Archive

Posts Tagged ‘sách giáo khoa kiểm định’

Muốn có “cải cách giáo dục từ dưới lên”, cần phải có các “thực tiễn giáo dục”

January 21, 2015 Leave a comment

Cũng giống như các cuộc cách mạng nhằm cải tạo xã hội, cải cách giáo dục khi nhìn nhận dưới góc độ lịch sử có thể được chia làm hai loại: “Cải cách giáo dục từ trên xuống” và “Cải cách giáo dục từ dưới lên”. “Cải cách giáo dục từ trên xuống” được hiểu là cuộc cải cách xuất phát từ phía nhà nước- các cơ quan quản lý giáo dục đứng đầu là Bộ giáo dục và đào tạo. Cuộc cải cách này được tiến hành thông qua các chính sách và chỉ đạo có tính chất hành chính, bắt buộc. Trái lại, “cải cách giáo dục từ dưới lên” đúng như tên gọi của nó được tiến hành bởi các giáo viên ở các trường học. Cuộc cải cách giáo dục phong phú và linh hoạt này được tiến hành chủ yếu bằng các “thực tiễn giáo dục”.

Một "thực tiễn giáo dục" được tổng hợp lại của cô Kawasaki Kayoko

Một “thực tiễn giáo dục” được tổng hợp lại của cô Kawasaki Kayoko

“Thực tiễn giáo dục” là gì?

Có thể hiểu một cách đơn giản rằng “thực tiễn giáo dục” là tất cả những gì người giáo viên thiết kế, tiến hành và thu được ở hiện trường giáo dục. Các “thực tiễn giáo dục” này là kết quả nghiên cứu chuyên môn tâm huyết, tự chủ và sáng tạo của các giáo viên trên cơ sở nghiên cứu mục tiêu giáo dục, chương trình khung, SGK, tình hình thực tế của nhà trường, học sinh. “Thực tiễn giáo dục” có thể không hoàn toàn trùng khớp hay chỉ là sự minh họa, diễn giải những gì được trình bày trong SGK. Nói một cách ngắn gọn nó là sản phẩm của sự sáng tạo mang đậm dấu ấn của người giáo viên, của ngôi trường họ đang dạy học. Chính vì vậy “thực tiễn giáo dục” thường được gọi bằng cái tên gắn liền với ngôi trường hoặc người giáo viên sáng tạo ra nó. “Thực tiễn giáo dục”  nói tới ở đây có thể là những gì người giáo viên tiến hành trong một khoảng thời gian ngắn như một vài tiết học khi thực hiện một chủ đề học tập, trong một học kỳ, một năm học hoặc cũng có thể là cả quãng đời dạy học.

IMG_1336

Vai trò của “thực tiễn giáo dục”

Có thể coi “thực tiễn giáo dục” là một con đường đi giữa những chỉ đạo về nội dung và phương pháp giáo dục của cơ quan hành chính giáo dục và tình hình thực tế trường học nhằm đi đến cái đích là “mục tiêu giáo dục”. Đây là nơi thể hiện tài năng nghề nghiệp của người giáo viên. Khi thiết kế và thực thi “thực tiễn giáo dục”, người giáo viên  phải xử lý một cách khéo léo nhất  mối quan hệ giữa chương trình, SGK, mục tiêu giáo dục, yêu cầu thực tế của xã hội, nguyện vọng của phụ huynh, nhu cầu truy tìm chân lý nội tại của học sinh và tình hình thực tế của nhà trường, địa phương.

Bằng việc thiết kế và thực hiện các “thực tiễn giáo dục” có tính độc lập tương đối và mang tính sáng tạo cao, những người giáo viên sẽ tạo ra sự thay đổi thích cực ở ngay hiện trường giáo dục. Hàng ngàn, hàng vạn “thực tiễn giáo dục” như vậy khi hợp lại với hiệu quả cộng hưởng sẽ làm nên cuộc “cải cách giáo dục từ dưới lên”. Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng, các cuộc “cải cách giáo dục từ trên xuống” cho dù ban đầu có quy mô đến bao nhiêu đi nữa thì về sau nó cũng dần dần nguội lạnh. Vì vậy, các cuộc “cải cách giáo dục từ dưới lên” với vô vàn các “thực tiễn giáo dục” vừa có tác dụng thúc đẩy, duy trì vừa có tác dụng điều chỉnh cuộc “cải cách giáo dục từ trên xuống”. Nói cách khác, trong cuộc cải cách giáo dục, người giáo viên sẽ không phải chỉ đóng vai trò gống như một người thợ, một người thừa hành thuần túy mà họ, bằng lao động nghề nghiệp giàu tính chủ động, sáng tạo, thấm đẫm tinh thần tự do sẽ dẫn dắt giáo dục đi đúng hướng và thực hiện mục tiêu giáo dục.

Ở phạm vi hẹp hơn, các “thực tiễn giáo dục” còn tạo cơ hội cho các giáo viên trong trường học và các đồng nghiệp xa gần có dịp trao đổi chuyên môn thực sự. “Thực tiễn giáo dục” được ghi chép, tổng kết lại cũng sẽ là những tư liệu quý phục vụ công tác nghiên cứu.

IMG_1337

Các cảm tưởng, ý kiến học sinh trong “thực tiễn giáo dục”

“Thực tiễn giáo dục” được ghi lại như thế nào?

Tiến hành các “thực tiễn giáo dục” là công việc thường xuyên của giáo viên. Đó là sự tìm tòi và sáng tạo không ngừng. Tuy nhiên, công việc của giáo viên không chỉ dừng lại ở việc thiết kế và tiến hành các “thực tiễn giáo dục”. Giáo viên cần phải ghi lại, tổng kết các “thực tiễn giáo dục” của bản thân và công bố chúng.

Thông thường, một “thực tiễn giáo dục” ở quy mô nhỏ (thường là một chủ đề học tập với dung lượng 3-7 tiết học) được ghi lại với cấu trúc sau:

+ Tên “thực tiễn giáo dục”: Có thể trùng với tên của chủ đề học tập hoặc tên riêng thể hiện mục tiêu, phương châm giáo dục của giáo viên.

+ Thời gian-địa điểm: Ghi rõ ràng, chính xác thời gian bắt đầu, kết thúc, địa điểm tiến hành thực tiễn (trường, địa phương, lớp)

+ Đối tượng: Học sinh lớp mấy, số lượng, đặc điểm học sinh.

+ “Giáo tài”: Tài liệu dùng để giảng dạy và “chuyển hóa” nội dung giáo dục thành nội dung học tập của học sinh.

+ Mục tiêu của “thực tiễn” (chủ đề học tập): Về tri thức (hiểu biết), kĩ năng, mối quan tâm, hứng thú, thái độ….

+ Kế hoạch chỉ đạo (giáo án): Bao gồm các chỉ đạo cụ thể của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh.

+ Quá trình thực hiện: Ghi lại khách quan, trung thực và đầy đủ tối đa về diễn tiến của thực tiễn trong thực tế, chú trọng các phát ngôn và hành động của giáo viên và học sinh.

+ Hồ sơ giờ học:  Tập hợp các cảm tưởng, bài viết, bài kiểm tra, ghi chép của học sinh, sản phẩm của học sinh tạo ra trong thực tiễn…

+ Tổng kết thực tiễn:  giáo viên tự đánh giá về thực tiễn trong tham chiếu với mục tiêu đặt ra và những điểm  cần lưu ý rút ra cho bản thân.

+ Phụ lục:  Tài liệu sử dụng hoặc liên quan đến thực tiễn

Các thực tiễn giáo dục khi đã được “văn bản hóa” như trên có thể được trao đổi thông qua các buổi thuyết trình, thảo luận chuyên môn hoặc công bố trên các tập san, tạp chí. Gần đây với sự trợ giúp của các phương tiện kỹ thuật số giáo viên có thể ghi lại “thực tiễn giáo dục” bằng hình ảnh. Các thực tiễn này cũng sẽ là dữ liệu quý cho các sinh viên, nhà nghiên cứu tiến hành khảo sát, nghiên cứu.

Cơ hội “tiến hành các thực tiễn giáo dục ở Việt Nam

Thành thật mà nói, ở Việt Nam do nhiều yếu tố trong đó có sự tồn tại quá lâu của cơ chế “SGK quốc định” (một chương trình-một sách giáo khoa), các “thực tiễn giáo dục” với ý nghĩa như vừa phân tích ở trên gần như không tồn tại. Sự giống nhau từ nội dung, phương pháp đến tài liệu giảng dạy, ngày giờ tiến hành của các bài học trên cả nước là biểu hiện cụ thể cho hiện thực đó. Nhận thức của giáo viên về “thực tiễn giáo dục” và vai trò chủ động, sáng tạo khi tiến hành các “thực tiễn giáo dục” cũng là một vấn đề đang đặt ra.

Tuy nhiên, bằng việc chấp nhận cơ chế “một chương trình-nhiều sách giáo khoa” trong cuộc cải cách giáo dục đang tiến hành, Bộ giáo dục và đào tạo đã tạo điều kiện thuận lợi cho các giáo viên tiến hành các “thực tiễn giáo dục”. Đây là “cơ hội vàng” cho các giáo viên ở hiện trường giáo dục thực thi và tổng kết các thực tiễn. Các “thực tiễn giáo dục” sẽ trở thành chủ đề của các buổi sinh hoạt chuyên môn hoặc được công bố trên các tạp chí có liên quan. Các “blog” cá nhân của giáo viên hay trang “web” của các trường phổ thông cũng có thể là nơi công bố các “thực tiễn giáo dục”. Sự phong phú của các “thực tiễn giáo dục” sẽ tạo ra sinh khí cho các trường học và đem đến niềm vui cho cả giáo viên và học sinh. Bằng việc tiến hành hàng ngàn, hàng vạn các “thực tiễn giáo dục” trên cả nước không  ngừng  nghỉ, “cải cách giáo dục từ dưới lên” nhất định sẽ thành công góp phần tạo ra những người công dân mơ ước có tư duy độc lập và tinh thần tự do.

Nhật Bản, 31/12/2014

Nguyễn Quốc Vương

Advertisements

Để cải cách giáo dục “một chương trình-nhiều bộ sách giáo khoa” là cần nhưng chưa đủ.

July 6, 2014 Leave a comment

 

Theo tin từ Đài truyền hình Việt Nam (VTV)[1], chính phủ và Bộ giáo dục đào tạo đã đồng ý thực hiện “một chương trình-nhiều bộ SGK”.  Cho dù trong cuộc phỏng vấn, Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển chưa cho biết lộ trình, thời gian cụ thể thực hiện cơ chế trên nhưng đây thực sự là một tín hiệu tốt, thể hiện sự chuyển biến trong tư duy của phía quản lý giáo dục. Đứng ở góc độ là một giáo viên, tôi ủng hộ quyết định này.

 

“Một chương trình-nhiều bộ SGK” trên thực tế đã được đề cập công khai trên truyền thông Việt Nam từ nhiều năm trước khi các vấn đề trầm trọng của nền giáo dục được đưa ra mổ xẻ. Trên thực tế nhóm “Cánh Buồm” cũng đã và đang tích cực triển khai ý tưởng này bằng việc biên soạn và xuất bản các bộ SGK cụ thể. Có thể nói, “Cánh Buồm” đã tiên phong đón ngọn gió thời đại để hướng ra biển lớn.

 

“Một chương trình-nhiều bộ sách giáo khoa” có thể được  diễn đạt ngắn gọn bằng một thuật ngữ mượn từ tiếng Nhật là “cơ chế  kiểm định SGK”. Bản chất của cơ chế này nằm ở chỗ nó thừa nhận tính tương đối của SGK. Ở đó, SGK chỉ đóng vai trò là một trong những tài liệu tham khảo chủ yếu, quan trọng trong quá trình học tập chứ không phải là duy nhất và tuyệt đối. Những điều viết trong SGK không phải là chân lý tuyệt đối đúng đắn bất di bất dịch và giáo viên chỉ cần thuyết giảng, học sinh chỉ cần ghi nhớ là… xong. Trong cơ chế này, Bộ giáo dục và đào tạo sẽ chỉ đóng vai trò là nơi đưa ra chương trình hướng dẫn, quy chế thực hiện biên soạn, thẩm định, lựa chọn SGK và giám sát việc thực hiện. Việc biên soạn SGK sẽ trở thành quyền tự do của các cá nhân hoặc tập thể tác giả và nhà xuất bản (NXB).

 

Trên thế giới hiện nay tồn tại nhiều cơ chế biên soạn và tuyển chọn sách giáo khoa như: “Quốc định”, “Kiểm định”, “Tự Do”. Ở cơ chế “Quốc định”, nhà nước sẽ nắm quyền biên soạn, phát hành một bộ SGK duy nhất. SGK đó sẽ được sử dụng thống nhất ở tất cả các vùng, miền. Cơ chế “Tự do” rất thịnh hành ở các nước Bắc Âu nơi SGK được xuất bản và lựa chọn giống như vô vàn các cuốn sách thông thường khác. Những nước như Nhật Bản, Trung Quốc… hiện đang thực hiện cơ chế “Kiểm định”.

 

Xét trong lịch sử giáo dục thế giới, chế độ kiểm định SGK thường xuất hiện cùng lúc với quá trình cận đại hóa giáo dục. Nhật Bản đã thực hiện cơ chế này từ thời Minh Trị (1868-1912) và tái thực hiện nó từ năm 1945 sau một thời gian dài gián đoạn bởi chủ nghĩa phát xít. Ở Việt Nam, phải thừa nhận một điều chúng ta không có truyền thống và kinh nghiệm đối với cơ chế này. Nhưng đây là bài toán mà thế giới đã giải xong từ vài chục năm trước nên khi thực hiện chúng ta hoàn toàn sẽ có thể học hỏi và thực hiện. Hơn nữa, cơ chế kiểm định SGK sẽ là một tất yếu không thể tránh nếu muốn cải cách giáo dục. Tuy nhiên, nhìn từ Nhật Bản, tôi muốn nêu ra đây một vài vấn đề cần lưu ý khi thực hiện cơ chế này.

 

Thứ nhất, cần lưu ý và đảm bảo tính minh bạch, công khai, công bằng của toàn bộ quy trình thẩm định và lựa chọn SGK. Bộ giáo dục và đào tạo cần phải có quy chế chặt chẽ đảm bảo không có những tiêu cực dưới dạng “ưu ái” hay “phân biệt đối xử”  đối với các bản thảo đăng kí thẩm định. Các quy định này cần phải được công bố rộng rãi trên phương tiện thông tin đại chúng để giới chuyên môn và nhân dân theo dõi, giám sát. Các nội dung thẩm định, yêu cầu sửa chữa, lý do “đánh trượt”… cần phải được thông báo bằng văn bản đối với NXB và tác giả. Các tác giả và NXB có quyền phản biện, khiếu nại, bảo lưu ý kiến khi không cảm thấy thỏa mãn với quyết định của Hội đồng thẩm định. Các cuốn sách không vượt qua vòng thẩm định có thể xuất bản dưới dạng sách tham khảo hoặc sách phổ biến tri thức thông thường khác.

 

Thứ hai, cần đảm bảo tính liêm chính, công bằng và tiêu chuẩn học thuật của Hội đồng thẩm định. Khi thực hiện cơ chế kiểm định SGK đương nhiên Bộ giáo dục và đào tạo sẽ phải là cơ quan chịu trách nhiệm trước nhân dân trong việc tổ chức Hội đồng thẩm định. Vấn đề đặt ra là Hội đồng thẩm định sẽ gồm những ai? Quyết định cuối cùng đối với bản thảo SGK là quyết định của chủ tịch Hội đồng hay quyết định đó được đưa ra dựa trên kết quả của các lá phiếu độc lập từ mỗi thành viên? Theo kinh nghiệm của nước Nhật, thành viên của Hội đồng cần có sự tham gia của các thành phần như: quan chức quản lý giáo dục, các giáo sư ở các trường đại học, các nhà nghiên cứu độc lập, giáo viên giảng dạy trực tiếp tại trường phổ thông, đại diện hội đoàn xuất bản và truyền thông… Thành viên của Hội đồng phải là những người có uy tín về mặt khoa học và đạo đức học thuật. Hội đồng phải được giám sát chặt chẽ bởi công luận để tránh việc “đi đêm” giữa Hội đồng với phía biên soạn SGK.

 

Thứ ba, cần xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm lựa chọn SGK. Một khi chấp nhận và thực hiện cơ chế kiểm định SGK nói trên thì việc lựa chọn bộ SGK nào trong số các bộ SGK vượt qua vòng thẩm định theo định kì sẽ thuộc về ai? Giáo viên bộ môn, tổ chuyên môn, sở giáo dục và đào tạo hay hiệu trưởng nhà trường? Cần phải có “hàng rào pháp lý” để ngăn chặn sự lựa chọn dựa trên lợi ích phe nhóm thay vì dựa trên chất lượng SGK và mục tiêu giáo dục.

 

Cuối cùng, chúng ta cần phải ghi nhớ rằng trong một cuộc cải cách giáo dục để tạo nên sự thay đổi căn bản, đưa đất nước Việt Nam thoát khỏi tình thế khó khăn có thể nói là nguy nan hiện tại, cơ chế kiểm định SGK là cần thiết  nhưng chưa đủ. Mục đích của cơ chế này là nhắm đến tính tự chủ, sáng tạo của các tác giả viết SGK và quan trọng hơn là sự sáng tạo, chủ động  trong tin thần tự do truy tìm chân lý của giáo viên trực tiếp giảng dạy tại hiện trường giáo dục. Triết lý-mục tiêu-phương châm giáo dục cần phải được minh định để các giáo viên căn cứ vào đó mà sáng tạo. Hình ảnh con người mơ ước, nơi thể hiện tập trung triết lý giáo dục càng rõ ràng và có tính phổ quát sẽ càng tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên. Thêm nữa, cơ chế này sẽ không phát huy được tác dụng hoặc rơi vào “chủ nghĩa hình thức” một khi chương trình do Bộ đưa ra quá chặt chẽ, chi tiết. Nên nhớ rằng bản chương trình hướng dẫn càng ngắn gọn dưới dạng các gợi ý khái quát sẽ càng tạo thuận lợi cho  các tác giả SGK và giáo viên. Các cơ quan và những người nắm giữ vai trò quản lý giáo dục cần phải  công nhận và đảm bảo cho mối quan hệ độc lập tương đối giữa chương trình-SGK và “thực tiễn giáo dục” của giáo viên. Về phía những người giáo viên, nên coi đây là cơ hội lớn để tiến hành các “thực tiễn giáo dục”. Những “thực tiễn giáo dục” phong phú từ hiện trường sẽ tạo nên sức mạnh cộng hưởng tạo nên hàng vạn, hàng triệu cuộc  “cải cách giáo dục từ dưới lên”. Sự tương tác giữa hai dòng chảy cải cách giáo dục “từ trên xuống” và “từ dưới lên” sẽ tạo ra những thay đổi quan trọng và tích cực cho giáo dục Việt Nam.

 

 

Nhật Bản, 22/6/2014

 

Nguyễn Quốc Vương

 

 

 

[1] http://vtv.vn/thoi-su-trong-nuoc/se-co-mot-chuong-trinh-nhieu-bo-sach-giao-khoa/120856.vtv

Giáo dục Việt Nam-nền giáo dục không có “thực tiễn”

May 4, 2014 Leave a comment

Tôi ủng hộ nhiệt liệt tư tưởng “nhiều chương trình nhiều SGK” mà bác Phạm Toàn nêu ra trong bài phỏng vấn trên báo Vietnamnet. Lý do đơn giản nằm ở chỗ thế giới người ta làm như thế cả trừ vài nước có nền giáo dục lẹt đẹt. Nó giống như dân doanh hóa, chấp nhận kinh tế tư nhân trong nền kinh tế. Chỗ nào nhà nước không làm được hoặc làm kém, dân sẽ làm.

Trên thực tế, do Việt Nam thực hiện hành chính giáo dục trung ương tập quyền với một chương trình-một sách giáo khoa theo chế độ “quốc định” nên giáo viên thay vì sáng tạo và tự chủ đã thực hiện răm rắp các chỉ đạo hành chính can thiệp sâu vào nội dung và cách thức tổ chức dạy học. Kết quả, giáo dục Việt Nam là nền giáo dục KHÔNG CÓ THỰC TIỄN.

“Thực tiễn giáo dục” ở đây được hiểu là các mô hình giáo dục sáng tạo, phong phú ở hiện trường của các giáo viên. Vì vậy, trong giáo dục phổ thông ở VN, nếu vinh danh giáo viên người ta chỉ còn cách vinh danh thông qua các danh hiệu “giáo viên giỏi”,”đào tạo được nhiều học sinh đỗ đại học”, “có nhiều học sinh đạt giải quốc gia”…. Tức là giáo viên luôn mang nhiệm vụ truyền đạt tri thức thuần túy mà không có tư tưởng giáo dục!

Những việc của nhóm Cánh Buồm làm trên thực tế là đang tiến hành một “thực tiễn giáo dục”. Nếu có 100 nhóm Cánh Buồm hoặc 30% giáo viên đang giảng dạy nghĩ gần với Cánh Buồm, rất có thể sẽ có một cuộc cách mạng giáo dục từ dưới lên.

Một chút so sánh: SGK tiểu học ở Nhật chỉ tính môn Xã hội đã có 8 nhà xuất bản cùng tổ chức biên soạn, phát hành còn ở VN, ngoài sách của NXB giáo dục dùng trên toàn quốc chỉ có nhóm Cánh Buồm soạn. Nhưng tôi cũng không rõ sách của nhóm CB đã được “phổ cập” đến mức nào. Tâm lý “quốc doanh” là chính thống ở VN xem ra còn rất nặng nề. Một khi tâm lý đó nặng nề, sự tự chủ, tự lập của quốc dân non yếu cũng là dễ hiểu.

NHỮNG BƯỚC ĐI CỦA SÁCH GIÁO KHOA NHẬT BẢN HIỆN ĐẠI – Từ thời Minh Trị đến Hiện đại- (24)

January 2, 2014 Leave a comment

Tác giả: Kimata Kiyohiro

Đại học Shiga, 10/2006

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Bản tóm tắt)

 

 

Chế độ cấp sách giáo khoa miễn phí cho học sinh các trường tiểu học, THCS được thực hiện theo quy định của “Luật về sách giáo khoa miễn phí dành cho các trường giáo dục nghĩa vụ” năm 1962 (năm Showa thứ 37) và “Luật về biện pháp tiến hành cấp miễn phí sách giáo khoa  cho các trường giáo dục nghĩa vụ” năm 1963 (năm Showa thứ 38). Theo kế hoạch lập cho từng năm, từ năm 1963 (từ 1-3 năm) phạm vi cấp phát sách giáo khoa miễn phí đã mở rộng và toàn bộ các trường tiểu học, THCS đã được cấp phát sách giáo khoa miễn phí lần lượt vào các năm 1966, 1969. Chế độ cấp phát sách giáo khoa miễn phí đã được thực hiện trên toàn quốc. Sách giáo khoa được tuyển chọn sẽ được sử dụng trong 3 năm và các công ty sách giáo khoa sẽ tiến hành đăng kí kiểm định 3 năm một lần. Cùng với việc thực thi trên toàn quốc chế độ sách giáo khoa miễn phí, Bộ giáo dục đã tăng cường nghiêm ngặt việc kiểm định sách giáo khoa.

Môn Xã hội trong bản Hướng dẫn học tập trường tiểu học năm 1968 nhấn mạnh “giáo dục năng lực về các nội dung cơ bản của xã hội” và “Tuyển chọn nội dung cơ bản”. Ở lớp 5 đã từ bỏ việc đưa ra la liệt các tri thức trong học tập về sản xuất mà tập trung vào việc làm cho học sinh hiểu được đặc trưng của xã hội công nghiệp. Nó nhắm đến việc hiện đại hóa giáo tài cho tương thích với sự tăng trưởng cao của nền kinh tế.

Ở môn Lịch sử của lớp 6 đã cải cách theo hướng làm cho học sinh lý giải thông qua các nhân vật, di sản văn hóa, truyền thuyết, ở Địa lý thì làm cho học sinh lý giải  cuộc sống của con người ở các khu vực trên thế giới trong các điều kiện khí hậu mang đặc trưng riêng. Trong học tập lịch sử,  bằng hình thức học tập thông sử từ thời nguyên thủy, cổ đại đến cận đại, hiện đại, trong học tập địa lý thì dựa trên việc học tập địa chí theo từng khu vực mà làm cho học sinh học tập một cách có tổ chức hệ thống tri thức cơ bản.

Sách giáo khoa môn Xã hội vượt qua kì kiểm định được biên soạn cho năm 1971 đã đưa ra 3 điểm về phương châm biên soạn:

1. Không nghiêng về lập trường và chú ý cẩn thận tới các nội dung cơ bản một cách có hệ thống.

2. Chỉnh lý và cô đọng các khái niệm xã hội.

3. Không quyết định phương pháp học tập nhằm tạo nên chương trình tương ứng với địa phương.

(còn tiếp)

NHỮNG BƯỚC ĐI CỦA SÁCH GIÁO KHOA NHẬT BẢN HIỆN ĐẠI – Từ thời Minh Trị đến Hiện đại- (21)

January 1, 2014 Leave a comment

Tác giả: Kimata Kiyohiro

Đại học Shiga, 10/2006

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Bản tóm tắt)

(3) Phát hành sách giáo khoa môn Xã hội của môn giáo khoa mới.

Sách “Kuni no Ayumi” là sách giáo khoa học tập thông sử được biên soạn làm tiền đề để thiết lập môn Lịch sử mới trong trường tiểu học (đương thời là trường Quốc dân). Tuy nhiên, “Kuni no Ayumi” được biên soạn dùng cho trường tiểu học chỉ được sử dụng có một năm ở trường tiểu học và trở thành sách dành cho trường Trung học cơ sở. Đó là do ở tiểu học xuất hiện một môn học mới là sự tổng hợp của các môn Lịch sử, Địa lý, Tu thân.

Từ tháng 8 đến tháng 10 năm 1946, việc thiết lập môn “Xã hội” đã được quyết định bởi các quan chức của GHQ và CIE.

Triết lý của giáo dục sau chiến tranh được xác định bởi “Hiến pháp nước Nhật Bản” có hiệu lực từ ngày 3 tháng 5 năm 1947 (năm Showa thứ 22) và “Luật giáo dục cơ bản” được ban hành vào tháng 3 cùng năm. Đó không phải là kiểu “Sắc lệnh chủ nghĩa” đứng dưới danh nghĩa Thiên hoàng như thời trước chiến tranh mà là “pháp quyền chủ nghĩa” thông qua thảo luận giữa các đại biểu quốc hội do quốc dân bầu ra và dựa trên nền tảng luật pháp để tạo ra nền tảng giáo dục quốc dân. Giáo dục nghĩa vụ 9 năm gồm 6 năm tiểu học và 3 năm THCS được thực thi, nam nữ học chung. Trong cuộc cải cách này, từ tiểu học, THCS tới THPT, với tư cách là môn giáo khoa giáo dục nên những ngời công dân của xã hội dân chủ trong vai trò là người  nắm giữ chủ quyền quốc dân, môn Xã hội đã ra đời. “Hướng dẫn học tập môn Xã hội (I) (Tham khảo) đã được phát hành với tư cách là tài liệu tham khảo dành cho môn Xã hội tiểu học vào tháng 5 năm 1947.

Nói riêng về sách giáo khoa, sự chuyển đổi từ chế độ quốc định sang chế độ kiểm định là một bước chuyển biến lớn. Tuy nhiên, giống như bảng số 3 dưới đây chỉ ra, từ nửa sau những năm 40 đến những năm 50, các sách giáo khoa có thể coi là quốc định do Bộ giáo dục biên soạn thuộc các môn “Quốc ngữ”, “Xã hội”, “Toán học”, “Khoa học” vẫn được phát hành.

Đó là do các công ty tư nhân chưa có đủ tri thức và kinh nghiệm trong việc biên soạn sách giáo khoa chạm chứa đựng triết lý và nội dung giáo dục sau chiến tranh. Tuy nhiên, dần dần các sách giáo khoa do các công ty sách giáo khoa tư nhân đã được biên soạn và phát hành với số lượng lớn. Sách giáo khoa môn học mới-môn Xã hội-do các công ty tư nhân biên soạn phát hành chậm vì vậy các cuốn sách do Bộ giáo dục biên soạn như “Đất đai và con người” (lớp 6), “Trẻ em của thôn làng” (lớp 5), “Chuyến đi của Masao” (lớp 2), “Taro” (lớp 3), “Con người trong quá khứ xa xưa” (lớp 3), “Nhật Bản: quá khứ và hiện tại” (lớp 4), “Con người ở đô thị” (lớp 5), “Khí hậu và cuộc sống” (lớp 6). 8 quyển sách này được lần lượt phát hành và sử dụng rộng rãi. Vào thời kì đầu sau chiến tranh, sách giáo khoa môn Xã hội do Yanagi Kunio biên soạn được xuất bản và các thực tiễn giáo dục môn Xã hội sử dụng dân tục học đã được tiến hành (bảng số 7).

 

Bảng số 3. Sách giáo khoa do Bộ giáo dục biên soạn và sách giáo khoa kiểm định của các công ty tư nhân dành cho tiểu học sau chiến tranh thế giới thứ II (đơn vị: %)

  Năm 1949 Năm 1950 Năm 1951 Năm 1952 Năm 1953
(môn Quốc ngữ)

Bộ giáo dục

Sách kiểm định tư nhân

 

87

13

 

51

49

 

8

92

 

2

98

 

0.5

99.5

(Môn Xã hội)

Bộ giáo dục

Sách kiểm định tư nhân

 

100

0

 

100

0

 

5

95

 

0.4

99.6

 

 

 

0.1

99.9

(môn Toán học)

Bộ giáo dục

Sách kiểm định tư nhân

 

100

0

 

12

88

 

0.1

99.9

 

0

100

 

0

100

(môn Khoa học)

Bộ giáo dục

Sách kiểm định tư nhân

 

100

0

 

 

80

20

 

26

74

 

5

95

 

2

98

(Terasaki Masao, “Giáo dục Nhật Bản cận hiện đại nhìn từ sách giáo khoa”, Tokyo Shoseki, 1999, trang 211)

NHỮNG BƯỚC ĐI CỦA SÁCH GIÁO KHOA NHẬT BẢN HIỆN ĐẠI – Từ thời Minh Trị đến Hiện đại- (6)

December 12, 2013 Leave a comment

Tác giả: Kimata Kiyohiro

Đại học Shiga, 10/2006

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Bản tóm tắt)

II. SÁCH  GIÁO KHOA ĐỊA LÝ

1. Ba quan điểm về giáo dục địa lý và sách giáo khoa đầu thời Minh Trị.

Về sự biến đổi của sách giáo khoa địa lý trước chiến tranh, chúng tôi sẽ xem xét  nội dung với trung tâm là giáo dục địa lý 6 năm ở trường tiểu học.

Giáo dục địa lý của thời Minh Trị tính đến trước khi sách giáo khoa tiểu học bị quốc định hóa năm 1904 (năm Minh Trị thứ 37) chịu sự chi phối của ba quan điểm và các sách giáo khoa được tạo ra là dựa trên từng quan điểm này. Ba quan điểm này là: thứ nhất là giáo dục địa lý theo chủ nghĩa khai hóa-khai sáng-quan điểm địa lý văn minh nhằm hướng người học mở rộng tầm mắt tới các động thái văn minh thế giới; thứ hai là quan điểm giáo dục địa lý nhằm mục đích làm cho người học có được các tri thức thực dụng cần thiết cho cuộc sống hàng ngày; thứ ba là quan điểm giáo dục địa lý dựa trên chủ nghĩa quốc gia nhằm thống nhất ý thức quốc dân trên với nền tảng là quốc sách quốc gia phú cường.

(1) Giáo dục địa lý theo chủ nghĩa khai hóa-khai sáng đầu thời Minh Trị.

Vào những năm đầu thời Minh Trị, giáo dục địa lý ở trường tiểu học chịu ảnh hưởng của quan điểm thứ nhất được coi trọng, đặc biệt nó đặt trọng tâm vào việc dạy địa lý của nhiều nước tức là tri thức địa lý của thế giới. “Địa học độc phương” được đặt ra từ những năm học bậc thấp của trường tiểu học (tương đương với kì hai lớp 2 hiện nay) và “Đại học luân cấu” được đặt ra từ lớp tương đương với kì 2 lớp 3 hiện nay và giáo dục địa lý được diễn ra ở toàn bộ tiểu học bậc thấp cũng như tiểu học bậc cao trong bốn năm. Đây là phương châm của giáo dục địa lý được chỉ ra trong “Học chế” ban hành năm 1872 (năm Minh Trị thứ 5) và năm sau thì nó đổi tên thành “Địa lý độc phương” và “Địa lý luân cấu”.

Sách giáo khoa lịch sử được nói đến ở trên là các cuốn “Thế giới quốc tận”  của Fukuzawa Yukichi (1869-năm Minh Trị thứ 2), “Nhập môn địa học”  của Matsuyama Toan (1870-năm Minh Trị thứ 3), “Khái lược về địa lý” của Uchida Masao (1870-năm Minh Trị thứ 3), “Nhật Bản quốc tận” (1872-năm Minh Trị thứ 5). Cuốn “Thế giới quốc tận”-cuốn sách khai sáng hướng đến người dân nói chung của Fukuzawa Yukichi được phát hành vào tháng 8 năm 1869 (năm Minh Trị thứ 2) và trở thành best-seller đương thời đã được sử dụng với tư cách là sách giáo khoa địa lý thế giới trong trường tiểu học. Nội dung cuốn sách gồm: “mở đầu”, “châu Á”, “châu Phi”, “châu Âu”, “Bắc Phi”, “Nam Mĩ”, “châu Đại Dương”, “Tổng luận về địa lý học”. Sau phần khái quát về từng châu,  sách  có phần thuyết minh về từng nước quan trọng. Dưới đây chúng ta hãy thử đọc một phần trong mục “nước Anh”.

nước Anh khi trở thành nước buôn bán phát đạt nhất thế giới đã có thuyền đi đến các nước  với các cảng rất thuận tiện. Gần đây, không chỉ có thuyền hơi nước mà còn có tàu hỏa thứ người Nhật chưa bao giờ  thấy. Nó không dùng ngựa không dùng bò mà chạy duy nhất bằng hơi nước với vận tốc kinh ngạc. Đại thể một giờ nó chạy được khoảng 20 dặm. Chỉ từ trưa đến tối nó có thể chạy hết 53 ga trên tuyến Tokaido”.

Các tri thức về văn vật, phong tục của các nước trên thế giới hay sự giới thiệu về văn minh thế giới thông qua những người đã từng trải nghiệm ở nước ngoài cuối thời Mạc phủ như Fukuzawa hay Uchida đã được dạy cho học sinh tiểu học thông qua các cuốn sách họ viết. Vào thời kì này, bộ giáo dục đã phát hành ba cuốn sách giáo khoa địa lý do trường sư phạm biên soạn. Đó là các cuốn: “Địa lý sơ bộ” (1873-năm Minh Trị thứ 6), “Nhật Bản địa chí lược” (1874-năm Minh Trị thứ 7) (hình 1), “Vạn quốc địa chí lược” (1874-năm Minh Trị thứ 7) (hình 2). Trong số này, “Vạn quốc địa chí lược” hoàn toàn là sách giáo khoa dịch từ cuốn sách về địa lý học của Cornel (Mĩ) Michel (Mĩ), Smiths (Anh).

“Địa lý sơ bộ” là sách giáo khoa về các khái niệm cơ bản, cơ sở của địa lý học như địa cầu, kinh độ-vĩ độ, đại lục, đại dương. “Nhật Bản địa chí lược” như tên gọi của nó là sách giáo khoa địa chí Nhật Bản nội dung gồm sự phân chia khu vực như “Kinai, Tokaido, Tosando, Hokurikudo, Sanindo, Sanyodo, Nankaido, Hokkaido”, “Kinai bát đạo 84 quốc”. Phương thức trần thuật địa lý như trên đã trở thành cơ sở cho sự phân chia khu vực của địa lý Nhật Bản của trường tiểu học trước khi thực thi quốc định. Bằng việc thực hiện sách theo phương thức này của bộ, nội dung của sách giáo khoa địa lý đã được quyết định. Nội dung viết theo địa chí từng nước được tiến hành theo hình thức: “Biên giới quốc gia”, “vị trí”, “tên các quận”, “núi và sông”, “điều kiện tự nhiên” (vịnh, mũi đất, đảo, hồ), các thành phố chủ yếu, tên sản vật…

 

(còn tiếp)

Quy tắc kiểm định sách giáo khoa của Nhật Bản (Quy định của Bộ giáo dục ngày 4/4/1989)

May 28, 2013 Leave a comment

Sau Chiến tranh thế giới thứ 2, Nhật Bản chuyển từ chế độ sách giáo khoa quốc định (cả nước dùng chung một bộ SGK do nhà nước biên soạn, phát hành) sang chế độ sách giáo khoa kiểm định (các nhà xuất bản tư nhân được tham gia biên soạn SGK và đăng kí kiểm định với Bộ giáo dục. Nếu cuốn sách đăng kí được Hội đồng của Bộ duyệt nó sẽ được công nhận là SGK). Dưới đây xin giới thiệu với các bạn toàn văn quy định của Bộ giáo dục Nhật Bản ban hành ngày 4/4/1989 (quy định mới nhất) về thủ tục, quy trình kiểm định sách giáo khoa.

 

Chương 1. Quy tắc chung

Nội dung

Điều 1 Các nội dung cần thiết liên quan đến kiểm định sách giáo khoa được quy định tại khoản 1 điều 34 Luật giáo dục trường học (Điều luật số 26 năm Showa 22) (bao gồm cả trường hợp vận dụng điểu 49, 62, khoản 1 điều 60 của cùng bộ luật này) đều tuân theo quy định của chỉ thị này.

(Sách giáo khoa)

Điều 2 “Sách giáo khoa” trong chỉ thị này chỉ các sách được biên soạn với tư cách là sách giáo khoa dùng cho học sinh ở các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, các trường giáo dục đặc biệt cấp tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông.

(Tiêu chuẩn kiểm định)

Điều 3 Tiêu chuẩn kiểm định  sách giáo khoa tuân theo tiêu chuẩn kiểm định sách giáo khoa do Bộ trưởng Bộ giáo dục công bố.

Chương 2. Thủ tục kiểm định

 (Đăng kí kiểm định)

Điều 4 Tác giả sách giáo khoa hay nhà phát hành có thể đăng kí kiểm định với Bộ trưởng Bộ giáo dục.
2 Danh mục các sách có thể đăng kí kiểm định, năm có thể đăng kí kiểm định và thời hạn đăng kí kiểm định do Bộ trưởng bộ giáo dục công bố.
Điều 5 Người muối tiến hành đăng kí kiểm định như ở mục 1 điều 4 phải gửi Đơn đăng kí kiểm định theo mẫu số 1, sách đăng kí kiểm định và phí kiểm định được quy định tại điều 12 tới Bộ trưởng Bộ giáo dục.
2 Tóm tắt về việc biên soạn sách giáo khoa và số bản để kiểm định ở mục trước do Bộ trưởng Bộ giáo dục quy định.
Điều 6  (lược bỏ)

 (Thẩm tra sách giáo khoa đăng kí kiểm định)

Điều 7 Bộ trưởng Bộ giáo dục sẽ quyết định việc kiểm định, quyết định sách đó đủ hay  không đủ tư cách là sách giáo khoa và gửi thông báo tới người đăng ký. Tuy nhiên đối với trường hợp được tái kiểm định sau khi sửa chữa cần thiết thì Bộ trưởng bảo lưu quyết định và chuyển tới người đăng kí ý kiến kiểm định.

 (Thông báo trước lý do không đạt và lắng nghe phản biện)

Điều 8 Bộ trưởng Bộ giáo dục khi quyết định sách đăng kí không đạt (trừ quyết định theo quy định tại mục 3 và 4) thì cần phải thông báo trước tới người đăng ký lý do không đạt.
2 Người tiếp nhận thông báo ở mục trên trong vòng 20 ngày kể từ ngày nhận được thông báo có thể đưa ý kiến phản biện theo mẫu số 2  lên Bộ trưởng Bộ giáo dục.
3 Khi không có văn bản ý kiến phản biện ở mục trên, Bộ trưởng Bộ giáo dục sẽ quyết định sách đó là không đạt.
4 Khi có văn bản phản biện ở mục 2, Bộ trưởng Bộ giáo dục sẽ xem xét đưa ra quyết định đạt hay không đạt. Tuy nhiên trong trường hợp sau khi tiến hành sửa chữa cần thiết và tái điều tra thì sẽ ra thông báo ý kiến kiểm định như ở điều trước.

(Đưa ra ý kiến đối với ý kiến kiểm định)

Điều 9 Người tiếp nhận thông báo về ý kiến kiểm định ở điều 7, trong vòng 20 ngày kể từ ngày có thông báo có thể gửi văn bản ý kiến của mình về ý kiến phản biện tới Bộ trưởng Bộ giáo dục theo mẫu số 3.
2 Trong trường hợp nhận được ý kiến ở mục trước bằng văn bản, Bộ trưởng Bộ giáo dục nếu công nhận ý kiến này là là hợp lý thì sẽ hủy  bỏ ý kiến kiểm định trước đó.

 (Điều tra sách giáo khoa đăng ký đã được sửa chữa)

Điều 10 Người tiếp nhận thông báo  về ý kiến kiểm định ở điều 7, trong thời hạn do Bộ trưởng Bộ giáo dục chỉ định, sẽ phải trình lên Bộ trưởng Bộ giáo dục  văn bản sửa chữa theo mẫu số 4 thể hiện nội dung  sách giáo khoa đăng kí kiểm định đã sửa chữa tuân theo ý kiến kiểm định.
2 Bộ trưởng Bộ giáo dục đưa ra quyết định đạt hay không đạt đối với sách đăng kí kiểm định đã tiến hành sửa chữa và thông báo tới người đăng ký.
3 Trong trường hợp không có văn bản thể hiện nội dung sửa chữa đã đề cập ở mục 1 được gửi tới, Bộ trưởng Bộ giáo dục sẽ quyết định sách đó không đạt và thông báo tới người đăng ký.
Điều 11 Trong trường hợp ở  điều 7, mục 4 điều 8, mục 2 điều 9, mục 2, 3 ở điều 10, nhân viên thẩm định sách giáo khoa  sẽ tiến hành  các điều tra  cần thiết dựa trên các  tài liệu đăng tải ý kiến điều tra được đưa ra trong hội nghị thẩm định sách giáo khoa về mặt chuyên môn và các tài liệu khác có liên quan.

 (Tái đăng ký sách giáo khoa không qua kiểm định)

Điều 12 Về sách giáo khoa đăng kí kiểm định đã tiến hành sửa chữa, người tiếp nhận thông báo sách không đạt ở điều 7, mục 2, 3 điều 6, sau khi tiến hành sửa chữa cần thiết trong thời hạn nhất định do Bộ trưởng Bộ giáo dục quy định có thể tái đăng kí kiểm định.

 (Phí kiểm định)

Điều 13 Phí kiểm định theo quy định của Bộ trưởng Bộ giáo dục,  tùy theo sách đăng kí sẽ là : sách tiểu học 270 yên/trang; sách trung học cơ sở 440 yên/trang; sách trung học phổ thông 540 yên/trang. Tuy nhiên số tiền quy định này đối với một cuốn sách khi không đầy 54000 yên sẽ được làm tròn là 54000 yên.
2 Không hoàn trả lại phí kiểm định đã nộp.

Chương 3. Chỉnh sửa sau kiểm định

 (Chỉnh sửa sách giáo khoa sau kiểm định)

Điều 14 Đối với  sách đã trải qua kiểm định, khi phát hiện ra sự sai sót về chữ viết, diễn đạt, thiếu từ, ghi chép sai sự thật hoặc sự sai sót rõ ràng do sự thay đổi về thông tin khách quan thì nhà phát hành sau khi có sự đồng ý của Bộ trưởng Bộ giáo dục sẽ phải tiến hành sửa chữa.
2 Đối với  sách giáo khoa đã qua kiểm định, ngoại trừ ghi chép được quy định ở mục trước, trong quá trình tiến hành học tập nếu phát hiện thấy có chỗ ghi chép nào gây trở ngại, hoặc chỗ nào đó cần sửa chữa về phần ghi chép các sự thực hay sự thay đổi các số liệu thống kê thì nhà phát hành sau khi tiếp nhận sự đồng ý của Bộ trưởng Bộ giáo dục có thể tiến hành sửa chữa ở những chỗ cần thiết.
3 Sự chỉnh sửa về chi chép được quy định ở mục 1 nếu là sự chỉnh sửa có liên quan đến việc sai sót chính tả rõ ràng, thiếu chữ và không có ảnh hưởng đến tính đồng nhất của nội dung hoặc là  sự sửa chữa có liên quan đến sự thay đổi về ghi chép số liệu thống kê và không làm mất tính đồng nhất của nội dung thì bất chấp quy định của mục 2 trước đó, nhà phát hành có thể tiến hành sửa chữa khi đề đạt văn bản sửa chữa tới Bộ trưởng Bộ giáo dục trong thời gian bộ trưởng quy định.
4 Đối với  sách giáo khoa sau khi đã kiểm định, Bộ trưởng Bộ giáo dục khi công nhận sự ghi chép được quy định tại mục 1 và 2 có thể đưa ra khuyến cáo sửa chữa đối với nhà phát hành.

 (Thủ tục chỉnh sửa sách giáo khoa đã kiểm định)

Điều 15 Những người có được sự đồng ý ở mục 1 hoặc mục 2 điều 14 sẽ phải gửi tới Bộ trưởng Bộ giáo dục văn bản sửa chữa theo mẫu số 5 và một bộ sách giáo khoa đã sửa chữa.
2 Những người đưa ra kiến nghị như ở mục 3 của điều 14 sẽ gửi đến Bộ trưởng bộ giáo dục văn bản theo mẫu số 6.
3 Người đã tiếp nhận sự đồng ý ở mục 1 hoặc 2 ở điều 14 hoặc là người đã tiến hành sửa chữa như ở mục 3 của điều 14, khi đã hoàn thành việc cung cấp sách giao khoa rồi thì cần nhanh chóng thông báo nội dung đã sửa chữa thích hợp tới hiệu trưởng các trường đang sử dụng sách giáo khoa.

Chương 4. Quy định bổ sung

 (về công bố hoàn thành kiểm định)

Điều 16 Đối với sách đã hoàn thành kiểm định thì ngoài bìa phải có dòng chữ “Sách đã được Bộ giáo dục kiểm định”, bìa cũng phải ghi rõ loại trường sử dụng sách này, tên sách và bên trong bìa phải ghi ngày tháng năm kiểm định.

(Nộp bản mẫu)

Điều 17 Người tiếp nhận thông báo quyết định kiểm định theo quy định của điều 7 hoặc mục hai điều 10 trong thời gian Bộ trưởng Bộ giáo dục quy định, sẽ chế tác sách giáo khoa mẫu gửi tới Bộ trưởng Bộ giáo dục với số lượng bộ trưởng yêu cầu kèm theo mẫu văn bản nộp bản mấu số 7.

 (Công khai sách đăng ký kiểm định)

Điều 18 Bộ trưởng Bộ giáo dục sau khi hoàn thành điều tra kiểm định, theo quy định riêng sẽ công khai sách đăng ký kiểm định.

 (Về việc công bố sách giáo khoa hoàn thành kiểm định)

Điều 19 Bộ trưởng Bộ giáo dục đưa ra thông báo trên công báo  về tên các cuốn sách qua kiểm định, đối tượng trường học sử dụng, loại môn học, ngày tháng năm kiểm định, tên tác giả, tên người phát hành và địa chỉ (nếu có pháp nhân thì phải nêu tên, địa chỉ văn phòng, tên người đại diện).
2 Khi thay đổi tên tác giả, tên người phát hành, địa chỉ  (đối với pháp nhân thì khi thay đổi tên, tên người đại diện hoặc địa chỉ văn phòng chính) nhà phát hành phải nhanh chóng chuyển thông báo tới Bộ trưởng Bộ giáo dục.

Nguyễn Quốc Vương dịch

 

http://www.mext.go.jp/a_menu/shotou/kyoukasho/kentei/021201.htm


[1] 4/4/1989

%d bloggers like this: