiên hạ. Trong số các daimyo hoạt động ở vùng Owari (tỉnh Aichi) có Oda Nobunaga.

Thời trai trẻ Oda Nobungaga không có gì đặc biệt ngược lại luôn bị những người xung quanh chế giễu là “thằng khờ”. Tuy nhiên sau khi cha qua đời và nắm quyền bính trong tay, Nobunaga đã gia tăng sức mạnh quân đội và tiêu diệt được các kẻ địch xung quanh thống nhất được vùng Owari.

Năm 1560, Imagawa Yoshimoto đang thống trị ở vùng Tokai đem đại quân 4,5 vạn người tới tấn công Owari. Nobunaga dẫn 2000 quân nghênh chiến và cắt được đầu Yoshimoto tại Okehazama. Bằng chiến thắng này Nobunaga gia nhập đội ngũ các daimyo chiến quốc. Sau đó Nobunaga tiêu diệt Saito ở Mino rồi lấy thành Gifu làm cứ điểm thực hiện mục tiêu thống nhất thiên hạ.

Sau cuộc chiến tranh Okehazama, Nobunaga chiêu tập thêm những người có khả năng và mở rộng lãnh thổ. Ông cũng là người nồng nhiệt đón nhận văn hóa nước ngoài và đối xử tốt với các giáo sĩ. Nobunaga dự đoán rằng trong các cuộc chiến tranh tiếp theo, súng cầm tay sẽ đóng một vai trò đặc biệt quan trọng vì thế ông đã gấp rút chuẩn bị nhiều súng ống.

Nghe danh Nobunaga, Tướng quân Ashikaga Yoshiaki liền triệu ông về Kyoto. Nobunaga đem quân của mình nhập vào quân của Yoshiaki, tướng quân thứ 15 của Mạc phủ Muromachi. Nhờ liên hợp với Tokugawa Ieyasu, Nobunaga đánh bại được liên quân Asakura Yoshikage và em rể là Azai Nagamasa. Trong quá trình Nobunaga giao tranh với liên quân Asakura-Azai, các nhà sư ở chùa Enryaku-ji (tỉnh Shiga) đã giúp Asakura vì thế Nobunaga mở cuộc tấn công lên đỉnh núi Hiei nơi có chùa Enryaku-ji, đốt sạch chùa chiền, giết toàn bộ 4000 người ở đó bao gồm cả sư tăng, phụ nữ, trẻ em.

Thời gian trôi đi, Tướng quân Yoshiaki dần căm ghét Nobunaga nên đã gửi thư cho các võ tướng ở khắp nơi yêu cầu đánh đổ Nobunaga. Năm 1573 Nobunaga tấn công hàng phục được Yoshiaki chấm dứt Mạc phủ Muromachi. Cùng năm Nobunaga hạ được Asakura-Azai, tiếp đó tiến công Ise-Nagashima của phái Ikko rồi nổi lửa thiêu chết 2 vạn tín đồ của phái Ikko ở đây.

Năm 1575 Takeda Katsuyori người cai trị Kai (tỉnh Yamanashi) dẫn quân tấn công lãnh địa Mikawa của Tokugawa Ieyasu (tỉnh Aichi). Thành Nagashino ở đây bị quân Takeda vây chặt. Liên quân Nobunaga-Ieyasu đến cứu và xảy ra cuộc chiến Nagashino.

Quân Takeda có đội kị binh rất mạnh. Để đối phó Nobunaga đã cho xây dựng hàng rào  để cản ngựa và chuẩn bị 3000 khẩu súng bắn hạ đội kị binh. Trận chiến này là ví dụ điển hình về tài năng quân sự của Nobunaga và sáng tạo trong việc dùng súng. Thông thường súng tay phải mất đến 30 giây mới bắn được một phát. Thời gian đó đủ để kỵ binh xông lên bởi thế Takeda rất tự tin. Loạt đạn đầu tiên từ phía quân Nobunaga bắn ra khiến  một số kị binh đi tiên phong của Takeda ngã ngựa nhưng quân kỵ vẫn xông lên vì họ cho rằng khoảng thời gian 30 giây đủ để họ hạ sát các xạ thủ đang bận nhồi thuốc súng. Nhưng thật kỳ lạ, loạt súng thứ 2 rồi thứ 3 vẫn vang lên liên tiếp.  Quân Nobunaga tiếp tục nổ súng cho đến khi quân Takeda bị đánh tan. Nobunaga có bí quyết nào chăng? Bí quyết nằm ở chỗ thay vì dàn quân cầm súng theo hàng ngang như chiến thuật phổ biến thời bấy giờ, Nobunaga đã trao những khẩu súng được chuẩn bị sẵn sàng cho quân lính và bố trí họ xếp làm ba hàng. Sau khi hàng thứ nhất bắn xong họ lùi ngay xuống sau hàng thứ ba và làm thao tác nạp thuốc súng. Sau đó hàng thứ hai tiến lên trước khai hỏa và lùi lại về sau hàng thứ nhất và lặp lại thao tác nạp thuốc súng như hàng một. Và rồi hàng thứ ba lại khai hỏa. Cứ thế, áp dụng chiến thuật này, quân Nobunaga đã liên tục nổ súng vào kỵ binh Takeda suốt từ đầu cho tới cuối trận đánh.

Nobunaga sau khi kiểm soát được vùng Trung bộ (chubu), Bắc bộ (hokuriku), Kinki liền bắt tay vào xây dựng ngôi thành lớn Azuchi gần hồ Biwa ở Omi (tỉnh Shiga ngày nay). Năm 1579 thành Azuchi xây xong. Phần thiên thủ các (lâu đài) có tới 5 tầng lầu  đặt ở nơi cao nhất với chiều cao 46m được dát bạc rất hoành tráng. Cùng với việc xây dựng lâu đài, thành quách, Nobunaga ra sức xây dựng khu phố dưới chân lâu đài, tạo ra đường sá giao thông thuận lợi, bãi bỏ các trạm thu thuế, cho buôn bán tự do vì thế thương nhân toàn quốc đã tập trung về đây tạo ra cảnh phố xã buôn bán tấp nập ngày đêm.

Mặc dù Nobunaga đã kiểm soát được phần lớn các vùng đất quan trọng trên toàn quốc nhưng thế lực của phái Ikko tiếp tục chống đối. Chùa Hongan-ji ở Osaka cũng bắt tay với dòng họ Mori ở Shikoku đánh lại Nobunaga. Nobunaga phải dùng tới 7 chiếc thuyền bọc sắt tấn công Osaka mới đánh bại được thủy quân của Mori và hàng phục được Hongan-ji.Trong khi đó Hideyoshi, thuộc hạ của Nobunaga nhận lệnh tấn công Shikoku của Mori và tiến đến sát thành Takamatsu ở Chichu (tỉnh Okayama) nhưng không hạ được thành.

Nobunaga ra lệnh cho thuộc hạ Akechi Mitsuhide đem quân đi giúp Hideyoshi. Nhưng Mitsuhide trên đường đến Shikoku lại đột ngột đem quân tấn công Hongan-ji nơi Nobunaga đang ở. Nobunaga không chống đỡ nổi phải đốt chùa tự sát. Cuộc chiến chớp nhoáng diễn ra vào năm 1582 này được sử sách gọi là “Sự biến Hongan-ji”. Nobunaga chết ở tuổi 49 khi việc thống nhất thiên hạ ở ngay trước mắt.

Trong thời Chiến Quốc, rất nhiều người phương Tây trong đó có các giáo sĩ đã đến Nhật Bản và ghi lại những điều mắt thấy tai nghe ở xứ này. Frois, một giáo sĩ người Anh, đã ghi lại ấn tượng của mình về Oda Nobunaga, người mà ông đã từng gặp như sau: “Nobunaga cao trung bình và gầy. Thích võ thuật, tính cách thô lỗ, ngạo mạn rất đề cao danh dự. Tự mình quyết định mọi việc, không bao giờ nghe thuộc hạ, khinh miệt tất cả những người có địa vị cao. Có năng lực lí giải và phán đoán tốt không tin vào thần Phật. Đồng thời ghét những sự chậm chạp và không rõ ràng”. Những lời ghi chép trên hoàn toàn sát hợp với những gì Oda Nobunaga đã làm khi cầm quân chinh chiến.

 

 Nguyễn Quốc Vương

Trích từ bản thảo “25 nhân vật lịch sử Nhật Bản” 

Tsuda Umeko (1864-1929): Nhà giáo dục quan tâm tới phụ nữ  

July 4, 2014 Leave a comment

 

Tsuda Umeko là nhà giáo dục nổi tiếng, người đã đi tới Mĩ du học từ lúc chưa tròn 6 tuổi, sáng lập ra ngôi trường Tsuda Juku (nay là Đại học tư thục  Tsuda) và có nhiều cống hiến cho sự nghiệp giáo dục phụ nữ Nhật Bản.

Tsuda_Umeko

Tsuda Umeko sinh ngày 31 tháng 12 năm 1864 ở Edo (Tokyo). Cha Umeko vốn là Mạc thần trong chính quyền Mạc phủ vì thế khi Minh Trị duy tân thành công (1868), ông trở thành người thất nghiệp phải chuyển sang làm nghề nông để sinh sống.

Năm 1871, cha bà được cử làm công việc khai hoang ở Hokkaido, hòn đảo lớn ở phía bắc nước Nhật. Một viên chức phụ trách việc khai hoang là Kuroda Kiyotaka rất quan tâm đến giáo dục nữ giới. Kyotaka đã từng đến Mĩ và ông có ấn tượng mạnh mẽ rằng phụ nữ Mĩ được giáo dục tốt, có địa vị xã hội cao và ông có suy nghĩ Nhật Bản muốn sánh với các nước Âu Mĩ thì phụ nữ Nhật Bản cũng phải có học vấn và tham gia vào các hoạt động chính trị-xã hội.

Kuroda Kiyotaka sau khi về nước đã thuyết minh sự cần thiết phải cho nữ học sinh đến Mĩ du học. Chính phủ Minh Trị đồng ý với đề nghị của Kuroda Kiyotaka tuy nhiên toàn nước Nhật khi đó cũng chỉ có 5 phụ huynh đăng kí cho con gái ra nước ngoài du học. Bố của Umeko đồng ý cho con gái đi du học ở Mĩ vì ông  là người không quá xa lạ với văn minh Mĩ. Ông tuy sinh ra trong một gia đình võ sĩ nhưng khi Perry buộc Mạc phủ mở cửa Nhật Bản ông đã bắt đầu học tiếng Anh cấp tốc và trở thành thông dịch viên cho chính quyền Mạc phủ. Khi đang là sinh viên năm thứ 3 trường Keio Gijuku (1867), ông đã cùng với Fukuzawa Yukichi đến thăm Mĩ với tư cách là một thành viên trong sứ đoàn Mạc phủ. Sau khi về nước cùng với vợ ông tiếp nhận lễ rửa tội của Thiên chúa giáo.

 

Tàu chở lưu học sinh đi cùng với phái đoàn Iwakura xuất phát vào tháng 11 năm 1871 tại Yokohama và cập bến Sanfrancisco sau 22 ngày trên biển. Đoàn nữ lưu học sinh có 5 người trong đó Umeko chưa đầy 6 tuổi là nhỏ nhất. Umeko được đưa tới sống cùng với đôi vợ chồng người Mĩ không con ở thủ đô Washington.

Khi rời Nhật Bản Umeko chỉ biết đúng ba từ tiếng Anh “thank you”, “yes”, “no”, nhưng sau khi vào học trong ngôi trường tiểu học gần nhà thì  tiếng Anh ngày một tiến bộ trong khi tiếng Nhật thì kém đi đến nỗi khi viết thư cho cha mẹ phải viết bằng tiếng Anh. Hàng tuần Umeko đến trường cả vào ngày chủ nhật. Khi chưa đến 10 tuổi Umeko chịu lễ rửa tội trở thành tín  đồ Thiên chúa  giáo.

Năm 1878 Umeko tốt nghiệp trường College Institute và lên học ở trường tư nữ sinh Archer Institute. Ngoài học ngôn ngữ như tiếng La tinh, tiếng Pháp và tiếng Anh, Umeko còn học tâm lý học, nghệ thuật. Trong thời gian rỗi Umeko được vợ chồng chủ nhà chở đi chơi khắp nơi. Năm 1881 Umeko được lệnh về nước nhưng do đang học dở nên Umeko đã xin ở lại đến tháng 7 năm 1882 để hoàn thành chương trình tốt nghiệp.

Tháng 11 năm 1882 Umeko về Nhật Bản sau 11 năm du học. Lúc này Umeko 18 tuổi. Trở về sống với mẹ nhưng Umeko không thể nói chuyện với mẹ vì mẹ không biết tiếng Anh và cha Umeko phải đóng vai trò thông dịch. Vào thời gian này có một thanh niên quý tộc từ Mĩ trở về tên là Kanda Naibu cầu hôn Umeko nhưng bị Umeko từ chối với lý do: “Tôi nhờ ơn của chính phủ mà được đến Mĩ du học nên nếu chưa trả được cái ơn đó thì chưa thể kết hôn”. Cha Umeko, một người sớm tiếp xúc với văn minh phương Tây không hề có ý kiến gì về chuyện này.

Năm 1883, Umeko gặp Ito Hirobumi, được ông nhận làm phiên dịch và giới thiệu gặp Shimoda Utako, người sáng lập trường tư dạy học sinh nữ. Umeko học tiếng Nhật từ Utako và dạy tiếng Anh trong ngôi trường có tên Toyo Juku của Utako. Năm 1885 nhờ Itobumi giới thiệu Umeko trở thành giáo viên tiếng Anh ở ngôi trường dành riêng cho con em quý tộc. Mặc dù đã dạy tiếng Anh được hơn ba năm ở trường dành cho con gái nhà quý tộc nhưng do  không quen với cuộc sống quyền quý nên Umeko đã bao lần từ chối cầu hôn. Năm 1888 do lời khuyên của Alice Mabel Bacon, một người bạn cùng học thời ở Mĩ Umeko lại quyết chí sang Mĩ du học lần nữa. Tháng 7 năm 1889 Umeko  lại sang Mĩ du học.

Cho dù được hưởng cuộc sống học tập đầy đủ, Umeko vẫn không quên tình trạng giáo dục thấp kém của phụ nữ Nhật Bản khi đó nên có quyết tâm nâng cao địa vị xã hội cho phụ nữ Nhật Bản. Ba năm sau Umeko về nước giảng dạy ở trường cũ nhưng do không bằng lòng với nền giáo dục chật hẹp chỉ dành cho quý tộc nên sau đó vào năm 1900, Umeko bỏ việc và  sáng lập ngôi trường tư dạy tiếng Anh cho các học sinh nữ của chính mình lấy tên là “Joshieigaku Juku”.  Từ đây cho đến khi qua đời ở tuổi 64, Umeko đã dành hết thời gian và tâm huyết cho ngôi trường. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, ngôi trường đổi tên thành trường Đại học tư thục Tsuda và trở thành một trong những ngôi trường danh tiếng hàng đầu Nhật Bản.

 

Trích từ bản thảo”25 nhân vật lịch sử Nhật Bản”

Nguyễn Quốc Vương 

 

 

NHỮNG BƯỚC ĐI CỦA SÁCH GIÁO KHOA NHẬT BẢN HIỆN ĐẠI – Từ thời Minh Trị đến Hiện đại- (4)

December 10, 2013 Leave a comment

Tác giả: Kimata Kiyohiro

Đại học Shiga, 10/2006

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Bản tóm tắt)

 

4. Sách giáo khoa lịch sử theo chủ nghĩa lấy nhân vật làm trung tâm thời kì Taisho-Thời kì quốc định lần thứ 3.

 

Sách giáo khoa lịch sử quốc định lần thứ ba là “Quốc sử dành cho tiểu học thông thường” quyển thượng 1920 (năm Taisho thứ 9), quyển hạ (năm Taisho thứ 10). Cuốn sách giáo khoa này được sử dụng cho đến khi bản sửa chữa ra đời vào năm 1934 (năm Showa thứ 9) và là cuốn sách giáo khoa được sử dụng lâu nhất trong số các sách giáo khoa quốc định trước chiến tranh. Môn lịch sử từ trước đến nay ở trường tiểu học được gọi là “Lịch sử Nhật Bản” được chuyển thành “Quốc sử” mang ý nghĩa nhấn mạnh tư tưởng quốc gia chủ nghĩa.

Đặc trưng của sách giáo khoa quốc định lần ba từ thời Taisho cho đến đầu thời Showa này có đặc trưng gì? Trước hết và nổi bật là “sự trần thuật lấy nhân vật là trung tâm” và thực hiện triệt để giáo dục lịch sử lấy nhân vật làm trung tâm. Trong sách viết về ý nghĩa biên tập sách giáo khoa “Quốc sử” có viết như sau: “Đưa ra các nhân vật làm trung tâm, xác lập các chủ đề dựa theo nhân vật để giáo huấn, thuyết minh làm cho học sinh hiểu bối cảnh và khái quát về sự thực lịch sử”.

Giáo dục lịch sử lấy nhân vật làm trung tâm có thể thấy rõ ngay cả ở đề mục của sách giáo khoa “Quốc sử dành cho tiểu học thông thường” khi trong số 52 chương thì có đến 48 chương về nhân vật. Số nhân vật được đưa ra trong từng chương là 172 người và nếu như đếm cả các nhân vật chỉ kể tên không thôi thì tổng số nhân vật lên tới trên 300 người (theo điều tra trong cuốn “Lịch sử giáo dục lịch sử” của Kaigo Tomiaki). Trong số các nhân vật được tuyển chọn  những nhân vật không thích hợp thì được đối xử như là nghịch thần tặc tử, tiến hành đánh giá nghiêm khắc nhân vật dựa trên tư tưởng của chế độ Thiên hoàng. Fujiwarano Michinaga được coi là “nhân vật không thể đánh giá” và không được đưa thành chủ đề chương mà bị coi là “sự chuyên quyền của Fujiwara”.

Với tư cách  là phương pháp  trần thuật nhân vật các tính toán công phu được đưa ra nhằm làm cho học sinh có cảm giác gần gũi, đưa ra  các câu chuyện vào thời thơ ấu hay các chương hồi về cuộc đời của nhân vật. Ví dụ như trong mục về Thiên hoàng Minh Trị nội dung về “Duy tân Minh Trị” được bắt đầu với những dòng viết về “thời thơ ấu của Thiên hoàng Minh Trị”.

 

Thiên hoàng Minh Trị  là hoàng tử thứ hai của Thiên hoàng Komei, sinh năm Kaei thứ 5 và được trao cho Eimei Goki. Thời thơ ấu, ngài theo cha đến ở cung Kyoto, xem diễn tập quân sự của phiên và trước tiếng nổ như sấm của tiểu pháo, đại pháo, ngài vẫn giữ nguyên sắc mặt như cha và nhiệt tâm xem binh sĩ luyện tập”.

 

Đây là thủ pháp đưa ra các câu chuyện về thời thơ ấu để tạo cho học sinh có cảm giác gần gũi. Không chỉ là các chi tiết về thời thơ ấu mà còn là các câu chuyện kèm công trạng của nhân vật. Trong mục “Cuộc chinh phục Tây Nam” của Thiên hoàng Minh Trị, sau khi nói về cái chết của Saigo Takamori, sách viết “vào ngày công bố Hiến pháp, Thiên hoàng đã ban thưởng huân chương  hạng ba vì công lao đối với cuộc Duy tân cho Saigo và loại bỏ tặc danh”. Tiếp theo, sách đã nhấn mạnh “ân điển của hoàng gia”.

 

Trong chiến dịch này, Thiên hoàng có vi hành đến bệnh viện lục quân Osaka, đột ngột động viên các binh sĩ bị thương, hoàng thái hậu và hoàng hậu đã tặng quà cho các binh sĩ bị thương khiến cho binh sĩ cảm động rơi nước mắt. Thêm nữa, Sano Tsunetami đã xây dựng tổ chức bác ái điều trị cho không chỉ những binh sĩ bị thương mà cả những người khác và thực sự đây là sự khởi đầu cho tổ chức chữ thập đỏ ở nước ta”.

 

Sách giáo khoa lịch sử quốc định thời kì thứ 3 thời Taisho dành phần lớn các mục kể về “Thiên hoàng Minh Trị”. Sách cho rằng đây là “thời đại tiếp tục sự tiến bộ và phát triển” và ca ngợi “Thiên hoàng Minh Trị và các trung thần”. Trái lại, các phong trào của dân chúng như phong trào Tự do dân quyền đòi tự do và quyền lợi hoàn toàn không được đưa ra.

(còn tiếp)

 

 

 

Học sinh Việt Nam vạch kế sách cho Nhật Bản giữa thế kỉ XIX (125)

October 17, 2013 Leave a comment

Kiểm tra 45 phút
Môn: Lịch sử

Đề bài: Vào giữa thế kỉ XIX, trước áp lực ngày một gia tăng của các nước đế quốc phương Tây, Nhật Bản đứng trước hai lựa chọn:
1. Cải cách, mở cửa để xây dựng đất nước theo mô hình các nước phương Tây để bảo vệ độc lập dân tộc.
2. Duy trì chính sách hiện thời, cự tuyệt giao lưu với phương Tây để bảo vệ độc lập dân tộc.

Trong bối cảnh đó, nhiều kế sách đã được đưa ra.
Em hãy đóng vai là một người Nhật đương thời có chí lớn để đưa ra kế sách cho Nhật Bản.

Bài làm

Kính gửi Thiên hoàng Minh Trị vạn tuế!

Tôi là một võ sĩ ở Osaka. Tuy không có thể làm được gì nhiều để giúp đất nước Nhật Bản phát triển thịnh vượng, nhưng là một người Nhật đương thời thì tôi cũng muốn đưa ra những quan điểm của mình để làm sao có thể giúp đất nước ta trở thành một trong những cường quốc vĩ đại nhất thế giới.

Hiện nay, tôi thấy các nước phương Tây như Anh, Pháp, Mĩ đều tăng cường can thiệp vào đất nước ta đòi “mở cửa” để họ có thể tự do đi lại, buôn bán với đất nước ta. Vậy thì tại sao họ lại càng gia tăng sức ép cho chúng ta phải chăng họ muốn chúng ta duy trì chế độ phong kiến mục nát để rồi lại rơi vào hoàn cảnh như trước đây bị ách đô hộ và trở thành mồi nhử cho họ? Tôi không nghĩ rằng chúng ta nên duy trì chính sách hiện tại và cự tuyệt giao lưu với các nước phương Tây, điều đó chỉ khiến họ nghĩ rằng ta là một đất nước yếu kém và chỉ biết chịu sự đàn áp của họ . Tôi nghĩ chúng ta nên tiến đến một hướng đi mới: cải cách mở cửa để xây dựng theo mô hình phát triển của các nước phương Tây cũng như để bảo vệ độc lập cho đất nước ta.
Tôi có một số hướng đi như sau:

+ Ta nên thống nhất đơn vị tiền tệ chung, xóa bỏ độc quyền ruộng đất nhưu giai cấp phong kiến từng làm. Ta nên tăng cường phát triển kinh tế ở những vùng nông thôn, ngoại thành để tiến đến một nền kinh tế phát triển đồng đều, không phân biệt đẳng cấp giàu-nghèo. Ta nên xây dựng thêm nhiều cơ sở hạ tầng như đường sá, cầu cống để phục vụ cho đời sống người dân cũng như phát triển giao thông liên lạc.

+ Ta nên xóa bỏ chế độ nông nô, thi hành chế độ giáo dục bắt buộc. Ta nên mở thêm các trường học, khuyến khích người dân đưa con em đến trường vì tương lai của đất nước Nhật phụ thuộc rất nhiều vào thế hệ trẻ.

+ Ta nên tăng cường tổ chức huấn luyện quân đội theo kiểu phương Tây. Nên sản xuất thêm nhiều vũ khí để phục vụ cho quân đội.

Trên đây là một số ý kiễn cũng như các quan điểm của tôi về việc canh tân đất nước. Xin ngài có thể xem xét và cân nhắc!

Kính thư

Võ sĩ tại Osaka

(NHA, học sinh lớp 8-2013)

Nhật Bản: Chiến tranh và trách nhiệm chiến tranh trong SGK lịch sử lớp 6

July 29, 2013 Leave a comment

Sau năm 1945, khi nhìn nhận lại các cuộc chiến Tranh, người Nhật bàng hoàng nhận ra một sự thật: có quá ít người Nhật phản đối chiến tranh! Không phải chỉ có Thiên hoàng và các tướng lĩnh lục quân, hải quân, cả dân tộc Nhật đã hân hoan chào đón chiến tranh. Vì vậy khi luận về “trách nhiệm chiến tranh” xu hướng “toàn bộ quốc dân Nhật Bản đều là thủ phạm” có luận cứ rất mạnh mẽ.

Dưới đây là phần viết về hai cuộc chiến tranh Nhật- Thanh (1894-1895) và Nhật-Nga (1904-1905) trong SGK Lịch sử lớp 6 của Nhật (ở Nhật thực hiện chế độ Kiểm định SGK với nhiều bộ SGK khác nhau do các nhà xuất bản tư nhân biên soạn phát hành sau khi có giấy phép thẩm định từ Bộ giáo dục).

Chiến tranh Nhật-Thanh, Nhật-Nga

Năm 1894 (năm Minh Trị thứ 27), ở Triều Tiên diễn ra cải cách đòi loại bỏ thế lực của ngoại quốc ở Triều Tiên và nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân lớn nổ ra. Chính phủ Triều Tiên đã cầu cứu viện binh từ Trung Quốc (nhà Thanh) và khi nhà Thanh phái binh tới, Nhật Bản cũng ngay lập tức đưa quân đội đến Triều Tiên và chiến tranh Nhật-Thanh bắt đầu.

Vào thời gian này, Nhật Bản đã ép Triều Tiên kí hiệp ước bất bình đẳng và muốn mở rộng thế lực ở Triều Tiên. Vì vậy, sự đối lập với Thanh vốn đang có thế lực tại Triều Tiên trở nên sâu sắc. Trong cuộc chiến tranh này, Nhật Bản đánh bại Thanh, chiếm Đài Loan làm lãnh thổ, kiếm được số tiền bồi thường khoảng 300 triệu yên gần gấp 3 lần dự toán ngân sách quốc gia. Bên cạnh đó, Nhật ép Thanh phải công nhận nền độc lập của Triều Tiên.

Nhật Bản sau khi áp chế được ảnh hưởng của Thanh và mở rộng thế lực vào Triều Tiên đã tiếp tục nhắm đến Mãn Châu (Đông Bắc Trung Quốc) và trở nên đối lập với Nga. Vì thế năm 1904, chiến tranh Nhật-Nga bắt đầu với chiến trường chính là Mãn Châu.

Trong trận đánh tại Lữ Thuận, Nhật Bản đưa đến 13 vạn lính nhưng có đến một nửa bị tử thương. Trong trận chiến trên biển, hạm đội do Togohei Hachiro chỉ huy đã đánh bại hạm đội của Nga. Tuy nhiên ở Nhật Bản năng lực cung cấp nhân lực, vật lực đã đến mức tối đa và ở nước Nga cũng diễn ra cách mạng vì vậy hai nước đã kí hiệp ước hòa bình.

Bóng đen chiến tranh và sáp nhập Triều Tiên

Khi chiến tranh Nhật Nga trở nên ác liệt, từ trong nước rất nhiều người bị đẩy ra chiến trường. Nhà thơ Yosano Akiko đã công bố bài thơ về người em trai ở chiến trường bày tỏ thái độ phản đối chiến tranh. Ý kiến phản đối chiến tranh cũng có đăng trên mặt báo nhưng số lượng rất ít. Phần đông quốc dân đều vui mừng với thắng lợi ở Lữ Thuận và hải chiến trên biển Nhật Bản.
Tuy nhiên, ở trong nước trong thời chiến tranh thuế đã tăng hai lần, giá cả leo thang và cuộc sống của người dân trở nên khó khăn. Trong hiệp ước hòa bình, Nhật Bản có được một nửa phái nam Xakhalin (Karafuto) và quyền lợi về đường sắt, mỏ khoáng ở nam Mãn Châu nhưng không có tiền bồi thường vì vậy ở khắp các địa phương diễn ra các đại hội phản đối hiệp ước hòa bình.

Người Trung Quốc và Triều Tiên sống ở nơi biến thành chiến trường trong hai cuộc chiến tranh đã bị tước đoạt sinh mạng, nhà cửa bị đốt cháy và gánh chịu thiệt hại nặng nề. Thêm nữa, bất chấp sự phản đối mạnh mẽ của người Triều Tiên, Nhật Bản đã sáp nhập Triều Tiên (Hàn Quốc) vào Nhật Bản năm 1910 (năm Minh Trị thứ 43) và biến nó thành thuộc địa.

Ở Triều Tiên, nơi bị biến thành thuộc địa, nhiều người đã mất ruộng đất bởi cuộc điều tra ruộng đất do Nhật Bản tiến hành. Vì vậy người Triều Tiên phải làm việc dưới tay người Nhật như là những tiểu nông, phải đi đến Nhật hoặc Mãn Châu (vùng đông bắc Trung Quốc) làm việc trong điều kiện khắc nghiệt ở các mỏ khoáng sản. Bên cạnh đó ở trường học Triều Tiên, giáo dục nhằm biến người Triều Tiên thành quốc dân Nhật Bản cũng được tiến hành, học sinh phải học tiếng Nhật, lịch sử, địa lý Nhật Bản. Trước sự cai trị nhằm tước đoạt lòng tự hào dân tộc của Nhật Bản, năm 1919 (năm Taisho thứ người Triều Tiên đã đứng dậy trong phong trào giành độc lập. Phong trào có cả sự tham gia của học sinh trung học, học sinh nữ và lan rộng khắp toàn quốc.
Mặt khác, từ khoảng thời gian này, suy nghĩ phân biệt đối xử sai trái và khinh miệt người Triều Tiên, Trung Quốc cũng trở nên mạnh mẽ.

( Nguyễn Quốc Vương dịch từ SGK Lịch sử lớp 6, quyển thượng, NXB Kyoiku, năm Heisei 13, trang 70-73)

Về số phận của người Triều Tiên, Trung Quốc các bạn có thể đọc thêm bài này

%d bloggers like this: