Archive

Posts Tagged ‘môn Xã hội’

Cần tái cấu trúc “Thời gian học tập tổng hợp” trong khóa trình giáo dục

May 12, 2015 Leave a comment

Thời gian học tập tổng hợp được thiết lập lần đầu trong bản Hướng dẫn học tập sửa đổi năm Heisei thứ 10. Nội dung chính của nó là trên cơ sở cho rằng “năng lực sống” là “năng lực toàn diện” cần xúc tiến mạnh học tập theo chiều ngang, học tập tổng hợp để đạt mục tiêu giáo dục nên năng lực tự học.

Bên cạnh đó nó đặt trọng tâm vào việc tạo điều kiện cho các trường căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương, học sinh có thể sáng tạo trong nội dung và phương pháp. Do các trường tự biên soạn chương trình trên thực tế cho nên ban đầu trên khắp toàn quốc đã sôi nổi tiến hành giới thiệu các ví dụ tiên tiến, các phương pháp, tư duy biên soạn, phát triển chương trình.

Sự thiết lập Thời gian học tập tổng hợp là kết quả của 3 xu hướng và động thái sau. Thứ nhất là việc coi trọng năng lực thiết lập và giải quyết vấn đề, năng lực tự chủ tư duy và tự mình học tập. Ở điểm này ở ý nghĩa nào đó đã đi trước cả năng lực học tập thế kỷ XXI giống như năng lực chìa khóa của OECD được chú ý sau đó.

Thứ hai là việc học tập các môn giáo khoa không tiến hành đầy đủ việc học tập các vấn đề theo chiều ngang, mang tính tổng hợp. Trước đó giáo dục môi trường, giáo dục hiểu biết quốc tế cũng đã vừa tạo ra sự liên kết giữa các môn giáo khoa vừa triển khai học tập nhưng bằng việc thiết lập Thời gian học tập tổng hợp mà việc tiến hành các vấn đề này được đảm bảo.

Thứ ba là xu hướng của chương trình có nền tảng là trường học. Nó có ý nghĩa rằng chương trình này  không phải chỉ là chương trình tuân theo cơ sở chung toàn quốc do nhà nước chỉ ra mà  là sự  biên soạn và thực thi chương trình tự chủ căn cứ vào tình hình thực tế của từng trường và địa phương.

Thời gian học tập tổng hợp khi xuất phát có ý nghĩa giáo dục như trên tuy nhiên về sau người ta đã chỉ ra nhiều vấn đề khác nhau và nó bị đặt trong bối cảnh môi trường xung quanh khóa trình giáo dục thay đổi và tình trạng đó kéo dài tới tận ngày nay.

Trong bản Hướng dẫn học tập sửa đổi năm Heisei thứ 15, cùng với việc trang bị một cách tương tác các tri thức, kĩ năng trong các môn giáo khoa, việc phát huy chúng vào học tập, đời sống, làm cho chúng hoạt động một cách tổng hợp, chế tạo kế hoạch tổng thể xác định rõ mục tiêu và nội dung đã được ghi rõ.

Ngoài ra tron bản Hướng dẫn học tập sửa đổi năm Heisei thứ 20, 21,  vị trí, tính chất của Thời gian học tập tổng hợp trong khóa trình giáo dục đã được sửa đổi theo hướng rõ ràng hơn. Khác với các lần trước đó nó chỉ được viết trong phần tổng quy, lần này nó được đặt ra làm một chương riêng, ghi rõ việc tiến hành học tập theo chiều ngang, học tập tổng hợp, hoạt động tìm kiếm với tư cách như là mục tiêu và chỉ ra các ví dụ về quan điểm năng lực cũng như hoạt động học tập.

Cùng với xu hướng làm rõ tính chất của Thời gian học tập tổng hợp như trên động thái hướng đến năng cao học lực cũng mạnh lên và trong bản Hướng dẫn học tập sửa đổi năm Heisei thứ 20, 21, số giờ học dành cho Thời gian học tập tổng hợp bị cắt giảm đồng thời cách tiếp cận học lực cũng thay đổi. Cụm từ “năng lực tự học, năng lực tự suy nghĩ” ở phần tổng quy đã biến mất và diễn ra sự điều chỉnh về mối quan hệ giữa tính chỉ đạo và tính chủ thể.

Số giờ học dành cho các môn giáo khoa tự chọn ở THCS cũng không được thể hiện như là tiêu chuẩn nữa mà tính chất chung của khóa trình giáo dục  trở nên mạnh hơn.
Ngoài ra các địa phương, trường học áp dụng chế độ đặc biệt về khóa trình giáo dục được thực hiện từ năm Heisei thứ 20 tăng lên nhưng có thể nói ở các trường này đa phần số giờ học dành cho Thời gian học tập tổng hợp tập trung vào các giờ dành cho các môn học mới.
Trong khi các biện pháp nhằm cải thiện bản thân học tập tổng hợp được tiến hành thì sự biến đổi của môi trường liên quan tới khóa trình giáo dục, chính sách nâng cao học lực cũng diễn ra làm anry sinh sự thay đổi mập mờ trong ý nghĩa của giáo dục thuộc về Thời gian học tập tổng hợp. Từ giờ về sau cần phải tái xem xét việc Thời gian học tập tổng hợp đã đi tiên phong trong việc tiến hành giáo dục năng lực học tập mô hình thế kỷ XXI và nghiên cứu xem nó nên có vị trí “độc lập” như thế nào trong khóa trình giáo dục.

Xã luận báo Giáo dục ngày 4 tháng 5 năm 2015

Nguyễn Quốc Vương dịch

Nguồn: http://www.kyobun.co.jp/opinion/20150504.html

Advertisements

Nghiên cứu xã hội

December 11, 2014 Leave a comment

Nghiên cứu xã hội (Social Studies) là một môn giáo khoa ở trường tiểu học và trung học cơ sở. Trên lĩnh vực hành chính giáo dục nó thường được goi là môn Xã hội. Ở đây sẽ trình bày về môn “Xã hội” trong giáo dục trường học hiện tại.

Khái quát

Môn Xã hội là môn có mục đích hình thành nhận thức xã hội khoa học ở học sinh, thông qua đó mà giáo dục phẩm chất phục vụ cuộc sống trong tư cách là một công dân.

Việc hình thành nhận thức xã hội khoa học chỉ việc lý giải xã hội con người thông qua phương tiện là các khoa học xã hội (địa lý học, Lịch sử học, chính trị học, kinh tế học, xã hội học, luân lý học)

Bằng việc hình thành ở bên trong học sinh nhận thức xã hội như trên, việc giáo dục cho học sinh có thái độ tham gia với tư cách là chủ thể vào xã hội hiện đại, giáo dục năng lực sáng tạo nên xã hội hòa bình hơn, dân chủ hơn (giáo dục phẩm chất công dân) trở thành mục tiêu thuộc về bản chất của môn Xã hội.

Trong bản “Hướng dẫn học tập” hiện tại có ghi rõ: “ đứng trên tầm nhìn rộng lớn, nâng cao mối quan tâm đối với xã hội, khảo sát đa diện, đa góc độ dựa trên nhiều tư liệu, giáo dục hiểu biết và tình yêu đối với lãnh thổ và lịch sử nước ta, giáo dục các phẩm chất công dân cần thiết với tư cách là người xây dựng quốc gia-xã hội hòa bình, dân chủ và sinh sống trong cộng đồng quốc tế”.
Nội dung học tập

Cho dù thiết lập mục tiêu như trên nhưng thực tế có nhiều người bao gồm cả giáo viên và người dân nói chung, học sinh hiểu sai rằng mục tiêu của môn Xã hội là học tập các môn Xã hội nói trên. Như trước đó đã trình bày, môn Xã hội trong giáo dục trường học không nhằm mục tiêu là học tập bản thân hệ thống các môn xã hội nói trên.

Xét đến cùng các môn học nói trên chỉ là phương tiện để học sinh lý giải thế giới và từ đó giáo dục cho học sinh năng lực xây dựng xã hội với tư cách là công dân. Tuy nhiên, do vấn đề trong các kỳ thi thường coi trọng tri thức cho nên việc học tập các môn học nói trên dễ trở thành việc ghi nhớ giản đơn hệ thống các môn khoa học.

Thêm nữa, do ảnh hưởng của các phát ngôn của các chính trị gia và phương tiện truyền thông, các vấn đề như  “lòng yêu nước”, “vấn đề sách giáo khoa” luôn được nhấn mạnh và tranh luận. Do sự hiểu lầm như thế mà mục tiêu vốn có của môn Xã hội và hình ảnh môn Xã hội ở hiện trường trường học cũng như ở trong tư duy của công chúng dễ trở nên khác biệt. Do đó, việc giờ học khó chạm tới mục tiêu của môn học đã trở thành vấn đề lớn.

Nếu như loại trừ “các trường đặc biệt tiến hành giáo dục dành cho người khuyết tật về trí tuệ” thì môn Xã hội hiện tại là môn giáo khoa dành cho học sinh từ  lớp 3 tiểu học cho đến  học sinh năm thứ ba cấp THCS. Tuy nhiên, trong giáo dục THPT nội dung kế thừa nội dung môn Xã hội, cùng với hai môn “Địa lý-lịch sử” và “Công dân” được đưa vào môn “thương nghiệp” hay các môn học do trường tự thiết lập.

Do tranh luận về nội dung giáo dục mà ở THPT xuất hiện hai môn là “Địa lý-lịch sử” và “Công dân”. Thêm nữa việc xem xét  đưa “Lịch sử Nhật Bản” thành môn học riêng và bắt buộc hóa cũng đang được tiến hành.

Tiểu học

Trước đó môn Xã hội được đưa vào từ lớp 1 nhưng hiện nay từ lớp 3 trở đi học sinh mới học môn Xã hội.

– Học tập về xã hội khu vực

+ Cuộc sống của người dân ở địa phương quanh mình

+ Cuộc sống của người dân ở các Todofuken quanh mình

– Học tập về lãnh thổ, sản xuất

+ Nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp của Nhật Bản

+ Lãnh thổ Nhật Bản

+ Các biện pháp bảo vệ tự nhiên và môi trường.

– Học tập lịch sử-công dân

+ Học tập lịch sử lấy học tập nhân vật làm trung tâm

+ Cơ cấu chính trị-pháp luật-hiến pháp

+ Cơ cấu đời sống kinh tế

+ Mối quan hệ giữa Nhật Bản và thế giới.

Trung học cơ sở

Ở THCS, nội dung học tập được chia thành “lĩnh vực địa lý”, “Lĩnh vực lịch sử”, “lĩnh vực công dân” (bên dưới sẽ gọi vắn tắt là “Lịch sử’, “Địa lý”, “Công dân”)

Về nguyên tắc địa lý và lịch sử được học song song từ năm thứ nhất trở đi và sau khi kết thúc thì vào năm thứ 3 sẽ học công dân (mô hình chữ Pi). Tuy nhiên cũng có những trường tiến hành học Địa lý năm thứ nhất, học Lịch sử ở năm thứ 2 và học Công dân ở năm thứ ba (mô hình xếp gối). Có trường tiến hành cho học sinh học địa lý và lịch sử từ năm thứ nhất đến năm thứ hai và trong quá trình đó cho học công dân tương ứng với nội dung đang học và đến năm thứ 3 thì lại tiếp tục học công dân (kiểu cổng đền thờ thần đạo)

Từ năm 2012, do thực hiện toàn diện bản Hướng dẫn học tập THCS công bố năm 2008,  mà số trường học dựa trên nền tảng là mô hình chữ Pi được thực hiện cho đến năm 2011 đã cho học sinh học tập song song đồng thời “Địa lý” và “Lịch sử ở năm thứ nhất và thứ hai, đến năm thứ 3 thì tiến hành học song song “Lịch sử” và “Công dân” đã tăng lên. ….

Lĩnh vực Địa lý

– Cấu tạo khu vực của thế giới và Nhật Bản

+ Cấu tạo khu vực thế giới

+ Cấu tạo khu vực Nhật Bản

– Điều tra  theo quy mô địa phương

+ Địa phương gần gũi với bản thân

+ Todofuken (Đô, đạo, phủ, tỉnh)

– Các nước trên thế giới

+ Nhật Bản nhìn từ sự so sánh với thế giới

+ Nhật Bản nhìn từ nhiều mặt khác nhau

+ Nhật Bản nhìn từ nhiều mối quan hệ khác nhau

Lĩnh vực lịch sử

Dòng chảy lịch sử và lịch sử địa phương

Nhật Bản từ nguyên thủy đến cổ đại

+ Nhật Bản thời trung thế

+ Nhật Bản thời cận thế

+ Nhật Bản  và thế giới thời cận đại, hiện đại

Lĩnh vực công dân

+ Xã hội hiện đại và đời sống của chúng ta

+ Những bước đi của Nhật Bản và đời sống của chúng ta

+ Cá nhân và đời sống xã hội

+ Đời sống quốc dân và kinh tế

+ Đời sống của chúng ta và kinh tế

+ Đời sống của quốc dân và phúc lợi

+ Chính trị dân chủ hiện đại và xã hội tương lai

+ Tôn trọng con người và nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp Nhật Bản

+ Chính trị dân chủ và tham gia chính trị

+ Hòa bình thế giới và gia tăng phúc lợi nhân loại

Trung học phổ thông

Trước đó ở trường THPT có môn Xã hội nhưng hiện nay theo quy định của quy tắc thực thi luật giáo dục trường học và bản Hướng dẫn học tập thì trong khóa trình giáo dục THPT không có môn Xã hội mà chỉ có “Địa lý-lịch sử” và “Công dân”. Tuy nhiên ở trường THPT cũng có cách nói gọn lại là “môn Xã hội” và có  nhiều giáo viên tiếp nhận cả địa lý-lịch sử và công dân.

Ảnh hưởng tới thi cử

Nó là môn học nằm trong các môn thi cùng với Quốc ngữ và Toán trong kỳ thi đầu vào trung học cơ sở, Trung học phổ thông và đại học.

Trong kỳ thi vào trường THCS, THPT các nội dung thi sẽ được lấy đều ở các ba lĩnh vực Lịch sử, Địa lý, Công dân nhưng ở kỳ thi vào đại học thì các vấn đề được đưa vào đề thi lại được chọn từ Lịch sử thế giới, Lịch sử Nhật Bản, Địa lý và Xã hội hiện đại.

Tuy nhiên do nó là môn khó ra đề nhất trong 5 môn (Quốc ngữ, Xã hội, Toán, Khoa học, Tiếng Anh) cho nên có xu hướng bị coi thường.

Nguyễn Quốc Vương dịch từ Wikipedia tiếng Nhật

 

Người cao tuổi và môn Xã hội (3)

September 22, 2014 Leave a comment

Cấu trúc của “Xã hội già hóa dân số năng động”

 

Xã hội chúng ta trên thực tế đang hướng đến xã hội ở đó cứ trong 3 người thì có một người già. Trong bối cảnh ấy, điều gì được trông đợi trong môn Xã hội đây?
Điều quan trọng nhất là xây dựng các giờ học “làm cho học sinh suy nghĩ về phương hướng nên nhắm tới của xã hội phúc lợi trong tương lai”.

Tuy nhiên, khi đó thì không phải chỉ đứng trên lập trường của “Kinh tế thị trường”, “tài chính” mà phải dựa trên chủ đề “Năm người cao tuổi quốc tế” và “các nguyên tắc của Liên Hợp quốc đối với người cao tuổi”.

Theo điều ra về chăm sóc người già, 15% tổng số người già cần đến sự chăm sóc và số còn lại là những người già có sức khỏe có thể sống ở nhà. Thêm nữa, đa phần người già có mong muốn được sống cuộc sống phong phú trong xã hội. Khi tư duy về xã hội già hóa dân số, cần phải lưu ý rằng có sự cách biệt lớn giữa các cá nhân về sức khỏe và cuộc sống.

Nói tóm lại, cần phải vừa lưu ý đến tính đa dạng của người cao tuổi vừa phải tạo nên “Xã hội già hóa dân số năng động” ở đó người cao tuổi có thể sống độc lập, có ý nghĩa và tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội với tư cách là một thành viên quan trọng.

Đây là giáo dục giúp cho học sinh tư duy về hình thức hiện tồn của hệ thống xã hội tương lai và ý nghĩa cuộc sống của chính bản thân mình đồng thời cũng là giáo dục nhân quyền-con người tư duy về sự tôn trọng con người và sinh mệnh.

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)

Liên kết địa phương và môn Xã hội (4)

September 21, 2014 Leave a comment

Môn Xã hội giáo dục trẻ em cùng với địa phương

Trong bối cảnh nguy cơ giáo dục của thập kỉ 80 và sự xuất hiện bùng nổ của các vấn đề giáo dục mới ở thập kỉ 90 khi thời đại quốc tế hóa chính thức bắt đầu, không chỉ vấn đề phát triển con người mà cả sự hiện tồn của giáo dục công cũng bị đặt trước thử thách nghiêm trọng. Và với tư cách như là phương pháp giải quyết , sự xúc tiến học tập suốt đời-thông tin hóa, “giáo dục trái tim” đã được đề xướng. Đây chưa phải là thứ nghiên cứu bản chất các vấn đề từ trước tới nay và đáp ứng yêu cầu giáo dục của quốc dân nhưng việc  đề xướng vai trò của trường học là trung tâm của địa phương và sáng tạo ra cộng đồng –thứ mà các nhà giáo dục môn Xã hội đã đề xướng từ trước cuối cùng cũng đuổi kịp thời đại. Đây là sự triển khai tích cực xã hội học tập suốt đời với vũ đài là địa phương và là sự du nhập “thời gian học tập tổng hợp”.

Đương nhiên những vấn đề như giải thể môn Xã hội ở THPT và các lớp bậc thấp tiểu học, thiết lập “Thời gian học tập tổng hợp” bằng cách cưỡng chế giảm số giờ học trên diện rộng vẫn là những vấn đề lớn còn tồn tại. Tuy nhiên sự tích lũy lý luận và thực tiễn từ trước tới nay đã trở thành hạt nhân gắn kết giữa thực tiễn “thời gian học tập tổng hợp” và tài nguyên con người, vật chất của địa phương với nhà trường. Ý nghĩa cuộc sống thực sự là người và địa điểm truy tìm hình thức hiện tồn của xã hội là địa phương và thứ có thể tổ chức được điều đó trong lớp học, trường học chính  là môn Xã hội. Ở đó vai trò của giáo viên nặng nề hơn bao giờ hết. Người giáo viên môn Xã hội với tư cách như là “coodinater-Producer” sẽ vừa coi trọng mối quan tâm, hứng thú của học sinh vừa ssuwr dụng thông tinh và nhiều phương pháp  để sáng tạo và triển khai các giờ học hướng tới thế giới và địa phương giáo dục nên người công dân thế giới thế kỉ XXI và người làm chủ của xã hội địa phương. Ở ý nghĩa đó, việc học tập lịch sử phong trào nghiên cứu giáo dục dân sự là rất quan trọng.

Nguyễn Quốc vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)

Giáo dục trung học và môn Xã hội (2)

September 18, 2014 Leave a comment

Môn Xã hội ở trường Trung học

Môn Xã hội từ bản Hướng dẫn học tập năm 1955  đã chia nội dung học tập thành 3 là  lĩnh vực Địa lý, lĩnh vực Lịch sử, lĩnh vực Chính trị-Kinh tế-Xã hội và môn Xã hội trở thành xã hội phân khoa. Cả trật tự học tập cũn được bắt đầu từ môn Địa lý và kiểu “Zabuton” trở thành phổ biến. Bản Hướng dẫn học tập năm 1958 đã giữ nguyên hiện trạng này.

Cấu tạo các phân môn của môn Xã hội được làm rõ trong Bản hướng dẫn học tập năm 1969 với mô hình chữ Pi. Tức là ở năm thứ nhất và thứ 2 sẽ tiến hành học tập môn Địa lý và lịch sử song song và đến năm thứ 3 thì học Công dân để giáo dục nền tảng phẩm chất công dân. Ở đây người t among muốn làm sâu sắc nhận thức xã hội trên cơ sở kế tục những gì được học ở năm thứ 1 và thứ 2. Tuy nhiên,  do thời gian học tập ở năm thứ nhất và thứ hai bị rút đi cho nên xuất hiện các vấn đề như  thành quả học tập không ổn định, việc khai phát chương trình dung hợp giữa lĩnh vực địa lý và lĩnh vực lịch sử gặp khó khăn.

Môn xã hội ở trường THCS là giáo dục nghĩa vụ và từ trước cho đến nay các thực tiễn và nghiên cứu xuất phát từ mối liên hệ với môn Xã hội ở trường tiểu học thường xuyên được tiến hành. Nhưng từ năm 1998 khi việc thiết lập các trường liên thông cả THCS và THPT (trường công lập) được công nhận thì việc tìm kiếm phương thức hiện tồn của môn Xã hội với tư cách là giáo dục trung học đúng nghĩa (bao gồm cả Lịch sử địa lý và Công dân) được đặt ra.

Bên cạnh đó, cơ cấu các môn giáo khoa cũng đang trở nên đa dạng. Môn “Tự chọn” được đưa vào và ở đây có cả sự tham gia của học tập môn Xã hội. Thêm nữa, “thời gian học tập tổng hợp” cũng được thiết lập và các chủ đề như lý giải quốc tế, phúc lợi-sức khỏe được đưa ra và vai trò của môn Xã hội trở nên rất lớn.

Cần phải vừa nhìn vào tương lai phát triển của môn Xã hội trong 6 năm ở giáo dục trung học và làm rõ điểm giống và khác giữa vai trò của môn Xã hội trong môn Xã hội với tư cách là môn giáo khoa ở cấp trung học, môn Xã hội với tư cách là “tự chọn” và “thời gian học tập tổng hợp”.

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)

 

“Trường học mở” và môn Xã hội (3)

September 16, 2014 Leave a comment

Những vấn đề đặt ra cho môn Xã hội

Khi nhìn từ quan điểm xây dựng “trường học mở” để so sánh cải cách giáo dục từ giờ về sau và tân giáo dục thời hậu chiến thì  thấy điểm giống nhau là sự tăng cường liên kết giữa trường học và xã hội địa phương và mối quan hệ giữa ba bên là người dân địa phương đảm nhận địa phương hóa giáo dục, giáo viên với vai trò chuyên môn giáo dục và chính quyền tự trị địa phương trong vai trò hành chính giáo dục. Vì vậy không thể phủ nhận rằng giáo dục có khả năng phục quy trở về điểm xuất phát của môn Xã hội. Tuy nhiên tình hình hiện nay khác rất nhiều so với thời đại của tân giáo dục sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Thứ nhất, cùng với sự biết đổi của xã hội Nhật Bản sau khi nền kinh tế phát triển cao độ bản sắc (identity) của các địa phương cũng bị mất đi. Thứ hai, tri thức của trường học đã chuyển từ tri thức cuộc sống sang tri thức hệ thống. Trên cơ sở tình hình ấy, để đảm bảo vị trí của môn Xã hội trong “trường học mở” thì cần phải có cái nhìn như dưới đây.

Thứ nhất là đưa vào quan điểm “suy ngẫm ở quy mô toàn cầu thế giới và làm sâu sắc, thực hiện nó ở địa phương”. Trong bối cảnh biến đổi của xã hội Nhật Bản với sự di động của dân số, sự phổ biến của thông tin nhờ truyền thông đại chúng, các vấn đề thiết thực và mâu thuẫn của xã hội địa phương trở nên khó nhận thấy và những vấn đề mà chỉ với sự nỗ lực của người dân địa phương không thể nào giải quyết được cũng xuất hiện ngày một nhiều. Cần phải tái cơ cấu triển khai học tập, giáo tài nhằm giáo dục quan điểm không chỉ dừng lại ở nhận thức xã hội hướng ngoại  từ vấn đề của xã hội địa phương tới Nhật Bản, từ vấn đề của Nhật Bản tới vấn đề thế giới mà còn là nhận thức hướng nội từ các vân đề có quy mô toàn cầu, thế giới tới các vấn đề của Nhật Bản và từ các vấn đề của Nhật Bản tới các vấn đề của địa phương.

Thứ hai là cái nhìn nhắm tới sự liên kết giữa tri thức cuộc sống và tri thức hệ thống (tri thức học thuật) khi có sự tham gia của  người dân địa phương vào học tập môn Xã hội. Việc thiết lập “Thời gian học tập tổng hợp” đã bao gồm trong đó mức độ nguy hiểm của của việc bản thân nó sẽ thay thế cho vai trò vốn được môn Xã hội đảm nhận. Việc giao lưu với người dân địa phương, học tập trải nghiệm trong xã hội địa phương cũng là phương pháp quan trọng khi khai phát chương trình gắn với xã hội địa phương và triển khai học tập trong môn Xã hội. Ở cả các lĩnh vực như phúc lợi, mội trường, lý giải quốc tế,  đều có những người có chuyên môn sâu sống ở địa phương. Cần phải có kế hoạch học tập xúc tiến sự tham gia của nhân tài địa phương vào học tập môn Xã hội từ quan điểm giáo dục nhận thức xã hội và làm sâu sắc mối liên kết giữa các cơ quan với nhau.

Thứ ba là cần phải coi trọng hơn nữa quan điểm tôn trọng nhân quyền. Bối cảnh đằng sau cuộc cải cách giáo dục tiếp theo là sự tồn tại của các vấn đề như bắt nạt học đường, bỏ học, học sinh phạm pháp và sự suy giảm năng lực giáo dục của gia đình, địa phương. Cần phải tìm kiếm hình thức hiện tồn của môn Xã hội ở đó nuôi dưỡng cảm giác nhân quyền từ cả hai phương diện là nội dung học tập và phương pháp-hình thái học tập.

Nguyễn Quốc vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)

 

Dân chủ và môn Xã hội (2)

September 2, 2014 Leave a comment

Nguyên lý cơ bản nâng đỡ dân chủ

 

Để giáo dục dân chủ và người trưởng thành dân chủ cần phải làm rõ bản chất và cách thức tồn tại của dân chủ và việc thực hiện dân chủ mong ước là cần thiết. Để làm được điều đó,  cần phải luôn nghĩ đến và liên tục tự vấn về  nguyên lý nền tảng nâng đỡ dân chủ như ngyên lý tôn trọng con người, nguyên lý tự do, bình đẳng, hữu ái, nguyên lý quyết định theo đa số.

Nguyên lý tôn trọng con người là nguyên lý cơ bản nhất nâng đỡ dân chủ và cần phải  tiếp cận nó từ gốc rễ của tư tưởng và hành động của con người. Tiêu chuẩn lựa chọn, phê phán, hành động của con người và chân giá trị của con người được quyết định dựa trên nền tảng là nguyên lý tôn trọng con người.

Nguyên lý tự do, bình đẳng, hữu ái hình thành từ việc con người sinh ra đã tự do, bình đẳng nhưng tự do, bình đẳng không phải đơn giản mà có. Đó là thứ có được khi con người đã phải trả giá nhiều hi sinh trong lịch sử lâu dài là nhận thức không thể thiếu và luôn thường trực nguy cơ bất bình đẳng, bất tự do. Trong trường hợp tự do, bình đẳng bị đe dọa và xâm hại  việc tình yêu và tinh thần nhân đạo được gắn kết bởi đoàn kết, hợp tác, dũng cảm đối mặt với bất chính chính là tinh thần ái hữu và không thể thiếu.

 

Về nguyên lý quyết định theo đa số thì quyết định theo đa số được tiếp cận như là phương pháp quyết định nhưng quá trình đi đến quyết định có dựa trên thủ tục quyết định dân chủ hay không rất quan trọng. Giống như người ta thường nói dân chủ là “thuyết phục và bị thuyết phục” việc dựa trên quá trình thuyết phục, thảo luận và đối thoại trí thuệ để có được sự thừa nhận, đồng ý và lấy đó làm tiền đề là thứ không thể thiếu. Thêm nữa, cho dù là quyết định theo đa số đi chăng nữa thì ý kiến thiểu số vẫn cần được tôn trọng và không được tiêu diệt nó. Trong quá trình thực hiện quyết định theo đa số nếu như gặp bất lợi thì ý kiến thiểu số thường được xem xét lại và đó chính là bản chất của nguyên lý quyết định theo đa số.

Giáo dục môn xã hội cần phải giáo dục cho học sinh rằng dân chủ không phải là thứ luôn sẵn có mà con người phải cùng nhau nỗ lực bảo vệ, nâng cao về chất và sáng tạo ra nó.

 Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)

 

%d bloggers like this: