Archive

Posts Tagged ‘quê hương’

Đôi chuột bạch (truyện ngắn của Xuân Chiều)

March 18, 2014 Leave a comment

Xuân Chiều

 

 

ĐÔI CHUỘT BẠCH

 

Truyện ngắn

 

           Đã hàng chục năm nay dân của làng Đồng Trung thường thấy hai ông hội viên Hội người cao tuổi của làng hay đi bộ dạo chơi  khắp hang cùng ngõ hẻm trong thôn.  Lê Phan năm nay 71 tuổi cứ tám, chín giờ sáng hoặc bốn năm giờ chiều mỗi ngày một lượt  trong bộ trang phục sọc dưa ngày ấm nóng hoặc trong bộ đồ ấm màu ghi, mũ mã tề chỉnh, mùa rét với giày, dép gọn gàng, đầu bạc như đụn bông, đi dạo quanh làng. Cứ mỗi ột khúc cua của đường ông dừng lại ngắm nghía, quan sát, suy tính, ngẫm nghĩ điều gì một lúc rồi ông đi tiếp. Khi gần kết thúc cuộc tuần hành ông tạt vào một nhà bà con hoặc anh em con cháu truyện trò nước nôi đôi chút – nếu như chủ nhân đon đả, xởi lởi mời chào. Khi tâm sự, chủ nhân hỏi “ ông đi đâu”, ông cười hề hề dễ dãi trả lời: “ Đi rong chơi một lát chứ có việc quái gì đâu”.

Một người thứ hai mà dân làng cũng thường gặp rong chơi đó là Trần Dật. Ông ta cũng bảy mươi mốt tuổi đồng niên với Lê Phan. Ông thường đi dạo trong bộ mã xuyềnh xoàng: quần áo gụ âm lịch, hoặc áo xanh quần gụ, chân đất và hầu hết quần ống thấp ống cao, đầu trần. Nhiều lần thấy ông mặc quần thủng gối hay thủng đít. Đây là do cố ý chứ không phải ông thiếu quần áo. Khác với Lê Phan, Trần Dật không tỏ vẻ thư thái đàng hoàng, không đi một mạch ở đường to, đường chính mà ông thể hiện làm sao cho thành một người thông cảm sâu sắc hoàn cảnh từng người dân lam lũ trong thôn. Ông đi tận đường ngang, ngõ tắt, nghiêng ngó vào tận từng nhà để nghe được hết mọi chuyện dở hay, to nhỏ. Tóm lại, những thông tin sự kiện trong làng, ngoài xã ông cập nhật như đinh đóng cột. Khi thời gian gần hết cho việc tuần tiễu này thì ông nghe ngóng trong anh em làng xóm chỗ nào có sự kiện gì là ông có mặt. Thời cơ cho phép là ông nhập cuộc ngay. Cũng có nhiều khi người làng hỏi Trần Dật:

– Thế ông đi đâu mà tích cực đi thế? Trần Dật gãi gãi đầu tặc lưỡi:

– Đi sục nhắm…

Gia cảnh của Lê Phan và Trần Dật hiện tại khá giả so với mặt bằng cộng đồng trong làng. Những động thái trên của hai nhân vật đã thành quy luật. Qua để ý đến quy luật ấy, trên chín mươi phần trăm dân làng nhận xét:

– Hai ông này khoẻ không bệnh tật  gì nên cứ phải đi chứ ngồi không chịu được.

Mỗi khi ai đó ngẫu nhiên gặp Lê Phan ở một đoạn đường công du thì Lê Phan tỏ vẻ suy tư rồi nói:

– Cái chỗ này hồi tôi làm Chủ nhiệm đường to ra tận đây, đống tre nhà ông N ở mãi dưới kia. Hoặc:

– Ngày tôi làm Bí thư chi bộ đã có dự định cải tổ cái sân Hợp tác xã và cái kho thành Nhà văn hoá thôn và nhiều nữa… Thực tế thì Lê Phan lấn chiếm cả kho của Hợp tác xã ( HTX) làm chuồng trâu, sân HTX làm đường đi, bờ ao nhà người khác thành dãy tre xanh tốt của ông.

Phía Trần Dật lại khác: ông rất thạo những công việc ma chay, cưới xin, đình đám, tế lễ, đổi chác, mua sắm. Vậy nên gia đình nào gặp biến cố nhiêu khê gì là ông nhiệt tình hiến kế ngay. Nếu gia đình đồng ý thì lập tức sau đó ông thành thượng khách trong mâm cỗ đầy…Và khi ông đi công việc chi phí chỉ độ vài chục ngàn nhưng ông sẽ phán cho gia chủ độ vài ba trăm ngàn, việc vài trăm ngàn thì ông phán “ có lẽ phải tiền triệu”. Có việc dễ ợt, chỉ cần sang ngay hàng xóm là có, nhưng ông tỏ vẻ nhăn nhó, nghĩ ngợi “ việc này khá phức tạp đây”. Chủ nhân cấp thiết khẩn khoản:

– Ông cố gắng giúp em kẻo nguy kịch đến tính mạng…và đây, ông hãy cầm tạm giúp em bằng này, sau em lo liệu tiếp. Khi tiền đã vào tay, phương tiện đã đầy đủ , trước lúc ra đi làm việc “đại nghĩa”, Trần Dật không quên ân cần, chu đáo với chủ nhân:

– Ở nhà các vị không tuỳ tiện làm theo cách khác nhá, cứ bình tĩnh việc đâu khắc vào đấy…

Có một điều lạ là việc gì Trần Dật làm cũng xong, riêng có điều là ông không bao giờ quyết toán. Thậm chí có vụ việc cho là cả lộ phí, ăn uống, quà cáp, hỏng hóc dọc đường chỉ hết dăm ba chục vậy mà Trần Dật cuốn hàng triệu của chủ nhân mà về cứ im như trê đẻ. Nhiều gia đình khổ sở, chết cha chết mẹ vì tiền, gạo nhưng không dám đòi, lửa thiêu trong ruột nhưng mẽ ngoài vẫn phải coi Trần Dật là ân nhân, lâu lâu lại cơm gà cá gỡ. Đòi! Ai mà đòi nổi!… Có người bảo:

– Đòi, đối với lão Dật, có tiên sư mười đầu, hai mươi con mắt cũng vái lão ấy cả chõ…

Việc cho lão Dật ăn phải bữa sau to hơn bữa trước. Nếu không ấy à, lão chén chín bữa to, một bữa tồi thì cái tin chủ nhân “ kiết xỉ”, “ bẩn bụng” bay khắp thiên hạ. Bên cạnh những chuyến “ vi hành”, nếu phát hiện ra nhà ai có gì mà Trần Dật chưa có thì sau đó bằng mọi cách kể cả mánh bỉ ổi, ông ta phải có. Hiện tại dân làng lắc đầu le lưỡi, cạch Trần Dật như đỉa sợ vôi.

Vào những năm 1974 đến đầu 1977, HTX Nông nghiệp Đồng Trung là một trong những HTX làm ăn được của huyện, bởi lẽ, huyện lấy Đồng Trung làm điểm, bao nhiêu vốn liếng, tiền của, khoa học kỹ thuật huyện rót cho Đồng Trung vô giá dẫn đến vụ chiêm xuân 1975, Đồng Trung lần đầu đạt sản lượng 5 tấn trên một héc ta. Một cái đích có một không hai so với 7 HTX còn lại trong xã. Đồng thời, trại chăn nuôi của Đồng Trung có hơn hai trăm đầu lợn, vài ba trăm gà… Đây là thời hoàng kim của Chủ nhiệm Lê Phan và Phó Chủ nhiệm chăn nuôi Trần Dật. Đôi chánh phó này trở nên nổi tiếng. Cán bộ  huyện đủ các dạng không mấy ngày là không có vị đánh chén tại nhà Lê Phan, Trần Dật. Cũng thời gian này, hàng đêm cứ khoảng từ chín giờ, mười giờ là Lê Phan, Trần Dật cùng kế toán chụm đầu hội ý tại trại chăn nuôi. Đương nhiên mỗi cuộc hội ý này thì một vài nhân viên trại được lệnh thả phanh tay dao tay thớt, thả phanh thi thố tài nấu nướng và lẽ tất nhiên có vài ba mái gà “đẻ hỏng” hoặc vài chú “ thiến sót” phải hiến thân cho chủ nhân của nó. Hoặc hôm nào giản đơn cũng phải có dăm chục trứng ốp nếp, vài ba đấu lạc loại một từ kho lên … chảo để phục vụ các lãnh đạo đàm đạo công việc, tìm kế sinh nhai cho dân làng Đồng Trung. Một hôm bàn tiệc đang sôi động thì lão Hót – một lão nông tri điền có tính hay thóc mách xuất hiện. Sau một tiếng đằng hắng thật to lão Hót lên tiếng:

– Xin chào cả nhà, chào Chánh, Phó Chủ nhiệm!

Chủ nhiệm Lê Phan hơi bưng bức trong người nhưng trấn tĩnh ngay, anh ta cười hề hề vẻ dễ dãi:

– Ấy, may quá! Xin kính mới bác lại đây vui với chúng tôi một chén ạ.

– Sao, bận rộn thế nào mà các anh cơm muộn thế? Lão Hót hỏi. Trần Dật nhanh nhảu trả lời:

– Hôm nay mấy anh em chúng cháu không may mà lại hoá may. Không may ở chỗ họp huyện tận tối về ngang đường lại hỏng xe. May là về đến đây tại trưởng trại bảo có mấy con gà bị rắn phun thế là mấy anh em làm cơm đánh nhắm. Và Trần Dật mời lão Hót:

– Cháu xin trân trọng mời bác lại đây chia may cùng chúng cháu.

Chưa kịp về nhà, ông lão không khách khí nhập cuộc ngồi vào mâm và chan chan, xởi lởi:

– Đấy, đứng mũi chịu sào lo cho dân đi sớm về khuya là vất vả lắm, không có mấy ai hiểu đâu. HTX được như hôm nay công đầu là thuộc về các anh, thuộc về Ban chủ nhiệm.

Lê Phan nâng chén rượu với vẻ mặt tự mãn dương dương:

– Nào xin mời tất cả đồng tâm hiệp lực.

Tiếng cụng chén lách cách chạy ngược kim đồng hồ quanh mâm. Sau đồng loạt một tiếng à, Lê Phan lên tiếng:

– HTX như hôm nay đó là công lao tất cả của xã viên chứ đâu phải mấy ông quản trị. Lão Hót cười đầy mãn nguyện pha chút nịnh bợ, mỉa mai và châm chọc:

– Đành rằng như vậy nhưng xin hỏi các bác? Một đoàn tàu vớ phải chiếc đầu máy kém sẽ chuyển động ra sao? Trần Dật vỗ tay reo:

– Một ý kiến hay, rất hay, không còn đường chối cãi. Nhưng cái đó hãy biết vậy, ta đánh thêm hiệp nữa. Và rồi Trần Dật túm cổ chai rót một loạt các chén vại đầy tràn, hạ lệnh tiếp:

– Nào, xin mời tất cả tiếp tục, mời ông Hót, trăm phần trăm.

Lão Hót thực chất không hay rượu, tửu lượng lại rất xoàng, nhưng lão làm ra vẻ xăng xái. Lão cười cái cười xoe xoé của kẻ choáng hơi men rồi nâng chén ngửa cổ làm một ngụm nuốt ực và giơ chén úp xuống mâm trước mặt mọi người. Lão đảo mắt khắp mâm… Tất cả im lặng đưa mắt cho nhau rồi đều cạn. Đồng loạt sau đó là tiếng dằn chén chan chát xuống mâm. Một tràng cười bốc lên. Hơi men toả ra nồng nặc. Lê Phan cười kéo dài giọng tửu:

– Tuyệt đẹp, tiếp tục, tiếp tục!

Lão Hót đưa tay đỡ chai trên tay Lê Phan:

– Hãy cứ từ từ, mưa dầm thấm sâu. Lão hạ giọng vẻ nhỏ nhẹ dễ nghe:

– Theo tôi con người có số thật.

Lê Phan chất vấn lão Hót:

– Sao? Ông bảo sao?

Lão Hót từ tốn:

– Tôi không nịnh các bác đâu. Hai bác ở cái tuổi Bính Tý, tuổi giàu sang phú quý, làm chơi ăn thật, con của đề huề. Lê Phan phản đối:

– Đâu có. Theo các cụ nói “ bính biến vi tù”, Bính Tý tức là chuột trong cũi không ra gì. Lão Hót phân bua:

– Theo tôi hiểu, chữ “ tù” ở đây khong đơn thuần như các bác hiểu mà “tù” đã biến tấu thành “tuỳ”. Tức là tuỳ vợ, tuỳ con, tuỳ anh em làng xóm…Tóm lại tuổi các bác là hay thương người, vì người, dám hy sinh vì tập thể. Còn xưa nay ai nhốt chuột trong cũi đâu. Vậy ác bác là đứng tuổi con chuột bạch, một loại chuột cảnh được nuôi dưỡng chu đáo, có ích và làm đẹp cho đời… ( trong bụng lão Hót lại nghĩ hai con chuột cống – chuột cống kếch sù hàng ngày đang đục khoét mồ hôi, công sức của dân).

Lê Phan, Trần Dật ngồi nghe lão Hót phân tích, lý giải bỗng tự nhiên hai khuôn mặt ngây thuỗn, lệch đi như chiếc diệp cày và gật lia lịa. Cả hai đều lên tiếng:

– Ừ, kể nghe ông Hót nói cũng có lý. Lê Phan ra lệnh cho Trần Dật:

– Phó Chủ nhiệm tiếp tục đi! Rót tiếp.

Lão Hót làm ra vẻ sửng sốt và đứng dậy rất nhanh. Lão móc trong túi áo ra một gói vuông vức bằng giấy báo và cáo từ:

– Thôi tôi xin phép các bác. Thực ra tôi có thằng cháu bị ho, đi xuống ông bạ Tạo lấy cho nó ấm thuốc, may bước chân được chia vui, trò chuyện cùng các bác. Bây giờ tôi phải về sắc thuốc cho cháu kẻo bố nó ấu nói lắm, nó lại mắng cho đấy. Lão đi như ma đuổi, không đèn không đuốc mất hút vào bóng đêm.

Trên mâm ăn còn Chánh phó Chủ nhiệm, một trưởng trại, một nhân viên. Tất cả im ắng. Lũ côn trùng đã rả rích trong đêm. Một hồi sau, Lê Phan ra vẻ suy nghĩ, nhìn về hướng lão Hót đi nói như nói với chính mình:

– Thằng cha này!

Trần Dật gạt phắt:

– Kệ hắn, cứ tiếp tục…

Không hiểu bữa tiệc này được kết thúc sau đó bao lâu. Sau đó và nhiều năm về sau Lê Phan và Trần Dật thường đàm đạo với nhau khi hai người bên bàn trà hay mâm tửu. Cả hai đều thừa nhận: lão Hót có khía cạnh mỉa mai, kê kích, châm biếm, mỉa mai mình, nhưng phải thừa nhận lão phân tích, nhận xét đúng.

Lê Phan đi bộ đội nghĩa vụ năm 1959. Sau hai tháng đóng kịch cáo ốm tinh vi được giải ngũ về địa phương rồi được làm cán bộ Đoàn, kế toán HTX Nông nghiệp, thành Bí thư đảng uỷ xã,thành cán bộ tổ chức huyện uỷ. Hiện tại được hưởng lương hưu địa phương cộng lương tuất con liệt sĩ chống Tàu, tổng thu cũng vài triệu một tháng. Khi thôn xã họp hành lại thuộc đảng viên lão thành, đại biểu ngồi ghế hàng trên.

Trần Dật: năm 1953 có lệnh nhập ngũ. Khi ra đi cả làng xôn xao “ làng Đồng Trung thêm một vệ quốc đoàn’. Ngờ đâu chiều tối hôm sau đã thấy Trần về làng với dáng đi mệt mỏi trong bộ trang phục: quần nâu, áo nâu, túi dết nâu, mũ lá. Sau đó biết rõ anh ta đã trốn lính. Rồi Trần Dật làm du kích, công tác Đoàn của thôn, Phó Chủ nhiệm HTX nhiều năm, suýt nữa cũng là đảng viên cộng sản nếu như việc xài vợ liệt sĩ không bị lộ. Trần Dật còn được Huân chương kháng chiến hạng Nhì. Cuối năm 1976 Trần Dật tham ô bốn tạ đạm của HTX. Viện kiểm sát nhân dân huyện gọi lên. Sau hai mươi giờ bị tạm giam, Trần Dật được Viện phó Viện kiểm sát huyện hỏi cung. Bấy lâu nay vẫn quen tác phong làm việc khoáng đạt bậc xóm với kẻ mù chữ, hôm nay ngồi trước ông viện phó mặt lạnh như tiền, phía trên cặp kính cận hơi trễ xuống là đôi ông mày luôn nhíu nhíu. Phía dưới là chiếc cằm vuông được phủ đặc một lớp râu quai nón. Mặc dù ông điềm tĩnh, ôn hoà  nhưng Trần Dật hồn vía lên mây, mặt cắt không còn giọt máu. Sau ba cú té đái ra quần, Trần Dật vẫn líu lưỡi không nói được điều gì ra câu ra kệ. Trước tình hình đó, cậu em họ của vợ Trần Dật là Phó Chánh án toà án huyện ở liền kề, sinh hoạt chi bộ cùng Viện kiểm sát đã đặt vấn đề:

– Thưa bác,Trần Dật là anh rể tôi. Việc tham ô của anh ta đã rõ. Không những thế, anh ta còn nhiều tội khác nữa… Nhưng theo tôi cái đó có nhiều nguyên nhân, trong đó không loại trừ sự dốt nát, vô kỷ luật… Hiện tại, anh ta hai vợ chồng có tám đứa con nheo nhóc, lại thêm một mẹ già kém mắt. Vậy bác xem anh ta có thể bắt anh ta bồi hoàn khối tài sản trên và xử phạt hành chính, miễn tố cho hắn và thực hiện lòng nhân đạo của pháp luật với lũ trẻ…

Bởi vậy Trần Dật không phải tù. Cũng từ cú ấy, Trần Dật về yên lòng làm dân đen. Tuy nhiên, tật xấu khó sửa.  Chẳng vi phạm gì lớn nhưng Trần Dật hay càm cắp lấn chiếm, bê tha, say sưa rượu chè, không có lòng tự trọng nên cộng đồng làng xã khinh lão như mẻ và gọi lão bằng cái tên lão Quẵm. Ấy thế mà không biết khai báo ra sao lão vẫn được cấp Huân chương chống Mỹ hạng Nhì, được trả hàng tháng bốn hay năm chục gì đó. Vậy là lão Quẵm hả hê tẹt ga ngày ba lần nâng cổ chai. Đùng một cái năm 2000 Nhà nước thanh toán cho xong một lượt. Quẵm như mèo bị cắt tai hẫng hụt, mặt khác Quẵm đã trao hết quyền cho con. Cơn nghiện nhiều khi thúc lão mở hòm trộm thóc đổi chất cay. Thấy vậy, con dâu Quẵm khoá hòm, chốt chặt cửa buồng khi đi vắng. Nhiều lúc nhìn lão Quẵm thảm hại, bi ai. Lão đã ngự ngai vàng đê tiện, bởi thế mà lão lang thang như đầu truyện đã nói.

Lê Phan xuất thân từ một gia đình có mức sống trung nông, bố mẹ nuông chiều. Lê Phan học hết cấp ba thời Pháp, tóm lại là đọc thông viết thạo. Ngày nay ở học vị trên coi như mù chữ, nhưng trước đây ở làng Đồng Trung thì học hành như Lê Phan cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay, vì thế mà Lê Phan luôn tự đắc cho rằng không ai bằng mình. Quả cũng có thế thật. Những năm chống Mỹ, thanh niên khoẻ mạnh được học hành ra đi hết, thời cơ tốt cho Lê Phan sau mười năm làm kế toán leo lên làm Bí thư đảng uỷ xã. Khi được triệu học tại trường Nguyễn Văn Cừ, Lê Phan mới biết mình là dốt nát. Giảng viên nói hết buổi này qua buổi khác, Lê Phan không hiểu gì, nhất là các cụm từ triết học. Nội tâm Lê Phan biết mình dốt nhưng mẽ ngoài lại ra vẻ ta đây, suốt ngày quần áo là li thẳng tắp, xe ngon, ca táp to đen bóng ra điều một người sang. Anh ta bắt đầu đến nhiều với quán ăn, tiệm phở, đồng thời biết cặ bồ…Thế là chưa đầy một nhiệm kỳ ( lúc đó là hai năm) Đảng bộ đại hội gấp, ghế bí thư được trao cho người khác. Lê Phan bắt đầu bất mãn, càng đâm đầu vào rong chơi xả láng. Nhiều đơn của quần chúng, đảng viên đề nghị thi hành kỷ luật Lê Phan. Mặc! Lê Phan cứ tụt ga trên đường đồi bại. Anh ta bỏ tám đứa con và vợ nheo nhóc…

Những năm làm HTX, đối với con số, Lê Phan tiến hoặc lùi dấu phẩy, chữ nghĩa thì biến tác thành tộ nên về cơm áo gạo tiền vợ con Lê Phan sung túc. Nay miệng ăn núi lở, của phù vân không bền, vợ chồng Lê Phan mâu thuẫn, nhưng vợ bất lực ngày đêm sụt sùi, căm giận, héo mòn. Thấy vậy, em con ông chú là một cán bộ huyện đã trực tiếp phân tích cho Lê Phan và vạch một hướng đi:

– Tốt nhất anh tự hối cải quay lại làm Chủ nhiệm HTX nhỏ Đồng Trung (lúc này hợp nhất giải thể), vì anh còn uy tín với chức danh ấy. Sau mấy tháng tái cử, Lê Phan được Bí thư huyện uỷ, người cùng quê cho đi làm cán sự với việc xây dựng HTX tại phía Nam.Từ một cán bộ địa phương đang đà tàn lụi Lê Phan trở thành một đặc phái viên của huyện lương 65 đồng trên tháng vào Tây Ninh làm cố vấn với hàm một cán sự ba. Lê Phan mũi phổng lên như mũi ếch gặp mưa rào, tưởng mình được lên trời.Ngựa quen đường cũ. Gắn bó với Tây Ninh gần một năm Lê Phan tìm cách mua chuộc, luồn cúi với mọi hình thức để được trở lại nơi xuất phát, lại được tăng một bậc lương, với cương vị mới: một cán bộ tổ chức đảng uỷ huyện. Lê Phan được suốt ngày ngồi hon đa 67 lướt đến nơi mình cần đến. Nhìn diện mạo với comple, xe máy, ca táp to mang danh hiệu thay mặt cho cơ quan đảng cấp huyện đâu phải bỡn. Nhiều kẻ cấp dưới mới nhìn thấy đã khúm núm thưa gửi, xun xoe, vâng vâng, dạ dạ. Điều này khiến Lê Phan tưởng mình lên mây. Anh ta tự huyễn hoặc đến chân trời xa tít của đường công danh. Máu khinh đời, tự phụ lại cuộn lên thành lốc trong người Lê Phan…

Ôi thôi có ngờ đâu giai đoạn này ( thập kỷ 80 của thế kỷ 20) đã khác xa những ngày Lê Phan làm Bí thư đảng uỷ. Các đảng bộ cơ sở mà Lê Phan được cử đến có lực lượng đảng viên từ bộ đội chuyển về hông phải ít, lực lượng này có học, có bề dày rèn luyện, từng trải, họ ăn, họ nói họ làm đều là bậc sư phụ của Lê Phan. Bước đầu tiếp xúc với một ông cán bộ tổ chức họ còn xem xét thăm dò “ để xem thế nào”. Sau dần dà họ phát hiện ra ông cán bộ kia chỉ là đồ rởm, một đụn bù nhìn, nói không nên lời, viết không nên chữ vậy nên họ coi thường. Một số lớn không thèm tiếp xúc. Có anh nhổ toẹt khinh Lê Phan ra mặt. Một Bí thư xã nọ đã nói thốc vào mặt Lê Phan:

– Xin lỗi anh, tôi biết anh thay mặt cho huyện uỷ thật nhưng ái đó chỉ là danh nghĩa, còn thực tại anh giúp chúng tôi được gì, ngược lại anh chỉ làm chúng tôi thêm vướng, làm việc cùng anh tốn thêm thời gian. Tốt nhất anh nên nghỉ để người khác thay…

Lê Phan ngậm đắng. Qua bao đêm trằn trọc, cay cú thức trắng, Lê Phan thực sự thấy nhục và thấm thía câu nói của chú em họ khi chú ấy sau mười năm trận mạc thăm nhà:

– Anh thông cảm, anh ạ, sở dĩ anh làm được một số việc vừa qua đó là họ dựng anh lên vì thiếu chó nên bắt mèo ăn cứt. Lê Phan thấy đây là đoạn đường cùng. Cuộc sống trên đe dưới búa, Lê Phan chấp nhận thôi việc không chế độ.

Con cá chuối rất khôn ngoan ấy thế mà nhiều khi mắc câu, dính lưới vì những miếng mồi. Lê Phan xuất thân từ khá giả nên sự chi tiêu phóng túng đồng thời anh cũng biết đời “ rào bằng đũa chắc hơn rào bằng gai”, những ngày làm việc địa phương Lê Phan tung mồi cho lũ phàm phu… Giờ Lê Phan biết mình còn cách mốc chế độ hưởng thụ xa nhưng anh vẫn được lương hưu địa phương nhờ ơn mấy chú cò… Hiện tại Lê Phan đã biết mình là ai, nhưng vốn vẫn đem trái tim có dòng máu sĩ hão thích oai vệ, người lính tính quan, ưa nịnh hót, nhiều khi cứ coi như người ta không biết gì quá khứ của mình, kệch cỡm ra mặt. Thế nhưng đâu che được mắt thế gian.

Mỗi năm Lê Phan liên hoan đồng ngũ ( 1959) một lần cùng một số uý tá, nhưng Phan đi lính chưa đầy hai tháng. Cô con dâu mỗi lần thấy thế cứ cười tủm: “ Ông cháu hôm nay lại họp đồng ngũ”…Cửa miệng Lê Phan nhiều lúc vẫn tự xưng, nhất là khi có khách lạ là đã từng làm ông nọ bà kia. Thực tế: Bí thư đảng uỷ xã một phần hai nhiệm kỳ, cán bộ tổ chức đảng của huyện hai tháng. Một đảng viên tham ô, gian lận có, hủ hoá có, nghiện ngập bê tha, lấn chiếm, vây cánh, thù vặt, trù dập dân lành … nhưng do ô dù chưa phải đuổi khỏi đảng. Chín chín phần trăm dân Đồng Trung khi nghe Lê Phan huấn thị điều gì họ đều nhổ toẹt:

– Chân ông ta giẫm cứt, ông lại giục người khác rửa chân.

Nhưng thực tế, người Việt nam có đức độ nhẫn nhục đến kỳ lạ, mặc dù trog tim gan có căm ghét đến tột cùng nhưng vẻ ngoài vì tình làng xóm, anh em, thông gia mà họ vẫn tặc lưỡi bỏ qua và tản lờ như người không biết. Có khi họ còn giả câm giả điếc. Dù vậy, dân Đồng Trung vẫn ngầm tặng Lê Phan một biệt danh : Lão Kệch.

Năm tháng qua đi để khe lạch thành sông ngòi, biển cả. Năm tháng qua đi để cây lim rừng to dày thêm phần lõi dâng hiến cho đời. Năm tháng qua đi hoá kiếp cho bao con người từ lầm than cực khổ lên ông hoàng bà chúa và ngược lại. Năm tháng qua đi để  Chánh, Phó Chủ nhiệm HTX Đồng Trung thành Kệch, Quẵm và một đôi chuột bạch. Lão Hót, một lão nông thuần tuý mà tri thức dòng đời khá uyên thâm. Dân làng Đồng Trung bảo thế.

                                          Viết  2006

 

 

 

Advertisements

Huyền thoại làng (3)

March 9, 2014 Leave a comment

Kị nội nhà  tôi có quan hệ họ hàng thân thích với cụ Phồng. Nhà cụ Phồng ở giữa làng gần sân điếm. Bố tôi bảo cụ có thân hình cao lớn, tiếng nói vang như chuông, tay chân săn chắc. Cụ vừa gan dạ lại vừa vui tính vì thế cánh thanh niên rất thích được gần cụ. Mỗi lúc cụ đi ra đường trẻ con, thanh niên bu xung quanh như đám rước. Cụ Phồng chưa bao giờ bước chân ra khỏi làng, cũng chưa bao giờ làm chức tước gì nhưng cụ tạo nên nhiều huyền thoại. Người này kể, người kia kể lưu truyền mãi.

Cụ Phồng có thú vui chơi diều. Diều cụ chơi vào hàng to cự phách. Thông thường ở quê tôi người ta gọi tên và phân loại diều dựa vào tiếng kêu của sáo. Sáo diều là ống tre rỗng hai đầu bịt “vửng sáo” có khe hở được đục rất khéo hình hàm ếch để khi gió lùa vào sẽ tạo nên âm thanh. Sáo nhỏ kêu “vo vo”, sáo trung bình kêu “vu vu”, sáo lớn kêu “đu đu”. Diều cụ Phồng ngoại cỡ, lúc phóng lên không trung sáo kêu ù ù như tiếng cối xay.

Thời xưa, chơi diều cũng lắm công phu. Diều được làm bằng tre, dây diều cũng thế. Dây vót từ cật tre được chuốt, phơi kĩ và nối với nhau bằng nút thắt con ong rất khéo. Mỗi lần có gió lớn, cụ Phổng vác diều ra chơi, thanh niên làng lại í ới kéo ra giữ dây cho cụ. Bốn năm cậu thanh niên lực lưỡng giữ mà mỗi lần chiếc diều chao đảo các cậu vẫn bị lôi đi xềnh xệch. Chiếc diều khổng lồ là niềm kiêu hãnh của cả làng. Có một lần, trời nổi gió lớn, cụ Phồng đang đi cày liền vứt cày ở ruộng chạy về sân điếm nơi vẫn để diều thường ngày.  Cụ vác diều lên vai phóng một mạch ra đồng. Thanh niên hò reo kéo ra giữ dây. Diều phóng lên không trung nhưng kì lạ gió lớn mà sáo diều không kêu. À mà không! Có kêu nhưng tiếng nghe tưng tức lạ. Bực mình cụ Phồng giật xuống ngó vào bên trong chiếc sáo. Thật kinh ngạc! Bên trong là hai mẹ con ăn xin đang…ngủ ngon lành! Chuyện này lúc tôi vào học trường tiểu học được bố kể cho nghe đến mấy lần. Lần nào nghe cũng khoái chỉ mong sao chiếc diều ấy còn để chui vào sáo diều bay vút lên trời xanh một lần cho biết

Bây giờ, làng đã khác xưa nhiều. Hỏi tên cụ Phổng có lẽ không mấy người còn nhớ. Nhưng sáo diều vẫn kêu trên bầu trời xanh vi vút. Trẻ con, thanh niên trong làng vẫn chơi diều. Bây giờ không ai dùng dây diều chế từ cật tre nữa. Dây ni lông đã được dùng thay thế. Đôi lúc trốn chạy từ đô thị ồn ào trở về dưới mái hiên lắng nghe tiếng sáo diều, tôi không thể nào thoát khỏi những ý nghĩa về chiếc diều khổng lồ của cụ Phồng ngày xưa.

9/3/2014

Nguyễn Quốc Vương 

Khu vườn

July 12, 2013 Leave a comment

Khu vườn

tác giả: Nguyễn Quốc Vương

Bây giờ
Họa mi bay đâu hết
Chỉ còn lũ vẹt hót vang

Đứng trước khu vườn
Câm lặng
Khó tin sự thật phũ phàng

12/7/2013

NGỌN LỬA TRUNG DU

February 23, 2013 2 comments

Chiều mùa thu trong như miếng đá thạch anh. Đứng bên cái sân giếng cũ xưa rêu mọc tầng tầng lớp lớp mà thấy lòng dạ nôn nao kỳ lạ. Đâu đây vẫn là hình bóng ông bà nội và căn nhà gỗ núp trong khu vườn đầy hoa trái. Đâu đây tiếng cười thời thơ bé của chính mình. Dường như mùa thu đã đi suốt độ dài của mấy  chiều không gian thì phải. Khu vườn lá rụng, gió đùa. Vẫn còn đấy nhiều thanh âm cũ. Mùi ổi chín sực nức, đám na mở mắt căng mọng. Sát ngay bên bờ giếng là trái mít xanh cuối mùa  ngơ ngác. Các cụ vẫn bảo, thị chín rộ thì mít sẽ sượng không ngon nữa.  Nói thế chứ vào ngày mưa lăm tăm lạnh mà ăn múi mít ngọt cuối cùng xem, ngon không thể quên. Chẳng biết tự khi nào, nếu bỗng gặp chùm quả mít treo lơ lửng trong một khu vườn xa ngái nào đó lại nhớ về miền trung du đất đỏ quê mình. Và không thể không nhớ giếng nước, mảnh vườn. Cuối sườn đồi, hoa bạch đàn bung nở thơm ngào ngạt đầy quyến rũ. Tiếng vó ngựa xa dần trên những con đường vòng vèo lên cao theo hình xoáy ốc. Buổi chiều như cao hơn bởi đồng xanh, bởi nắng vàng và nhịp sống trung du yên ả, thanh bình. Con diều sáo lẻ loi chao liệng trên kia như đang đợi lũ trẻ tan trường những ngày đầu năm học. Mắt vẫn cứ dừng lại bên trái mít, mấy cái lá bên cuống bé xíu nhô lên. Có gì đó hoang hoải lắm, phồn thực lắm.  Vẻ gì đấy ở khu vườn này vừa hiu hiu buồn, vừa thanh tịnh, vừa xốn xang không thể tả. Hoa mẫu đơn nở đỏ chót cuối vườn ngay đám thừu lựu lắc lư đầy quả làm ta bỗng thèm nhớ những yêu thương.
Có một ngày trên huyện đảo Cát Bà của Hải Phòng, khi chen chúc trong chợ cá tôi bỗng giật mình khi một người bạn là nhà biên kịch đi tìm mua trái mít chín để mang về. Anh bảo rằng, mua trái mít từ quê mẹ mang về để nhớ lại tuổi thơ, ôn lại những kỷ niệm ngày còn mẹ trên đời. Thì ra vậy, đâu phải riêng tôi, mà chắc chắn với bất kỳ ai lớn lên từ làng quê đều có những gắn bó với mùa mít chín. Thảo nào, mỗi lúc thoáng thấy chùm mít xum xuê đâu đó tôi lại nhớ nhà đến khó tả. Ngồi trên tàu cao tốc về thành phố Hải Phòng, tôi ngồi cầm hộ anh quả mít và nghe anh kể về mẹ, về một thời thơ ấu. Chao ôi, thế mới hay, dù đi khắp thế gian, nếm trải đủ mùi ngọt ngào cay đắng thì người ta vẫn nhớ nhất là mẹ mình và thời thơ ấu.
Nếu một ngày nào đấy ở một miền quê khác khi bắt gặp khói bếp cuối chiều tôi cũng nhớ mẹ vô cùng. Nhớ một heo may se se lạnh, mẹ hun đám cỏ khô ven ruộng thành đống rồi đốt.  Lửa đống nhấm cháy âm ỉ suốt dêm. Khói đốt đồng đã ám vào trí nhớ trẻ làng. Và còn nhớ cái ngọn lửa xanh lét  nhóm bằng củi mục, thứ củi vớt trên sông mùa lũ trong bếp của mẹ. Ngọn lửa gợi nhớ những câu chuyện ma của bà nội. Bà kể liên miên ngày này qua ngày khác. Vẫn chuyện ấy, giọng nói ấy mà sao không đứa cháu nào chán, chỉ sợ thôi, sợ lấm lét. Sợ suốt từ còn bé đến bây giờ. Kỳ lạ thật. Và mỗi lúc bà vun lá khô cuối vườn đốt lửa, tàn lá bay lên cao xoay vòng khiến lũ trẻ con rất thích thú thì bà lặng lẽ ngồi nhìn lơ đãng. Cái cằm nhỏ và dài của bà bỏm bẻm nhai trầu  một cách bình thản. Bà buông một câu ngắn: “lá rụng về cội”, cả lũ cháu chẳng đứa nào hiểu gì.
Chiều nay, một chiều thật xa ngày ấy, khi đã hiểu được câu nói của bà thì khu vườn đã vắng người xưa.  Nhưng còn đấy, dường như ngọn lửa của bà, của mẹ còn cháy. Ngọn lửa của tình gia đình ấm áp còn mãi sưởi ấm những đứa con. Mỗi thu về, nhìn lá rụng là lại thấy lửa bùng lên trong lòng mình. Khi xa quê, mặt mình chạm gió biển hay gió vùng sình lầy mênh mông cũng lại thấy nhớ đến thế ngọn gió trung du hoang hoải và mãnh liệt của quê mình. Hình như mạch nguồn tình yêu cũng bắt đầu từ  những điều dung dị ấy. Dù có sống ở đâu đi nữa thì vẫn thấy mình thuộc về một nơi thật riêng, trong mình luôn cháy sẵn một ngọn lửa riêng. Ngọn lửa trung du.
Mai Phương

NHỮNG MONG MANH (truyện ngắn của Mai Phương)

September 23, 2012 Leave a comment

 

                                                                            

Phía bên kia đường, những hàng quán đã dọn vãn. Từ ngày thị xã lên thành phố, người dân bám mặt đường kiếm sống ngày một đông. Những quán cóc, hàng xổ số, quầy báo, sửa chữa điện thoại, giày dép thi nhau tiến sát mặt đường. Nhìn cái nắng lúc giữa trưa liếm lên vỉa hè mà Trang thấy ngại. Trang sợ nhất khoảng thời gian khi hết giờ làm việc, mọi người ai về nhà nấy cơm nước nghỉ ngơi cùng chồng con, còn Trang ở lại trong căn phòng làm việc một mình vắng vẻ. Cô thấy mình như bị bỏ rơi ngoài cuộc sống đời thường đang trôi đi không dừng lại. Một mình đi bộ lóc cóc ra quán cơm bụi, Trang thấy mình sao lạc lõng giữa những ồn ào ngoài kia. Tiếng ve sôi lên càng như giục giã người ta đi vội vã. Nấu ăn một mình cũng chán mà mua rau mua thịt ở đây cũng sợ ngộ độc, thà đi ăn suất cơm mấy nghìn rồi về ngủ một giấc là gọn nhẹ nhất, bát không phải rửa đỡ lích kích, chiều về nhà ăn bù với chồng con vậy.

Trang đã quen ăn ở quán cơm chị Tần, thấy Trang là chị biết cô thích ăn món gì, ăn suất bao nhiêu tiền. Khách đến quán chị Tần đa phần là người buôn thúng bán mẹt, công nhân, xe ôm, và những người lao động thủ công khác. Nhìn cách ăn mặc của họ mà người đi đường đánh giá “tầm cỡ”quán cơm này. Cũng có vài người ăn mặc sáng sủa, có vẻ là “người nhà nước”cũng ăn ở đây. Họ thường ít nói, ăn cho xong rồi đi. Trang cũng được liệt vào nhóm người nhàn nhã, vì cô làm trong một cơ quan hành chính. Nhìn bộ dạng mình ăn mặc kiểu công sở, đi giày cao gót mà lệch thệch ngày nào cũng đi bộ một mình ăn cơm bụi mà Trang thèm được về nhà nấu cho lũ con và chồng một bữa cơm xì xụp. Thấy thương những người cơ nhỡ ngồi vạ vật góc phố, vỉa hè ngủ gà gật. Không khí ở quán cơm lúc nào cũng ồn ã, những người thành phố có cái nhìn những người vẻ lam lũ nhà quê bằng con mắt ghẻ lạnh, dò xét. Trang thấy bà bán nước cạnh đấy rót nước cho khách bằng vẻ trịch thượng ấy. Ai mà chả từ quê sinh ra chứ. Có kẻ nào mà cha ông không là nông dân? Trang cũng là con bé nhà quê xứ Bắc lớn lên từ cọng lúa, con tôm của mẹ. Vì thế mà hay đọc được trong mắt mọi người những cách nhìn nhận về người nhà quê. Chị Tần xới cơm, giục đứa con gái bé xíu của mình bê thức ăn cho khách rồi xoay qua xoay lại với biết bao thao tác đơm, múc. Nhìn người đàn bà nhỏ bé bán cơm cùng hai cô con gái và người chồng cục tính nhưng chịu khó làm Trang nghĩ về những người đàn bà trên đời này. Trang mang tiếng được học hành hẳn hoi, có việc làm ổn định, một gia đình yên ổn mà đâu có nhẫn nhịn và chăm sóc chồng con được như chị Tần. Chị Tần trút thức ăn thừa vào cái bát nhựa rồi giục con gái út mang về cho mèo. Trang nhớ cảnh mình bắt gặp hôm nọ ở một nhà hàng sang trọng. Bên mâm cơm thịnh soạn là mấy bà cô mắt xanh môi đỏ ngồi tỉa tót. Người đàn bà ăn mặc đẹp nhất trong nhóm đã làm Trang kinh hãi. Bà ta chộp lấy con mèo đang ăn vụng mang ra ban công ném vù xuống lòng đường vẻ tức tối. Con mèo “ngoao”lên một tiếng lớn rồi thoi thóp thở đưới đường bê tông nắng như đổ lửa. Trang thấy một nhúm lông của con mèo còn bám trên cổ tay người đàn bà nọ. Chắc nó sẽ chết mất. Chợt Trang lại nghĩ, nếu mình bị ai ném như con mèo kia nhỉ. Khiếp quá! Trang rùng mình. Phía mâm các bà ấy tiếng cười lại ré lên. “Đấy, con mụ Tú đấy”, chị Trà ngồi bên thì thầm, “Bà ta ở gần nhà mẹ chồng chị, ghê lắm, chồng làm gì trong quân đội chức to lắm, ít về, mụ suốt ngày ăn chơi, chiều nào cũng đi gội đầu, sơn sửa móng tay, ăn cơm hàng, quần áo rõ đẹp nhưng ủng hộ người nghèo bao giờ cũng chỉ đóng hai nghìn thôi. Bọn choai choai trong ngõ còn bảo có lần bà ta đút vào hòm công đức tờ mười nghìn giả nữa chứ…”. Trời ơi, những người đàn bà giàu có. Trang mông lung lẩn thẩn suy xét. Chị Trà vỗ bộp một cái vào má cô bảo, mày như bà già ấy, chuyện thiên hạ để ý làm gì nhỉ cho già người, rồi số mày khổ thôi em ạ. Có khi thế thật vì Trang thấy mình già trước tuồi nhiều lắm. Ngoài 30 tuổi như Trang không thấy mình vồ vập điều gì nữa. Trang đã to tiếng với chồng về chuyện mở đĩa hát. Những lời ca “Tình yêu đến em không mong đợi gì, tình yêu đi em không hề nuối tiếc”vang lên là Trang thấy sao nó nhạt nhẽo vô vị đến thế. Có lần chồng cô nói như quát: “Em có làm sao không đấy, anh nghe nhạc em cũng càu nhàu, ai cũng như em thì sống ra cái kiểu gì?”.  Anh bảo, không quan tâm đến lời ca, mà quan trọng là nghe ca cĩ mình thích hát lên. Ừ, tình yêu, sao cứ phải nghĩ nhiều về sự yêu ghét trên đời này làm gì khi mà khối người sống như lời bái hát rẻ tiền kia.

Điện thoại rung lên trong túi, con gái ở đầu dây bên kia thì thầm: “Mẹ ơi, chiều mẹ về sớm cho con năm nghìn để đi viếng”. “Viếng ai cơ hả con?”.”Mẹ bạn Tình lớp con chết rồi mẹ ạ”. “Sao lại chết vậy con?”. “Tự tử mẹ ạ, thôi mẹ nhé!”. Trang đờ người ra, lưỡi cứng lại, mắt bắt đầu thấy rần rần cay. “Ừ, chiều mẹ về”. Trang nhớ đến khuôn mặt người phụ nữ nông thôn xinh xắn, hiền hậu đi họp phụ huynh cùng mình tuần trước. Chị Len là người nơi khác về làm dâu trong xóm của Trang. Chị sinh được ba cô con gái, chồng chị là anh Đậu công tác tỉnh xa rất ít khi về. Quanh năm suốt tháng người ta thấy chị Len ở nhà một mình nuôi con, làm ruộng. Vài tháng chồng lại về mang lương cho vợ chi tiêu. Nhiều phụ nữ trong xóm nhìn chị Len mà ao ước. Ai cũng bảo chị sướng. Nhưng chị Len lại bảo: “Ôi, có chồng có vợ ăn cơm rau còn hơn”.

Chiều về, Trang đứng mua ít thức ăn ở chợ cóc đầu xóm mà nghe người ta bàn tán về chị. “Ai bảo được sướng mà không biết đường, lại đi làm thế dại thì chết chứ sao, khổ thân mấy đứa con bơ vơ”. Trang nghe và chắt lọc rồi cũng hình dung ra cái chết của chị Len. Chị Len thắt cổ bằng dây thừng chết trong căn nhà đang ở của mình. Khi bố mẹ chồng phát hiện ra thì không thể cứu được nữa. Sáng ấy, chị Len dọn dẹp nhà cửa thật sạch sẽ, dặn bà mẹ chồng nấu cơm cho các con chị, chị đi có việc. Ai ngờ đâu chị lại dự vào cuộc ra đi đau xót thế. Người trong xóm bàn tán xôn xao. Có người trách móc, người thì thương xót, tội gì mà chết, chẳng ở được với nhau nữa thì li hôn mà nuôi con chứ sao. Trang chắp nối đầu đuôi câu chuyện rồi cũng ngẫm ra. Người ta bảo chồng đi vắng quanh năm, chị Len đã lòng thòng với một người đàn ông xóm bên được một thời gian, chẳng biết thế nào mà một đêm khuya vắng, chồng và anh em nhà chồng chị bắt được người đàn ông lạ mặc quần áo lót trong nhà chị đi ra…

Chị đã phải ngồi đối mặt với chồng cùng sự có mặt của hai bên gia đình nội, ngoại  khai ra cái tội tày trời và thú nhận, van xin để được tha thứ. Chồng chị đã lạnh lùng bảo: Em như vậy thì từ nay anh có làm gì đi nữa em cũng không có quyền đòi hỏi gì ở anh. Chị đã sống trong xa cách biền biệt và ghẻ lạnh.

Trang tưởng tượng ra tình cảnh của chị Len mà thấy rõ sự khốn khổ, bẽ bàng của chị. Tại sao một phụ nữ nông dân hiền lành như chị lại có cái gan táo tợn, liều lĩnh thắt cổ mình chết trong đau đớn tột cùng như vậy? Sao anh của chị không chọn cách giải quyết nào khác mà cứ phải phơi bày bằng được. Ai chẳng cho rằng chị sống đủ đầy, có chồng có con, được an nhàn mà không biết phận. Người đời vẫn bảo đàn ông chơi hoa bẻ nguyệt ở ngoài cũng là lẽ thường tình, vợ phải chịu đựng hết. Còn người đàn bà nào dám tơ tưởng ai, dám sống cho mình sẽ là loại chẳng ra gì. Không biết chị Len có yêu người đàn ông nọ hay không, hay chỉ là bột phát thứ tình cảm khi đang phải cô đơn đằng đẵng. Trang đã từng ôm con ngủ trong những đêm đông dài bất tận khi chồng đi vắng mà thấu hiểu sự cồn cào trong lòng dạ đàn bà.

Trang nhớ cái dáng vẻ của chị Len ngồi bên cửa ơi hời ru đứa con gái út. Chị so vai ngồi buồn, ánh nhìn không có đáy. Sao lại rưng rưng đến thế, lời ru dần buông ra từng tiếng sầu thắt tim gan. Có lẽ lòng mẹ nào cũng chất chứa những nỗi buồn. Trang cảm thấy nỗi buồn như sương khói che lên gương mặt những người đàn bà bận mọn. Những thứ gánh nặng vô hình vẫn luôn đè nặng lên vai người phụ nữ. Trong lòng họ là âm thầm những khổ đau và nhẫn nhịn. Liệu có người đàn bà nào trên đời dám tuyên bố tôi suốt đời hạnh phúc? Phải nói đâu xa, ngay những lúc Trang mệt mỏi nhất cần nghe từ chồng lời âu yếm động viên thì chồng cô thản nhiên treo bộ quần áo bẩn lên móc tắm qua loa, ăn vội vàng rồi lăn ra ngủ cùng lũ con. Thôi đành buồn một mình. Ngày này qua ngày khác cũng quen chẳng buồn để ý xem chồng mình có biết điều ấy hay không nữa. Xem một bộ phim hay, cảm động Trang khóc thì chồng bảo: “Người đâu mà hấp thế, họ diễn thế thôi chứ làm gì có ngoài đời, khóc cho nó mệt xác ra”. Đành im lặng vậy. Mấy chị hàng xóm chỉ suốt ngày bàn tán giá gạo giá thịt tăng cao, hay là bán hàng ế ẩm, con xin tiền nhiều… Đâu có ai quan tâm xem thời cuộc ra làm sao, hay cũng chẳng để ý xem đời sống riêng tư của người khác như thế nào.

Trang thấy ân hận quá, sao mình không nói chuyện hỏi han xem sao chị Len buồn thế. Lời ru con của chị cứ bám riết đầu óc Trang. Hay chồng chị chê vợ sinh toàn con gái, thời đại này rồi mà còn nặng nề thế sao? Chị Len sao dại vậy, con mình còn sống trên đời này không có mẹ sẽ khổ biết bao. Nhưng liệu chị Len có đủ nghị lực để vượt qua trăm ngàn con mắt dị nghị của bà con lối xóm? Vừa mới đây mà đã tan vào hư không rồi. Trang thấy kiếp người sao mà mong manh, bèo bọt thế. Sao lại cứ phải chết vì những thứ không cầm nắm được. Nhiều người còn giam cầm cả đời vì thứ hạnh phúc giả tạo trong cái gọi là gia đình chỉ vì sợ. Sợ chính những thứ giết ta dễ dàng nhất. Những thứ ấy không rõ mặt, rành tên, nhưng huỷ hoại đời người chóng vánh. Lòng Trang thắt lại, nước mắt lăn ra trên má. Trang hối hận mình đã vì công việc bận rộn, vì con nhỏ mà cũng chẳng quan tâm xem chị Len sống thế nào. Giá mà buổi họp phụ huynh ấy Trang nhận lời vào nhà chị chơi, biết đâu đã làm được điều gì. Không kịp tiễn chị Len ra đi nữa rồi. Trang ngồi im trong góc nhà nghe bà con bàn tán về đám tang. “Rồi chồng nó sẽ lấy vợ mới thôi”. “Chồng khồng thấy khóc vợ hay sao ấy”… Trời ơi, phận chị Len thật mỏng. Không biết người đàn ông ăn nằm với chị có khóc không. Người ấy có biết thương người đàn bà tội nghiệp ấy không hay cũng coi chị là thứ đồ chơi thoả mãn thói tham lam ích kỷ?

Từ trước đến nay, chị Len sống nhã nhặn, hiền lành, không hề có điều tiếng gì, chị còn chịu thương chịu khó hiếm ai bằng. Chính vì thế mà cái chết của chị gây sửng sốt cho quá nhiều người… Trang thấy hẫng hụt như mất đi thứ gì quý giá. Đấy, người mẹ của bốn đứa con giờ thành bụi, da thịt mình còn lại trên đời này ai chăm bằng mẹ? Ngồi ngắm nghía đứa con gái nhỏ của mình vừa ngủ vừa chẹp chẹp mồm mà Trang thương cho mấy đứa bé nhà chị Len. Ngày mai thức dậy, chúng đã không còn thấy người phụ nữ thân yêu sinh ra mình nữa. Chỉ nghĩ thế thôi là Trang đã nghẹn ngào. Rồi lại thương những người phụ nữ còn lại trên đời này lâu lâu lại sống trong những nỗi cô đơn khó giãi bày.

Trang nghĩ đến cô Thao bán đậu gần nhà mẹ. Người cô đen và nhỏ bé, vậy mà ngày nào cũng thức từ 3 giờ sáng làm đậu, đi chợ, rồi bao công việc trong nhà tận khuya mới đi nằm. Đàn con lít nhít ngày nào cũng khiến cô phải xoay sở với đống quần áo lem nhem, lũ bát cáu bẩn và mấy tấm thân lem luốc của chúng. Ông chồng ốm quanh năm rên hừ hừ trong góc nhà, lúc lúc muốn đi tè chẳng hạn, cô Thao (hay đám con) chưa kịp chạy vào ông đã chửi bậy um lên rồi. Vậy mà chưa ai thấy cô Thao kêu ca phàn nàn gì, quanh năm cung cúc đi về đầu tắt mặt tối. Hôm vừa rồi Trang về mẹ đưa con sang chơi, đã sững người khi nhìn thấy cảnh cô Thao mặt rịn đầy mồ hôi đang bón cháo cho chồng. “Mình ơi có thương con và em thì ăn đi”. Cô Thao thì thầm, dỗ dành. Nhìn những cử chỉ ân cần của cô Thao lòng Trang ấm lại. Ngồi nhìn cô Thao hớt đậu mà khuôn mặt  cô buồn vô kể, vẻ buồn thanh tịnh không dễ gì thấu hết, Trang mới hiểu phần nào lời mẹ nói. “Cuộc đời phụ nữ buồn nhiều hơn vui con ạ, nhưng nhiều lúc đấy cũng là hạnh phúc”. Trang đã lý giải hạnh phúc của cô Thao theo cách hiểu của mình. Nhưng chiều nay, vẻ mặt buồn của chị Len đã trôi về nơi nào, nơi ấy chị chẳng biết có hạnh phúc không. Trang không muốn nghĩ nữa, lòng Trang cũng thấy rối bời. Chẳng hiểu sao hình ảnh con mèo bị vứt đi lại hiện ra, mắt nó biến thành đôi mắt chị Len.

Trang không bàn về lỗi lầm của chị Len vì Trang nghĩ chắc chị khổ. Nhưng ai hiểu nỗi khổ ấy của chị nhỉ? Giờ thì người ta còn bàn tán nhiều. Những đứa con chị liệu có biết thương mẹ mình không? Trang đi theo vệt nắng đã sắp tắt cuối chiều oi ả trên chiếc xe máy cũ đến nhà chị Len hỏi thăm. Dòng người trên đường nhoè đi. Mà sao lá trút nhiều thế nhỉ? Tiếng ve oi bức và run rẩy như biết mình vừa chứng kiến sự ra đi của một con người. Sao người ta lại cứ phải chết đau đớn thế? Sao người hiền lành như chị Len lại có kết cục như vậy?  Cô bạn cùng ăn cơm bụi nhắn rằng mai tìm chỗ khác mà ăn cơm, chị Tần bị tai nạn giao thông không biết có qua khỏi. Lại thế nữa ư? Hoá ra, con người ta chẳng là gì trong thế giới mênh mông. Cuộc sống của Trang cũng thành ra liên quan đến nhiều người khác. Tìm chỗ ăn cơm không quan trọng, mà tìm đâu ra chỗ để ăn cơm mà nhìn lại đựoc mình.

Nắng, gió dường như thấu hiểu mọi lẽ. Nhưng nó cũng chỉ lặng im thôi. Trang cũng thế. Im lặng mà thương những mong manh.

 

Bà Muối (truyện ngắn của Mai Phương)

April 13, 2012 Leave a comment

Cái nhà cũ kêu rọt rẹt trước mỗi trận gió bấc cuồng nộ. Mấy ngày nay, trời bỗng gió rét khác thường. Đồi núi, rừng cây và cả những cánh đồng khô nứt nẻ chừng như lặng câm mặc gió hoành hành. Cái lạnh tê tái hơn những mùa đông khác. Bà Muối ngồi trong căn bếp hẹp lộn xộn, đồ đạc đen kít bồ hóng vừa sưởi vừa cời than nướng mấy con ốc nhồi.

Con cú mèo thằng Máy bắt được trong Khe Táy đem về nuôi đã quen với cảnh sinh hoạt của con người. Nó đậu trên búi cỏ khô xó bếp mắt thao láo nhìn bà lão. Thi thoảng nó lại “chẹp chẹp”, “ríc ríc” một hồi. Chắc nó làm thế cho bà Muối đỡ cô đơn. Ngày nào bà chẳng ngồi trong  căn bếp này từ sáng đến trưa, từ chiều đến tối. Con cháu bà người thì đi làm ruộng, đứa thì đi học xa hết cả, làm gì có ai trò chuyện với bà cho được. Mà bà cũng không thích nói chuyện với đám cháu chắt của mình. Chúng suốt ngày bàn đến mua điện thoại đời mới, quần áo mốt này mốt khác, nên làm tóc xoăn hay tóc thẳng. Làm gì có đứa nào biết được bà đang rất buồn, rất nhớ cái làng Cống xa xưa của mình với những nóc nhà yên ấm. Bà nhớ người bạn đi cấy rất thân của mình tên Nụ hát hay, răng đen nhưng nhức mà đời thì bạc bẽo. Bây giờ, bà ngồi ăn cùng con cháu bên mâm cỗ đầy trong căn nhà sang trọng bỗng lại thấy xa lạ và tủi tủi thế nào ấy.

Làng Cống từ ngày có con đường nhựa liên huyện chạy qua đã hoàn toàn đổi khác. Đất ruộng vườn làm đường được đền bù khá nhiều tiền. Người làng chen nhau ra ở sát mép đường, đua nhau đập mấy gian nhà ngói cũ kỹ của cha ông đi để xây nhà ống cho hiện đại. Tiếng là nhà có bếp nhưng không ấm vì đun bằng thứ lửa xanh lét. Bà sợ mùi ga. Ông Đình con trai cả của bà cũng xây một cái nhà to uỵch như thế. Con cháu bà định phá bếp cũ đi xây cái nhà tắm nóng lạnh nhưng bà không đồng ý. Bà bảo, nếu muốn bà sống hãy để lại căn bếp ấy. Và đó là lý do tại sao mà còn cái bếp đầy bồ hóng dưới gốc mít bên ngôi nhà láng coóng mới xây. Xó bếp lỉnh kỉnh đủ thứ, nào khoai lang, bí đỏ, cà chua, hành tỏi, nào là chum đựng đậu đỗ, bu nhốt gà, bao đựng trấu xay…Có cả cái chạn bát bằng tre bóng lên màu cánh gián đêm đêm rúc rích chuột. Bà Muối chít khăn nhung đen, mặc quần lụa ta, áo bông, đi đôi tông cổ lỗ ngồi bó gối trong không gian ấy thật hợp lý.

– Bà ơi, mẹ cháu đâu ạ? – Tiếng cái Lý, cháu nội của bà gọi vống lên.
– Bà không biết. Có việc gì? Bà Muối bình thản quay mặt nhìn ra.
– Chú Cầu bị tai nạn rồi, cháu tìm mẹ lấy tiền mang ra thị trấn.
Bà Muối giật mình hoảng hốt làm rơi cả con ốc đang xèo xèo nước trên tay:
– Tai nạn gì? Nó mới đi làm ba hôm nay chứ mấy?
– Ôi giời, tai nạn  thì mấy, bà thật lẩm cẩm, chú ấy bị ngã giàn giáo gãy chân rồi.
– Trời đất ơi, con ơi là con- Bà khẽ rên lên rồi nói:
– Đây, tiền đây, cầm tạm đi, mẹ mày lên xã nộp sổ đỏ vay mượn gì đó rồi.

Bà Muối lần trong thắt lưng, dễ chừng cũng đến cả xấp tiền, rất nhiều giấy 10 ngàn đồng, chắc là tiền mừng tuổi của con cháu nhân dịp Tết. Cái Lý cầm vội nắm tiền rồi lên xe vù đi, quên cả chào bà. Lòng bà Muối như có ai kéo rào đi qua.

Bà góa chồng từ khi 30 tuổi, mấy chục năm nay nuôi 5 đứa con Đình, Cầu, Tự, May, Mắn. Cái làng Cống xưa kia rừng rậm rạp nay chỉ còn leo pheo ít bụi hóp sát bờ sông. Khu đất hoang rìa làng ngày trước chỉ để cho trẻ con buộc trâu bò và chơi trò đánh khăng đánh đáo nay biến thành san sát nhà tầng. Làng thay đổi nhanh chưa từng thấy trong cơn lốc kinh tế thị trường. Bà còn nhớ những năm bao cấp, tháng ba ngày tám phải đào củ chuối về nấu ăn thay cơm, chẳng bù cho lũ cháu chắt bà bây giờ không thèm ăn cơm trắng, chúng đòi ăn những thứ gỉ, thứ gì đó cơ. Bà quanh quẩn trong mấy gian bếp chẳng muốn đi đâu. Những ngôi nhà lát gạch men phải bỏ dép ở ngoài bà thấy khó chịu.  Cái bồn rửa mặt bé tẹo sao bằng múc nước dưới giếng lên rồi ào ào vỗ vào mặt cơ chứ.  Bà lẩn mẩn nghĩ đến chuyện sao con trai bà bị tai nạn được. “Thằng Cầu số lận đận”- bà lẩm bẩm thế. Chú Cầu quanh năm đi phu hồ theo đám thợ xây trong làng. Ruộng ngày càng hẹp, còn độ một sào rau thì vợ chú quanh quẩn làm. Chú Cầu và bao nhiêu trai tráng thành người nhàn rỗi, đành kéo nhau đi làm ăn xa. Nghe nói, giờ chú đi nấu ăn cho thợ, không biết trèo lên giàn giáo làm gì mà ngã. Thằng Quán con trai chú mới mười lăm, mười sáu đã phải đi làm thuê kiếm tiền cho cái Giang đi học. Năm ngoái nó về mang theo cái ngón tay băng lù lù. Thì ra nó bị máy xén gỗ nghiến mất một ngón tay khi đang làm công. Sự kiếm tiền trở thành quá ư mệt nhọc và lam lũ, không phải như người làng Cống xưa chỉ việc trồng rau cấy lúa mang bán là xong. Chú Tự là người được học hành trong nhà nên đi  thoát ly làm công nhân ở mãi Hải Phòng thi thoảng mới về. Chú cũng bật cười khăng khắc trước ngôi bếp của bà Muối. Thằng Máy con trai chú Đình vừa lấy vợ và mở cái quán bé xíu rìa làng bán mấy thứ cà muối, tương, mắm, lòng lợn, măng chua… Chiều nào cũng khối người mua mấy thứ đó. Xem ra, hàng rẻ tiền muôn đời  được người ta chuộng. Chú Mắn đang nuôi giấc mơ làm giàu ở xứ người. Cả nhà đang dồn tiền và vay mượn lấy vài trăm triệu cho chú đi Hàn Quốc. Bà Muối phấp phỏng không ngủ được khi thấy các con cháu tối tối rì rầm bàn tính. Nhưng bà biết gì mà tham gia. “Bà già rồi cứ ngồi im đấy cho con nhờ”- chú Cầu lại gắt lên như thế. Bà ỉu xìu quay về căn bếp riêng tư nướng ốc ăn cho qua ngày. Hóa ra, bà thành người thừa thãi trong cuộc sống của con cháu mất rồi. Nhiều người cho rằng bà dở người, nhà cao cửa rộng chẳng ở lại cứ thích ngồi suốt ngày ở xó bếp cũ kỹ. Nhưng với bà thì khác.

Ở đó là một thế giới riêng tư thuộc về bà, nơi để mấy cái nơm kia đã từng là nơi bà lót ổ rơm cho chồng bà ngủ. Ngày ấy làm gì có điện, chỉ biết đến ánh trăng. Bà và bà Nụ hay đi xem hát chèo bên kia cánh đồng làng. Nụ trốn mẹ để đóng vai Thị Màu lẳng lơ trong vở chèo làng bên về bị mẹ đánh cho một trận nhớ đời. Rồi Nụ đâm ra yêu thầm con trai ông chủ gánh chèo.  Nụ đã trốn làng ra đi vào một đêm mờ mờ trăng suông. Bà Muối can ngăn không được bèn lẻn đi giấu giếm cho Nụ mấy đồng hào lẻ và quay về. Trên đường về, bà đã gặp chồng bà sau này- người đàn ông vâm váp chuyên đi cày thuê cho cả làng. Bà lấy chồng sau một đêm ngủ quên trong ổ rơm nơi góc bếp bên hơi ấm người đàn  ông lạ lẫm khi bố mẹ vắng nhà. Sau đận ấy, bố mẹ bà hầu như không lấy gì của chồng bà ngoài cái nhìn đe nẹt: “Chúng mày liệu mà sống”…

Bà còn nhớ ngày lúa làm đòng phơi phới tháng ba, cả làng hong hóng đợi đêm hát chèo diễn ở sân đình. Bà mong thầm, nhỡ đâu may ra gặp Nụ. Mà gặp thật, Nụ không xuất hiện trong gánh hát mà tất tả tay nải bên vai cùng cái bụng kềnh càng lội tắt qua đầm lầy về phía nhà bà Muối. Không kịp nói gì, Nụ đổ gục bên đống rơm và khóc nức nở. Thì ra, cuộc sống không ngọt ngào như tiếng hát đêm đêm trên sân khấu. Chàng trai con ông chủ gánh chèo đã chán Nụ rồi, khi mà cô thôn nữ mang thai lếch thếch theo đoàn chỉ để nấu cơm. Nụ bất chấp mọi tủi hổ trở về. Bà Muối còn nhớ trận đòn kinh thiên động địa cha Nụ đã dành cho Nụ. Rồi bao nhiêu lời đàm tiếu xì xèo của người  làng. Nụ sinh con và sống trong căn nhà vốn là cái chuồng lợn cũ. Hầu như gã đàn ông rỗi hơi nào đi qua nhà cũng buông lời chọc ghẹo Nụ. Thằng Được lớn lên buồn thiu cùng những lời đồn thổi về mẹ. Trưa ấy nắng lắm. Nụ tóc tai rũ rượi ngồi ở sân điếm, nửa khóc nửa cười như người lên cơn dại. Xung quanh, người làng xúm đen xúm đỏ. “Trả con cho tôi!”…Tiếng Nụ gào khóc xé lòng. Thì ra thằng Được ở nhà đun cám lợn bị một người đàn ông đến xưng là bố đón đi. Ai đến gần đều bị Nụ cầm nắm rạ ném vào mặt. Bà Muối ngồi lặng lẽ nhìn căn nhà Nụ xiêu vẹo mà xót xa như chính mình bị người ta lừa gạt vậy. Đến đêm thì người ta không thấy Nụ đâu nữa. Bà Muối thức giấc và hình như thấy có bóng người vụt qua cái cổng làng, xiêu vẹo đi trong ánh trăng. Ai như là Nụ? Bóng người đàn bà mờ ảo như ánh trăng tan ra trên đê rồi mất hút phía sau con sông già nua. Nụ biệt tăm tích từ ngày ấy…

Bà Muối thở hổn hển khi kéo cái nồi đồng cũ trong xó bếp ra, bà định bán cho con bé đồng nát. Từ ngày làng đổi mới, phố xóm chẳng có mấy ngày không có tiếng rao “ai đồng, nhôm sắt vụn bán đê…”. Mấy thằng choai choai không có việc làm tụ tập ở quán nước đầu làng tán gẫu, đánh đề và làm đủ trò chướng mắt. Tự dưng mọc lên cái quán Karaoke thư giãn ngay lối vào làng làm cho không khí trong làng lúc nào cũng ì xèo. Cãi vã, chửi bới có cả, đánh ghen, tranh giành khách có cả. Bà Muối sợ đám thanh niên ấy trộm mất cái nồi đồng nên mang ra để bán. Bà đưa tay sờ vòng quanh miệng nồi vẻ tiếc rẻ, xa xót lắm. “Bây giờ làm gì có ai dùng đến cái nồi ấy mà bà giữ làm gì?”. Đứa cháu dâu ngay bên hàng xóm nói vậy. Bà Muối giật mình. Bà cũng đâm ra nghi ngại chính mình, chẳng lẽ người ta đúng, cái gì xưa cũ đều lạc hậu, cái mới đều tốt cả? Bà không nghĩ thế, chính đám con cháu luôn cho bà là lỗi thời, là không nhìn ra thời cuộc mới là đám người nông nổi. Có ông cán bộ xã vào đưa cho mẫu tờ khai đi xuất khẩu lao động. Bà Muối cầm giấu tiệt đi. Mẹ con Lý từ bệnh viện trở về thì bà Muối cũng sửa soạn xong đồ đạc, tư trang. Bà gọi con dâu vào dặn: “Đi gọi thằng Mắn về cho u, không đi nước ngoài nữa, đưa tao lên thăm thằng Cầu”. Cả nhà không ai đồng ý, nhưng bà Muối găng lên, cái Lý đành đèo bà đi. Mấy hôm nay bà Muối có điều gì băn khoăn, nhấp nhổm, không bình thường. Sau khi từ bệnh viện trở về, bà Muối dặn con dâu không được bán mấy cái ruộng phần trăm cuối làng cho người khác, nếu bán, bà sẽ chết, để đấy rồi có việc. Ăn cơm xong bà gọi vợ chồng chú Đình lại rồi khép cửa, dáng điệu khác lạ. Bà lôi ra từ xó bếp một cái lọ thuỷ tinh cũ, đổ ra cả một nắm vàng ta. Chao ôi, cả vợ chồng chú Đình sững người. Bà Muối vuốt thẳng mảnh giấy nhàu nát trong lọ đưa cho ông Đình cùng một số vàng và dặn: “Ba ngày nữa không thấy ta về thì bố con Lý xuống tìm theo địa chỉ này. Thằng Được bao nhiêu năm không biết đến tình mẹ con, thấy bảo nó đã tìm được mẹ”. Chú Đình ớ người, thì ra, mọi đêm bà tỉ mẩn nghe đài, bắt con Lý ghi ghi chép chép khi chương trình “tìm người thân” phát đi. Bà Muối đã nghĩ quá nhiều trong những năm tháng làng đổi thay thành phố. Bà lo lắng cho tương lai đám cháu bà. Lo mất đi cái làng Cống cổ xưa. Và trên hết là tình thương với Nụ, với thằng Được côi cút nơi nào. Cuộc họp gia đình diễn ra chóng vánh, chú Đình vội vã nghe theo…

Bấy nhiêu mùa đông trong căn bếp cũ, bà Muối vẫn định đi tìm cậu con trai thơ bé của bà Nụ, tìm người bạn thời con gái dại dột thuở nào. Lần này, bà Muối quyết định ra đi, bởi bà biết chắc chắn, nơi bà đến, mọi đau khổ đã qua. Rõ ràng là đã muộn để rời bỏ những kìm kẹp cổ lỗ để đi tìm thằng Được. Nhưng muộn vẫn hơn không, bởi bà rất tin vào thuyết nhân duyên của Phật. Nếu có cơ duyên, bà sẽ mang được nó về lại ngôi làng của mẹ nó xưa kia. Nhưng mang nó về để rồi nó sẽ làm gì trong cái làng Cống ngày càng thay đổi thì bà không nghĩ được. Nhưng ít nhất bà Nụ có thể sống cùng bà, làm lụng trên đám ruộng cha ông, và sẽ được chết nơi đã sinh ra. Bà quyết định rời bỏ cái bếp cũ để đi.

 Và mới tơ mơ sáng một ngày đầu tháng trong sương lạnh, đã có người nhìn thấy bà tay nải gió đưa… Lạ một điều, ngay hôm sau bà đi vắng, đám con cháu bà đã họp lại kiểm điểm nhau, xem chừng đã ngẫm nghĩ những lời bà nói.

Mai Phương

Sông Thương – Về thăm mẹ

April 11, 2012 Leave a comment

Sông Thương

Nguyễn Quốc Vương

 

Sông Thương bây giờ cạn đến đớn đau

Buồm nâu chỉ còn trôi trong ký ức

Không xóa được hết

Kỉ niệm làm ta buồn

Khát vọng làm ta hàng đêm mất ngủ

 

Quê nhà 18/3/2012

 

Về  Thăm Mẹ

 

Lại nằm nghe tiếng ếch kêu

Lại nghe trên mái mưa đều đều  rơi

Thời gian như chớp mắt trôi

Mẹ giờ tóc bạc da mồi đợi con

 

Quê nhà 18/3/2012.

Categories: Thơ Tags: , ,
%d bloggers like this: