Archive

Posts Tagged ‘Sách giáo khoa lịch sử’

Chương trình giáo dục lịch sử ở trường tiểu học Nhật Bản

November 3, 2015 Leave a comment

Ở Nhật Bản hiện tại, giáo dục lịch sử có một vị trí quan trọng trong trường phổ thông và được thực hiện ở cả ba cấp từ tiểu học đến trung học phổ thông (THPT). Giáo dục lịch sử ở đây được thực hiện thông qua môn Nghiên cứu xã hội (Xã hội) và môn Lịch sử. Vì vậy trên thực tế ở trường phổ thông Nhật Bản tồn tại hai kiểu giáo dục lịch sử: giáo dục lịch sử trong môn Lịch sử và giáo dục lịch sử trong môn Nghiên cứu xã hội. Để giúp những người soạn chương trình môn Lịch sử nước nhà và công chúng có thêm thông tin tham khảo, ở đây tôi sẽ lần lượt giới thiệu mục tiêu và nội dung chương trình giáo dục lịch sử hiện hành ở cả ba cấp học phổ thông của Nhật Bản.

Từ sau 1945, giáo dục tiểu học ở Nhật kéo dài 6 năm. Trước thập niên 90 của thế kỉ XX, môn Nghiên cứu xã hội có ở cả lớp 1 và lớp 2 tuy nhiên sau đó nó được thay thế bằng môn Đời sống. Trong chương trình hiện nay, giáo dục lịch sử được bắt đầu từ lớp 3 trong môn Nghiên cứu xã hội. Đây là môn học có tính tổng hợp cao, bao hàm trong nó cả lịch sử, địa lý, công dân.

Mục tiêu của môn học này là nhằm “làm cho học sinh có hiểu biết về đời sống xã hội, giáo dục hiểu biết và tình yêu đối với lịch sử và lãnh thổ nước ta, giáo dục nền tảng phẩm chất công dân cần thiết với tư cách là người xây dựng nên quốc gia-xã hội hòa bình dân chủ và sống trong cộng đồng quốc tế”.

Trên cơ sở mục tiêu tổng quát này, bản chương trình (có tên gọi “Hướng dẫn học tập”) xác định mục tiêu và nội dung học tập ở từng khối lớp.

Lớp 3 và lớp 4

  1. Mục tiêu
    (1) Học sinh có hiểu biết về tình hình sản xuất của địa phương và đời sống tiêu dùng cùng các hoạt động nhằm bảo vệ đời sống khỏe mạnh của mọi người, bảo vệ môi trường sống tốt đẹp.

(2) Học sinh có hiểu biết về môi trường địa lý của địa phương, sự biến đổi của đời sống con người và lao động của những người đi trước đã nỗ lực vì sự phát triển của địa phương.

(3) Quan sát, điều tra các hiện tượng xã hội ở địa phương đồng thời sử dụng có hiệu quả bản đồ và các tư liệu cụ thể khác, giáo dục năng lực tư duy, năng lực biểu hiện những gì điều tra được, suy ngẫm về đặc trưng và mối quan hệ qua lại giữa các hiện tượng xã hội của địa phương.

  1. Nội Dung

(1) Quan sát, điều tra về địa hình đặc trưng của thành phố, quận, khu phố, làng, địa phương, tình hình sử dụng đất đai, địa điểm và hoạt động của các cơ sở công cộng chủ yếu, tình hình giao thông, các tòa nhà còn lại từ thời xưa.

(2) Tham quan học tập và điều tra về sản xuất, buôn bán của người dân địa phương và suy ngẫm về công phu sáng tạo của những người làm những công việc đó.

(3) Điều tra, tham quan học tập những nội dung liên quan tới việc đảm bảo nước uống, điện, ga cần thiết cho đời sống người dân địa phương và việc xử lý rác thải, hiểu được rằng những biện pháp và công việc đó có ích cho việc duy trì và nâng cao môi trường sống tốt đẹp và đời sống lành mạnh của người dân địa phương.

(4) Tham quan học tập, điều tra về việc phòng chống tai nạn, thiên tai trong xã hội địa phương, sử dụng các tư liệu điều tra được để suy ngẫm về công phu và nỗ lực của những người làm việc ở các cơ quan bảo vệ sự an toàn của người dân và người dân địa phương.

(5) Tham quan học tập, điều tra về đời sống của người dân địa phương, tóm tắt lại thành niên biểu, suy ngẫm về sự biến đổi của đời sống dân cư, nguyện vọng của con người lao động và nỗi cực nhọc của những người đi trước đã nỗ lực nâng cao đời sống của người dân ở địa phương.

(6) Điều tra về tình hình tỉnh, sử dụng tư liệu đó để tạo ra bản đồ câm, điều tra và suy ngẫm về đặc trưng của các tỉnh: vị trí của thành phố mình đang sống, tên gọi và vị trí của 47 tỉnh, địa hình của tỉnh, khái quát về sản xuất, giao thông của tỉnh, đặc trưng đời sống người dân trong tỉnh, mối quan hệ giữa các tỉnh và với nước ngoài…

Lớp 5

  1. Mục tiêu

(1) Học sinh hiểu biết về lãnh thổ nước ta, mối quan hệ giữa môi trường lãnh thổ và đời sống quốc dân, làm sâu sắc mối quan tâm về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai, giáo dục tình yêu đối với lãnh thổ.

(2) Học sinh có hiểu biết về tình hình sản xuất của nước ta và mối quan hệ giữa sản xuất và đời sống quốc dân, có mối quan tâm tới sự phát triển của sản xuất của nước ta và sự tiến triển của thông tin hóa trong xã hội.

(3) Điều tra cụ thể về các hiện tượng xã hội, đồng thời sử dụng có hiệu quả các tư liệu cơ bản các loại như bản đồ, quả địa cầu, số liệu thống kê, giáo dục năng lực biểu hiện những gì điều tra được, suy ngẫm được và năng lực tư duy về ý nghĩa của các hiện tượng xã hội.

  1. Nội dung

(1) Sử dụng quả địa cầu, bản đồ, tư liệu để điều tra về tình hình tự nhiên của lãnh thổ, mối quan hệ mật thiết giữa môi trường lãnh thổ với sản xuất và đời sống của con người.

(2) Sử dụng bản đồ, quả địa cầu và tư liệu, tiến hành điều tra về nông nghiệp và thủy sản nước ta, suy ngẫm về mối quan hệ sâu sắc giữa việc phát huy vai trò quan trọng đảm bảo thực phẩm của quốc dân và môi trường tự nhiên.

(3) Sử dụng bản đồ, quả địa cầu, tư liệu để điều tra về sản xuất công nghiệp của nước ta, tư duy về vai trò quan trọng của nó đối với đời sống quốc dân.

(4) Sử dụng tư liệu điều tra các nội dung về tình hình xã hội thông tin hóa và ngành công nghệ thông tin của nước ta, tư duy được rằng sự phát triển của thông tin hóa có ảnh hưởng lớn đến đời sống quốc dân và việc sử dụng hiệu quả thông tin rất quan trọng.

Lớp 6

  1. Mục tiêu

(1) Học sinh có mối quan tâm, hứng thú và sự hiểu biết sâu sắc về sự nghiệp của những người đã có vai trò lớn đối với sự phát triển của quốc gia-xã hội và các di sản văn hóa ưu tú.

(2) Học sinh có hiểu biết về tác dụng của chính trị trong đời sống thường ngày, tư duy chính trị của nước ta, đời sống của các nước có mối quan hệ sâu sắc với nước ta, vai trò của nước ta trong cộng đồng quốc tế, sự tự giác về tầm quan trọng của việc cùng chung sống với mọi người ở các nước khác trên thế giới với tư cách là người Nhật mong ước hòa bình.

(3) Điều tra cụ thể về các hiện tượng xã hội, đồng thời sử dụng một cách hiệu quả các tư liệu cơ bản các loại như bản đồ, quả địa cầu, niêu biểu… giáo dục năng lực biểu hiện những gì điều tra, suy nghĩ được, năng lực tư duy từ tầm nhìn rộng lớn về ý nghĩa của hiện tượng xã hội.

  1. Nội dung

(1) Sử dụng các tư liệu, di sản văn hóa mà trung tâm là các di sản văn hóa tiêu biểu và hoạt động của nhân vật để điều tra về các sự kiện, hiện tượng chủ yếu trong lịch sử nước ta, làm cho học sinh suy ngẫm về ý nghĩa của việc học tập lịch sử đồng thời làm sâu sắc sự hiểu biết và mối quan tâm về bối cảnh lịch sử của đời sống bản thân chúng ta, lịch sử nước ta và vai trò của những người đi trước.

  1. Điều tra về đời sống hái lượm, săn bắt, nông nghiệp và Kofun (mộ cổ), hiểu tình hình thống nhất lãnh thổ do trình đình Yamato tiến hành.
  2. Điều tra về sự tiếp nhận văn hóa đại lục, cải cách Taika, tình hình chế tạo đại tượng phật, đời sống của quý tộc, việc xác lập chính trị với trung tâm là thiên hoàng và sự ra đời văn hóa kiểu Nhật.
  3. Điều tra về trận chiến Genpei, sự ra đời Mạc phủ Kamakura, trận chiến với quân Nguyên, sự ra đời của chính trị do võ sĩ tiến hành.
  4. Điều tra về các công trình kiến trúc tiêu biểu và tranh vẽ ra đời vào khoảng thời gian Mạc phủ được đặt ở Muromachi của Kyoto.
  5. Điều tra về nguồn gốc du nhập của đạo Thiên chúa, việc thống nhất thiên hạ của Oda-Toyotomi, sự ra đời của Mạc phủ Edo, chế độ võ sĩ luân chuyển về Tokyo, thời kì tỏa quốc, thời kì chiến quốc chấm dứt, chế độ phân biệt thân phận xác lập và chính trị do sĩ tiến hành trở nên ổn định.
  6. Điều tra về Kabuki, tranh Phù thế, Quốc học, Lan học, sự ra đời của học thuật mới và sự phồn thịnh của văn hóa thị dân.
  7. Điều tra về sự xuất hiện của Hắc thuyền, Cải cách Minh Trị, văn minh khai hóa, hiểu được rằng bằng việc tiến hành bỏ các phiên lập tỉnh, cải cách tứ dân bình đẳng và đưa vào văn hóa Âu Mĩ, cận đại hóa đã được xúc tiến.
  8. Điều tra về việc công bố Hiến pháp đại đế quốc Nhật Bản, chiến tranh Nhật –Thanh, chiến tranh Nhật-Nga, sự phát triển của khoa học, hiểu được rằng sức mạnh của nước ta tăng lên và địa vị quốc tế được nâng cao.
  9. Điều tra về sự biến Nhật-Hoa, Chiến tranh thế giới thứ hai với sự tham gia của nước ta, việc chế định Hiến pháp nước Nhật Bản, tổ chức Olympic, hiểu được rằng sau chiến tranh thế giới thứ hai nước ta xuất phát với tư cách là quốc gia dân chủ và đời sống quốc dân được nâng cao, đảm nhận vai trò quan trọng trong cộng đồng quốc tế.

(2) Điều tra các nội dung sau liên quan tới vai trò của chính trị của nước ta, sử dụng các tư liệu điều tra được để điều tra, tư duy về việc chính trị có vai trò quan trọng trong việc làm ổn định và nâng cao đời sống quốc dân trong mối quan hệ với chủ quyền quốc dân, và việc chính trị dân chủ của nước ta hiện nay là dựa trên tư duy cơ bản của Hiến pháp nước Nhật Bản.

  1. Vai trò của chính quyền địa phương, chính trị nhà nước được phản ánh trong đời sống quốc dân.
  2. Việc hiến pháp Nhật Bản quy định nền tảng của quốc gia và đời sống quốc dân như lý tưởng của quốc gia, vị trí của thiên hoàng, quyền lợi và nghĩa vụ của quốc dân.

(3) Sử dụng quả địa cầu, bản đồ và tư liệu điều tra được để điều tra về các nội dung sau về vai trò của Nhật Bản trong lòng thế giới, làm cho học sinh tư duy rằng để sống cùng với người dân các nước thì việc hiểu biết lẫn nhau về văn hóa, tập quán rất quan trọng, tầm quan trọng của hòa bình và vai trò  quan trọng của nước ta trên thế giới.

  1. Tình hình đời sống của các nước có mối quan hệ sâu sắc ở phương diện kinh tế và văn hóa với nước ta.
  2. Tình hình giao lưu, hợp tác quốc tế của nước ta và tvai trò của liên hợp quốc trong nỗ lực thực hiện cộng đồng quốc tế hòa bình.

Nhìn vào chương trình giáo dục lịch sử thông qua môn Nghiên cứu xã hội ở cấp tiểu học có thể thấy, mục tiêu cơ bản của nó là nhắm đến giáo dục nên người công dân dân chủ. Nội dung học tập được thiết kế theo nguyên lý “vòng tròn đồng tâm khuếch tán”. Ở đó các nội dung kiến thức được lựa chọn phù hợp với trải nghiệm  và các giai đoạn phát triển của học sinh sẽ mở rộng dần từ gia đình tới khu phố, làng, thành phố, tỉnh, quốc gia và thế giới. Theo đó ở lớp 3 và lớp 4 học sinh học về đời sống sản xuất và xã hội địa phương, lớp 5 học về lãnh thổ và sản xuất nước Nhật, lớp 6 học về lịch sử và chính trị Nhật Bản. Tương ứng với mục tiêu và các nội dung học tập trên là các hoạt động học tập học sinh có vai trò chủ đạo như: học tập điều tra, học tập trải nghiệp, học tập tác nghiệp…

Nhật Bản, tháng 11/2015

Advertisements

“Giọng điệu và cách trần thuật” trong sách giáo khoa lịch sử Việt Nam-Nhật Bản

November 15, 2014 Leave a comment

Ở Việt Nam tính đến thời điểm hiện tại chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về “Giọng điệu và cách trần thuật” trong bài viết của SGK lịch sử.

Thông thường các sách giáo khoa lịch sử do một nhóm khoảng 3-5 người viết. Tuy nhiên khi viết SGK “tác giả”-chủ thể của trần thuật sẽ bị ẩn đi vì vậy thường sẽ không có những câu nhắc đến “tôi” hay “chúng tôi” trong các câu văn.

Các sgk khác cũng tương tự. Ở nước ngoài cũng tương tự.

Tuy nhiên, điểm đáng chú ý là SgK lịch sử (các sgk khác có lẽ cũng tương tự) ở VN chỉ sử dụng duy nhất một cách “trần thuật” với chủ thể trần thuật là tác giả viết SGK, người không tham gia vào sự kiện và đứng ở “lập trường” (vị trí) của người hiện đại nhìn về thời đại đã qua.

Cách trần thuật như vậy tạo ra sự vắng bóng của hình ảnh con người (lịch sử vô nhân xưng)

Trái lại, ở Nhật Bản từ năm 1989 khi bản in màu SGK lịch sử tiểu học xuất hiện, kĩ thuật trần thuật lịch sử “đa giọng điệu” (Multi-voice) được sử dụng.

Ở đó, trong từng trang sách giáo khoa sẽ không chỉ có tác giả của SGK “trần thuật” lại lịch sử ở vị trí của người hiện đại nhìn về quá khứ đã qua mà còn có sự “trần thuật” của người đương thời, sự “trần thuật” của người trải nghiệm sự kiện, “sự trần thuật” của học sinh….

Xin dẫn ra một ví dụ trong SGK Lịch sử lớp 6 (lớp cuối bậc tiểu học), NXB Shoseki,

Chẳng hạn ở phần viết về đời sống của người Nhật xa xưa, ngoài hình vẽ, hiện vật, ảnh chụp di tích và bài viết chính còn có sự xuất hiện các nhân vật học sinh cùng các lời thoại: “Có rất nhiều các đồ gốm lấy ra từ lòng đất được trưng bày đấy! Những đầu mối cho biết về cuộc sống của con người trong quá khứ xa xưa có trong lòng đất nhỉ”; “Tùy theo thời tiết mà thức ăn thay đổi đấy. Vẫn chưa ăn gạo nhỉ”; “Trong chỗ ở phục dựng thật là tối hơn mình nghĩ. Khi đốt lửa lên mắt mình cay xè vì khói”; “Có vẻ như trong các đồ gốm có nhiều vật có hoa văn dây thừng nhỉ. Những thứ này được chế tạo như thế nào nhỉ?”.

Cả hai phương pháp trần thuật trên đều có lợi và hại.

Điều này xin được bàn sau

p/s: Các bạn có thể tham khảo SGK lịch sử lớp 6 Nhật Bản ở đây
https://thonsau.wordpress.com/…/sach-giao-khoa-lich-su-lop-…/

NIÊN BIỂU TÓM TẮT LỊCH SỬ SÁCH GIÁO KHOA NHẬT BẢN THỜI CẬN HIỆN ĐẠI

February 20, 2014 Leave a comment

 

(các nội dung tính đến năm 1872 được tính theo lịch cũ. Con số trong ngoặc đơn là chỉ tháng)

Thời gian Nội dung
1871 (Năm Minh Trị thứ 4) Thành lập Bộ giáo dục (7)
1872 (Năm Minh Trị thứ 5) Mở trường sư phạm ở Tokyo (năm sau đổi tên thành trường sư phạm Tokyo)(5), ra thông cáo về “Oseidasaresho”(5), công bố “Học chế” (8), chế định “tiểu học quy tắc”, “trung học quy tắc” (9)
1873 (Năm Minh Trị thứ 6) David-người Mĩ đến Nhật với tư cách là cố vấn cho Bộ giáo dục (6)
1874 (Năm Minh Trị thứ 7) Thành lập trường sư phạm nữ sinh ở Tokyo (3), chế định quy tắc cấp giấy phép hành nghề đối với giáo viên tiểu học (Tiểu học huấn đạo) (7).
1875 (Năm Minh Trị thứ 8) Quy định độ tuổi của học sinh tiểu học là từ 6-14 tuổi (1), cho phép dịch tất cả các sách giáo khoa mà Bộ giáo dục lưu trữ (6), thành lập trường trung học cơ sở trực thuộc trường sư phạm Tokyo và thành lập trường giảng dạy về thương pháp (8).
1876 (Năm Minh Trị thứ 9) Quy định ngày nghỉ của trường tiểu học là chủ nhật (5), Đặt trường mầm non trong trương sư phạm nữ sinh Tokyo  (11), Từ khoảng thời gian này trở đi xuất hiện rất nhiều các sách giáo khoa được xuất bản ở các địa phương.
1877 (Năm Minh Trị thứ 10) Thành  lập trường Đại học Tokyo (4)
1878 (Năm Minh Trị thứ 11) Đình chỉ “Tiểu học giáo tắc” (5), Thành lập nơi dạy thể dục (bắt đầu đào tạo giáo viên thể dục và nghiên cứu về phương pháp giáo dục thể chất) (10). Từ khoảng thời gian này trở đi xu hướng phục cổ xuất hiện trong các sách giáo khoa.
1879 (Năm Minh Trị thứ 12) “Giáo học thánh chỉ” được đưa ra (8), công bố “sắc lệnh giáo dục” (đình chỉ “Học chế” ) (9), thành lập ban điều tra về âm nhạc (10)
1880 (Năm Minh Trị thứ 13) Đặt ra Cục biên soạn trong Bộ giáo dục, tiến hành biên soạn sách giáo khoa (3), Cấm các hoạt động chính trị của học sinh, giáo viên bằng quy chế về hội họp (4), sửa đổi “Sắc lệnh giáo dục” (12)
1881 (Năm Minh Trị thứ 14) Chế định “Tiểu học hiệu giáo tắc cương lĩnh” , quy định về chế độ đăng kí sách giáo khoa (5), Đưa ra quy định về “đạo đức giáo viên tiểu học” (6), chế định “Trung học hiệu giáo tắc đại cương” (7), chế định “Sư phạm học hiệu giáo tắc đại cương” (8)
1882 (Năm Minh Trị thứ 15) Nội cung ban bố “Ấu học cương yếu” (11)
1883 (Năm Minh Trị thứ 16) Thực thi chế độ chứng nhận sách giáo khoa (7)
1885 (Năm Minh Trị thứ 18) Sửa đổi lại “sắc lệnh giáo dục” (8), thành lập chế độ Nội các , Mori Arinori nhậm chức Bộ trưởng giáo dục đầu tiên (12
1886 (Năm Minh Trị thứ 19) Đặt ra Cục biên soạn sách trong Bộ giáo dục đảm nhận việc biên soạn, xuất bản, kiểm duyệt sách giáo khoa (2), công bố “sắc lệnh về trường tiểu  học”, “Sắc lệnh về trường trung học cơ sở”, “Sắc lệnh về trường sư phạm” (4), Quy định “quy chế kiểm định sách giáo khoa”, lập ra “các môn giáo khoa và chế độ của nó trong trường tiểu học” (5), chế định “quy tắc giấy phép giáo viên tiểu học” (6)
1887 (Năm Minh Trị thứ 20) Chế định quy tắc kiểm định sách giáo khoa (5), Ban điều tra về tranh được đổi tên thành trường mĩ thuật Tokyo, Ban điều tra về âm nhạc được đổi tên thành trường âm nhạc Tokyo (10).
1888 (Năm Minh Trị thứ 21) Thông cáo tới các quốc gia kí hiệp ước với Nhật bài hát “Kimi ga yo” là Quốc ca
1890 (Năm Minh Trị thứ 23) Công bố “Địa phương học sự thông tắc”, “sắc lệnh về trường tiểu học” (sửa đổi sắc lệnh về trường tiểu học năm Minh Trị thứ 19), công bố “Sắc chỉ giáo dục” (10).
1891 (Năm Minh Trị thứ 24) Chế định “Quy tắc tiêu chuẩn xây dựng trường tiểu học” (4), quy định về giáo viên dự bị phân biệt với giáo viên chính quy ở trường tiểu học (5), chế định “về quy trình nghi thức các ngày lễ ở trường tiểu học” (6), chế định “tiểu học hiệu giáo tắc đại cương”, “quy tắc tổ chức cấp lớp” (11), công bố “tiêu chuẩn kiểm định sách giáo khoa môn Tu thân trường tiểu học”.
1892 (Năm Minh Trị thứ 25)  Quy định sách giáo khoa tiểu học có hai loại là sách dùng cho học sinh và sách dùng cho giáo viên
1893 (Năm Minh Trị thứ 26) Bộ giáo dục tuyển chọn các bài hát dùng cho ngày lễ, nghi lễ ví dụ như “Kimi ga yo” (8), chế định “quy trình trường học bổ túc thực nghiệp” (11)
1894 (Năm Minh Trị thứ 27) Công bố “Sắc lệnh về trường bậc cao” (6), chiến tranh Nhật-Thanh bắt đầu (8) (kéo dài đến tháng 4 năm 1895)
1895 (Năm Minh Trị thứ 28) Chế định “quy trình về trường nữ sinh bậc cao” (1), quy định về kí hiệu chữ viết thể hiện đã kiểm định  trong kiểm định sách giáo khoa của bộ giáo dục (5)
1896 (Năm Minh Trị thứ 29) Công bố “Luật về trợ giúp của nhà nước đối với công lao của các giáo viên tiểu học ở các thành phố, thôn, làng” (3), thành lập “Đế quốc giáo dục hội” (12).
1897 (Năm Minh trị thứ 30) Đặt ra chức “thị học” ở các địa phương (5), công bố “sắc lệnh về giáo dục sư phạm”, đổi tiến trường sư phạm thông thường thành trường sư phạm (10)
1899 (Năm Minh trị thứ 32) Công bố “Sắc lệnh về trường thực nghiệp”, “Sắc lệnh về trường nữ sinh bậc cao”, sửa đổi “sắc lệnh về trường trung học cơ sở” (2), đặt ra các chức quan giám học, thị học, thị học quận (6), sửa đổi “quy tắc kiểm định sách giáo khoa”.
1890 (Năm Minh trị thứ 33) Công bố “Luật trợ giúp kinh phí từ ngân sách quốc gia cho các trường tiểu học do tỉnh, thành phố, thôn làng thành lập”, công bố “sắc lệnh về giấy phép giáo viên” (3), sửa đổi “sắc lệnh về trường tiểu học”, chế định “quy tắc thực thi sắc lệnh trường tiểu học”, kiểm định ba loại sách giáo khoa là sách giáo viên, sách học sinh, sách giảng dạy (8)
1902 (Năm Minh trị thứ 35) Thành lập trường đào tạo giáo viên lâm thời (3), xảy ra vụ án về sách giáo khoa (gigokujiken) (12)
1903 (Năm Minh trị thứ 36) Công bố “Sắc lệnh về trường đào tạo nghề” (3) , thành lập chế độ sách giáo khoa quốc định (sửa đổi sắc lệnh trường tiểu học) (4)
1904 (Năm Minh trị thứ 37) Chiến tranh Nhật-Nga bắt đầu (2) (kéo dài đến tháng 9 năm 1905), bắt đầu sử dụng sách giáo khoa quốc định ở các trường tiểu học trên toàn quốc (từ các môn như Tu thân, Đọc sách, Quốc sử, Địa lý đến năm 1905 trở đi có thêm Toán, Vẽ và từ năm 1911 thì có thêm môn Khoa học), chế định “quy tắc phát hành sách giáo khoa dịch ở trường tiểu học” (4), đặt ra chức quan phụ trách việc biên soạn sách giáo  khoa quốc định (5).
1905 (Năm Minh trị thứ 38) Thành lập cơ quan bán sách giáo khoa quốc định (5), năm sau đổi thành công ty cổ phần.
1907 (Năm Minh trị thứ 40) Sửa đổi “sắc lệnh trường tiểu học” nới rộng giáo dục nghĩa vụ lên thành 6 năm (thực hiện từ tháng 4 năm Minh trị thứ 41) (3), do giáo dục nghĩa vụ mở rộng tới 6 năm nên việc sửa đổi sách giáo khoa quốc định bắt đầu, đặt ra “quy trình trường sư phạm” (4)
1908 (Năm Minh trị thứ 41) Công bố “Boshin shosho” (10)
1909 (Năm Minh trị thứ 42) Chế định “quy trình về phát hành sách giáo khoa dịch ở trường tiểu  học” (ba nhà xuất bản là Nihon Shoseki, Tokyo Shoseki, Osaka Shoseki tiến hành xuất bản và việc bán chúng phải có sự cho phép của cơ quan bán sách giáo  khoa quốc định) (10).

(còn tiếp)

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Những bước đi của sách giáo khoa Nhật Bản thời cận hiện đại” của tác giả Kimata Kyohiro, Đại học Shiga, 2006.

NHỮNG BƯỚC ĐI CỦA SÁCH GIÁO KHOA NHẬT BẢN HIỆN ĐẠI – Từ thời Minh Trị đến Hiện đại- (12)

December 21, 2013 Leave a comment

Tác giả: Kimata Kiyohiro

Đại học Shiga, 10/2006

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Bản tóm tắt)

 

“QUAN SÁT QUÊ HƯƠNG” THỜI KÌ TRƯỜNG QUỐC DÂN

1. Phân tích “quan sát quê hương”

(1) “quan sát quê hương trong “môn quốc dân” .

Tháng 4 năm 1941 (năm Showa thứ 16) trường Quốc dân được thành lập, sự hợp nhất các môn học theo chiều rộng được tiến hành và sách “Quan sát quê hương-sách dùng cho giáo viên” đã được xuất bản với tư cách là sách dùng cho lớp 4 ở trường Quốc dân (30/4/1942).

“Quan sát quê hươ

ng” là môn học được thiết lập với thời lượng 1 giờ/tuần dành  cho học sinh lớp 4 thuộc môn (khoa) Quốc dân của trường Quốc dân. “Môn Quốc dân” là môn giáo khoa thống hợp 4 môn tồn tại từ trước đến nay là Tu thân, Quốc ngữ, Địa lý, Quốc sử và đảm nhận nhiệm vụ: “giáo dục tinh thần quốc dân, làm cho người học giác ngộ sứ mệnh của hoàng quốc”.

Sự phân bố giáo tài của trường Quốc dân  phải đảm bảo quy tắc: “tương ứng với sự phát  triển của tinh thần, thể chất học sinh, vừa tham chiếu với cuộc sống và môi trường vừa tiến theo các giai đoạn”. Văn bản hướng dẫn cũng giải thích như sau:

Thời kì thứ 1: Năm thứ 1, 2 sơ đẳng

Chủ yếu là  giáo dục trong đời sống học sinh và luyện tập  sơ bộ quốc ngữ. Sách giáo khoa Tu thân, Quốc ngữ được trình bày với các giáo tài tương ứng với tinh thần và sự hiểu biết của học sinh, lấy giáo tài là cuộc sống của trẻ em.

Thời kì thứ 2: Năm thứ 3

Mở rộng năng lực lý giải và biểu hiện đúng đắn đối với trải nghiệm cuộc sống, tiếp theo hướng tới hình thành lý tưởng đạo đức. Do sách giáo khoa được biên soạn có chú ý đến thời kì quá độ của học sinh và cần phải sử dụng theo hướng đó.

Thời kì thứ 3: năm thứ 4, 5, 6

Làm cho học sinh tự giác. Vừa trợ giúp mở rộng năng  lực thực tiễn vừa trang bị năng lực phê phán mang tính đạo đức. Cùng với việc cho học sinh học Tu thân, Quốc ngữ thì cho học sinh tiến hành quan sát quê hương (nhằm giáo dục lòng yêu quê hương) và cung cấp sách giáo khoa hai môn phân hóa là Quốc sử và Địa lý.

Thời kì thứ 4: năm thứ 1, 2 bậc cao

Làm cho học sinh thấy được tình hình của Đông Á và xu hướng của thế giới, làm rõ tinh hoa của quốc thể.

(còn tiếp)

NHỮNG BƯỚC ĐI CỦA SÁCH GIÁO KHOA NHẬT BẢN HIỆN ĐẠI – Từ thời Minh Trị đến Hiện đại- (9)

December 15, 2013 Leave a comment

Tác giả: Kimata Kiyohiro

Đại học Shiga, 10/2006

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Bản tóm tắt)

 

(4) Sách giáo khoa địa lý tuyên truyền tư tưởng “Khối phồn vinh chung Đại Đông Á”-Sách “Địa lý khoa sơ đẳng” quốc định thời kì thứ 7.

Tháng 4 năm 1941 (năm Showa 16), trường tiểu học đổi tên thành trường Quốc dân, môn học có tên “môn Quốc dân” ra đời. Theo “quy tắc thực thi sắc lệnh trường quốc dân” thì môn Quốc dân là môn giáo khoa được quy định: “làm cho học sinh học tập đạo đức, ngôn ngữ, lịch sử, quốc thổ-quốc thế của nước ta, đặc biệt là làm rõ tinh hoa quốc thể, giáo dục tinh thần quốc dân, giác ngộ sứ mệnh của hoàng quốc, cảm thấy hạnh phúc vì sinh ra ở hoàng quốc và có tinh thần kính thần phụng công”.

Do nó là sự thống hợp các môn trước đó như Tu Thân, Quốc Ngữ, Lịch sử, Địa lý cho nên nó được gọi là “Lịch sử quốc dân”, “Địa lý quốc dân”.

“Địa lý khoa sơ đẳng” quyển thượng và hạ được phát hành vào năm 1943 (năm Showa 18) và là sách giáo khoa dùng cho lớp 5, 6. Có thể nói đây là sách giáo khoa phục vụ đắc lực cho chiến tranh và chủ nghĩa quân phiệt và nó đã chuyển đổi mạnh mẽ sách giáo khoa từ trước đến nay.

“Quốc dân khoa” được bắt đầu từ “quan sát quê hương” của năm thứ 4 và  “Địa lý quốc dân” được đặt trong năm thứ 5 và 6 có vị trí là môn giáo khoa  làm cho học sinh học “quốc thổ, quốc thế của nước ta và khái quát về quốc thế nước ngoài” để “giáo dục tinh thần yêu đất nước, giác ngộ sứ mệnh của hoàng quốc trong thế giới và Đông Á”. “Địa lý khoa sơ đẳng” có thể coi là sách giáo khoa thời chiến đặc biệt được viết mới nhằm phục vụ mục đích nói trên hơn là sách giáo khoa quốc định tính đến thời kì thứ 6 được sửa chữa.

(còn tiếp)

NHỮNG BƯỚC ĐI CỦA SÁCH GIÁO KHOA NHẬT BẢN HIỆN ĐẠI – Từ thời Minh Trị đến Hiện đại- (7)

December 13, 2013 Leave a comment

Tác giả: Kimata Kiyohiro

Đại học Shiga, 10/2006

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Bản tóm tắt)

 

(2) Giáo dục địa lý theo chủ nghĩa thực dụng phục vụ đời sống thời trung kì Minh Trị.

Cùng với sự mạnh lên của động thái phục cổ vào nửa sau những năm Minh Trị thứ 10, giáo dục địa lý theo chủ nghĩa thực dụng phục vụ đời sống đã trở thành dòng chủ lưu thay thế cho giáo dục địa lý văn minh. Giáo dục địa lý văn minh khai hóa đã biến mất khỏi trường tiểu học và sách giáo khoa nhập môn địa lý học cũng không còn được sử dụng nữa. Từ nửa sau những năm Minh Trị thứ 10 đến những năm 20 trung tâm của giáo dục địa lý là địa chí quê hương (địa phương chí) và đặt trọng tâm vào các tri thức địa chí Nhật Bản.

“Tiểu học hiệu giáo tắc cương lĩnh” năm 1881 (năm Minh Trị thứ 14) đã quy định nội dung của môn Địa lý như sau: “đầu tiên là tiến hành giải thích về địa hình khu vực gần trường và núi, sông, biển ở nơi học sinh có thể thấy,  sau đó làm cho học sinh tưởng tượng được hình dáng của địa cầu, tiếp theo là dạy khái quát về địa lý Nhật Bản và địa lý thế giới”. Ban đầu chính sách xúc tiến giáo dục địa chí địa phương ở hiện trường giáo dục được đẩy mạnh và về sau các sách giáo khoa về địa chí địa phương nhắm vào địa lý quê hương đã được phát hành và triển khai khắp các địa phương.

Tuy nhiên,  liên quan quan đến mục đích giáo dục địa lý, trong “Tiểu học hiệu giáo tắc đại cương” năm 1891 (năm Minh Trị thứ 24) có viết: “địa lý Nhật Bản và địa lý nước ngoài  làm cho học sinh hiểu được các mục chủ yếu liên quan đến đời sống của nhân dân và nuôi dưỡng tinh thần yêu nước”. Mục đích này nhắm đến việc lý giải đời sống nhân dân đồng thời nuôi dưỡng lòng yêu nước.

Tuy nhiên, đến năm 1890 lại đặt trọng tâm vào địa lý “tùy thời”, trong giáo dục địa lý ở trường tiểu học thì “làm cho học sinh hiểu địa hình phương vị của quê hương từ cuộc sống hàng ngày”, về sau thì dạy “khái lược về sản xuất của nhân dân, tên các đô thị nổi tiếng, khí hậu, địa hình của Nhật Bản”. Thêm nữa, còn làm cho học sinh học một cách dễ dàng địa hình, khí hậu, và các hiện tượng khác. Sách giáo khoa thời kì này  không còn bóng dáng của các yếu tố địa lý văn minh, khai hóa nhưng vẫn còn lưu lại  một điểm là ở mối quan hệ giữa thiên nhiên với con người có đưa ra sản xuất và phương thức của “đời sống nhân dân”.

(3) Giáo dục địa lý quốc gia chủ nghĩa cuối thời Minh Trị.

Năm 1900 (năm Minh Trị thứ 33), “Sắc lệnh trường tiểu học” được sửa đổi và “Quy tắc thực thi sắc lệnh trường tiểu học sửa đổi” được đặt ra. Môn Địa lý cùng với Lịch sử không được dạy ở trường tiểu học thông thường (từ lớp 1 đến lớp 4) mà trở thành môn bắt buộc ở trường tiểu học bậc cao.

Địa lý và lịch sử trở thành môn học ở các lớp bậc cao bắt đầu từ sau khi có sự sửa đổi nói trên (đương thời giáo dục nghĩa vụ là 4 năm).

Mục đích của môn giáo khoa địa lý đã thay đổi lớn  và nó trở thành môn “ làm cho học sinh có được tri thức phổ thông liên quan đến bề mặt trái đất, cuộc sống của con người, hiểu biết cơ bản về Nhật Bản đồng thời giáo dục lòng yêu nước”. Thay cho sự lý giải về “cuộc sống của nhân dân” trong “Tiểu học hiệu giáo tắc đại cương” năm 1891, sự lý giải về “đại thể tình hình Nhật Bản” đã xuất hiện và trọng tâm chuyển sang “giáo dục lòng yêu nước”.

Học sinh năm thứ nhất và thứ hai của tiểu học bậc cao được dạy địa lý Nhật Bản và năm thứ 3, thứ 4 được dạy địa lý nước ngoài. Nội dung địa lý Nhật Bản là “khái yếu về địa thế, khí hậu, phân chia vùng, giao thông của nước Nhật, các đô thị, sản vật”. Nội dung, mục đích này đã được quy định chặt chẽ và “địa hình quê hương”, “đời sống nhân dân” trước đó đã chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi hoàn cảnh.

Từ năm 1900 trở đi  khuynh hướng quốc gia chủ nghĩa trong sách giáo khoa địa lý quốc định mạnh lên. Sách giáo khoa địa chí địa phương lấy địa chí tỉnh, phủ làm trung tâm vốn là dòng chủ lưu những năm 1890 trước đó đã không được xuất bản nữa, sách giáo khoa gia tăng lập trường quốc gia đã tăng lên và được tuyển chọn. Đối với trẻ em thì đó là sự chuyển đổi đột ngột từ địa chí quê hương dễ quan sát và gần gũi sang địa thế, khí hậu, sản vật, giao thông của Nhật Bản-những tri thức la liệt và vụn vặt.

 

(còn tiếp)

 

NHỮNG BƯỚC ĐI CỦA SÁCH GIÁO KHOA NHẬT BẢN HIỆN ĐẠI – Từ thời Minh Trị đến Hiện đại- (2)

December 9, 2013 Leave a comment

Tác giả: Kimata Kiyohiro

Đại học Shiga, 10/2006

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Bản tóm tắt)

 

Sách giáo khoa lịch sử theo chủ nghĩa tôn vương ái quốc giữa thời Minh Trị

Nếu như đuổi theo lịch sử giáo dục lịch sử của thời kì Minh Trị thì chúng ta sẽ gặp sự thật rằng Thiên hoàng Minh Trị đã ra chỉ thị cho Bộ giáo dục và các chỉ thị này đã có ảnh hưởng trực tiếp tới giáo dục lịch sử. “Giáo học thánh chỉ” được ban ra vào năm 1879 (năm Minh Trị thứ 12) là một ví dụ. “Giáo học thánh chỉ” đã chỉnh sửa sự thiên về tư tưởng giáo dục của Âu Mĩ của toàn bộ nền giáo dục và chuyển sang coi trọng lời dạy nhân, nghĩa, trung, hiếu: “làm rõ nhân, nghĩa, trung, hiếu dựa trên huấn điển của tổ tôn… phát huy toàn bộ đạo đức, tài năng, phổ cập đến toàn thiên hạ…” và chủ trương xác lập giáo học của Nhật Bản. Dưới tác động của  thánh chỉ này, trong tất cả các môn  giáo khoa của trường tiểu học nội dung học tập đã được sửa đổi để tuân theo “thánh chỉ về nhân-nghĩa-trung-hiếu”.

“Tiểu học hiệu giáo tắc cương yếu” ban hành năm 1881 (năm Minh Trị thứ 14) là sự cụ thể hóa thánh chỉ. Mục đích của giáo dục lịch sử  được quy định là: “tận lực làm cho học sinh hiểu được quan hệ nhân quả đặc biệt là giáo dục tôn vương ái quốc”. Các đề mục của nội dung cũng được quy định là: “thể chế kiến quốc, sự lên ngôi của Thiên hoàng Jinmu, sự chăm chỉ của Thiên hoàng Nintoku, công tích của Engi Tenryaku, sự hưng vong của Genpei,  sự tồn tại song song Nam-Bắc triều, sự cai trị của Tokugawa, sự cần kíp của vương chính phục cổ, khái quát về sự thay đổi của phong tục, của nhân vật cổ kim”.

Trong số này, việc giáo dục “ý chí tôn vương ái quốc” được coi là hạt nhân của mục đích giáo dục lịch sử trước chiến tranh đã được xác lập trong giai đoạn này. “Giáo học thánh chỉ” là sự bộc lộ mạnh mẽ của tư tưởng dưới chế độ Thiên hoàng và giáo dục lịch sử với tư cách là môn giáo khoa làm bệ đỡ cho tư tưởng này đã được coi trọng. Sau “Tiểu học hiệu giáo tắc cương lĩnh” năm 1881, “Lịch sử” trở thành môn giáo khoa độc lập. Giáo dục lịch sử nước ngoài trong trường tiểu học như ta thấy trước đó bị đình chỉ và ở trường tiểu học được quy định chỉ dạy lịch sử Nhật Bản.

Sự thật quan trọng về sách giáo khoa lịch sử thời Minh Trị là từ năm 1881 (năm Minh Trị thứ 14) chế độ thông báo sử dụng sách giáo khoa với cái tên “Kaishinsei” được bắt đầu. Trước đó  là tự do phát hành, tự do tuyển chọn. Sự thay đổi về chế độ sách giáo khoa  đã dần tăng cường từng bước một sự kiểm soát của nhà nước từ bước đầu tiên là “Kaishinsei”[1] thành “Ninkasei”[2] năm 1883 (năm Minh Trị thứ 16), rồi chuyển thành “Kiểm định”[3] năm 1886 (năm Minh Trị thứ 19) rồi “chế độ quốc định năm 1904” (năm Minh Trị thứ 37).

Mục đích của giáo dục lịch sử ở thời điểm năm 1891 (năm Minh Trị thứ 24) được quy định là : (1) “làm cho học sinh biết cơ bản về quốc thể” và (2) “giáo dục tình cảm quốc dân”. Để hình thành tinh thần “Tôn vương ái quốc” giáo dục lịch sử được quy định dạy cho học sinh nội dung khái niệm quốc thể và giáo dục tấm lòng đạo nghĩa quốc dân.

Năm 1891 thời điểm ra đời  “Tiểu học hiệu giáo tắc đại cương” cũng là năm xác lập chế độ sách giáo khoa theo “chế độ kiểm định”. Nội dung của sách giáo khoa lịch sử  được quy định:“bắt đầu bằng các câu chuyện lịch sử về quê hương, dạy cho học sinh về thể chế kiến quốc, phả hệ Thiên hoàng, công trạng của các triều đại Thiên hoàng, các sự việc trung lương hiền triết, sự dũng cảm của quốc dân, khái quát về nguồn gốc của văn hóa, khái quát về các sự kiện lịch sử từ khi quốc gia ra đời tới ngày nay”. Sách giáo khoa được biên soạn dựa trên những nội dung này.

Trung tâm của cấu tạo nội dung giáo dục lịch sử được đặt vào việc đưa ra các ghi chép truyện kí về các nhân vật trung lương hiền triết àm trung tâm là Thiên hoàng để giáo dục lòng trung thành với Thiên hoàng và quốc gia. Nói tóm lại, đó là “dạy học lịch sử bằng nhân vật”. Đây là phương pháp đưa ra sự kiện quan trọng cùng các nhân vật “vĩ đại”, “anh hùng” trong lịch sử.

Một trong số các sách giáo khoa lịch sử của thời kì kiểm định là cuốn “ Đế quốc tiểu sử” của Yamagata Teisaburo. Nó được phát hành năm 1893 (năm Minh Trị thứ 26) và gồm  hai quyển 1 và 2. Ở phần “lời nói đầu” sách viết: “để giúp cho trẻ em dễ nhớ, (lược), lấy chủ đề là các nhân vật nổi tiếng ở thời đại đó, trong đó ghi lại các sự thật huy hoàng đương thời”. Trong quyển 1 có các nội dung: “Đất nước chúng ta”, “Thiên hoàng Jinmu”, “Yamatotakeruno Mikoto”, “Jingu Kogo”, “Hoàng đế Nintoku”, “Shotoku Taishi”, “Thiên hoàng Tenji”, “Wakenokyomaro”, “Thiên hoàng Kanmu”, “Sugawarano Michizane”, “Murasaki Shikibu”, “Hachimantaro Yoshiie”.

Sách “Đế quốc tiểu sử” quan niệm viết về nhân vật lịch sử như sau: “Biên soạn sao cho đối chiếu nhân vật đúng đắn và nhân vật có hành động sai trái  để học sinh cảm thụ được đúng-sai”. Sách chú ý trọng tâm đến ghi chép xem tính cách của bản thân nhân vật đó có “lòng trung thành”, “lòng trung nghĩa” hay không mà không trần thuật lại hành động của nhân vật đương thời đặt trong xã hội và thời đại đó. Có thể nói đây là sự “Tu thân hóa” của giáo dục lịch sử, xu hướng chuyển đổi thành Tu thân đã mạnh mẽ và lòng trung thành đối với Thiên hoàng đã trở thành thước đo đánh giá nhân vật.

(còn tiếp)


[1] “開申制”:Khi tuyển chọn sách giáo khoa chỉ cần báo cáo cho Cơ quan giám sát nhà nước.

[2] “認可制”:Việc tuyển chọn sách giáo khoa cần đến giấy phép của Cơ quan có thẩm quyền.

[3] “国定制”:Các sách muốn trở thành sách giáo khoa phải trải qua quá trình thẩm định của Bộ giáo dục.

%d bloggers like this: