Archive

Posts Tagged ‘tư duy độc lập’

Gọi tên triết lý giáo dục

May 10, 2014 Leave a comment

Gọi tên triết lý giáo dục

Giáp Văn Dương
Thứ Năm,  8/5/2014, 09:43 (GMT+7)
Phóng to

Thu nhỏ

Add to Favorites

In bài

Gửi cho bạn bè

(TBKTSG) – Triết lý giáo dục của hệ thống hiện thời là đào tạo con người công cụ. Đây là cái sai nghiêm trọng nhất trong những cái sai của hệ thống giáo dục này.

Có hay không triết lý giáo dục?

Mục đích chính của việc học hiện nay là học để thi. Thi gì thì học nấy. Trong ảnh: đoạn đường trước một điểm thi đại học tại TPHCM. Ảnh: Kinh Luân

Triết lý giáo dục được hiểu là những khái quát ngắn gọn, thường chỉ trong một câu thôi, được sử dụng làm định hướng vận hành cho cả hệ thống giáo dục.

Như vậy, triết lý giáo dục khác với triết học giáo dục ở chỗ, triết học giáo dục là một phân ngành riêng của triết học, chọn giáo dục làm đối tượng nghiên cứu. Còn triết lý giáo dục lại là tinh thần chủ đạo, là hồn cốt thần sắc, của cả một hệ thống giáo dục và do đó của mọi hoạt động giáo dục liên quan.

Dựa vào triết lý giáo dục, cả hệ thống giáo dục, và theo đó là các hoạt động của nó, được thiết kế, vận hành và điều chỉnh tương ứng.

Hiện nay, triết lý giáo dục vẫn đang được xem là điểm bế tắc của hệ thống giáo dục Việt Nam. Mọi bất cập hiện có, và sự thất bại của các cuộc cải cách giáo dục trong mấy chục năm qua, đều có thể truy nguyên về việc thiếu vắng một triết lý giáo dục đúng để dẫn dắt.

Triết lý giáo dục cần phải chuyển sang hướng đào tạo con người tự do, để học có thể tư duy độc lập, tư duy sáng tạo, thay vì đào tạo con người công cụ như mục đích của hệ thống hiện thời.

Trước tình hình đó, đã có nhiều bàn thảo và nghiên cứu về triết lý giáo dục được tiến hành, bao gồm các đề tài nghiên cứu và các hội thảo lớn nhỏ, với mục đích tìm xem Việt Nam có triết lý giáo dục không, và nếu có thì đó là gì.

Nhưng đến nay vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng: Không một phát biểu tường minh nào về triết lý giáo dục được tìm ra. Tất cả vẫn chỉ quanh quẩn trong những câu chữ cũ, hoặc lảng tránh vòng vo, và cuối cùng là đều trở về các nghị quyết.

Điển hình là ngày 29-4-2014, khi trả lời báo chí trong phiên họp báo của Văn phòng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận nói: “Tôi xin khẳng định triết lý trực tiếp của giáo dục chúng ta là Nghị quyết 29 của trung ương”.

Tìm đọc Nghị quyết 29 thì thấy rằng nghị quyết này dài hơn mười trang A4, nội dung được trình bày trong hơn 7.000 từ. Vậy thì thử hỏi ai có thể nhớ được để mà vận dụng và để gọi nó là triết lý giáo dục được?

Trên thực tế, nội dung của Nghị quyết 29 đã được đề cập trong những nghị quyết trước đó nhiều năm.

Câu trả lời của bộ trưởng đã cho thấy đây là một sự lảng tránh, trong nhận thức về triết lý giáo dục của người đứng đầu ngành.

Nhưng rõ ràng bất cứ hệ thống giáo dục nào cũng phải có một tinh thần chủ đạo, một triết lý dẫn dắt, dù có được gọi tên hoặc thừa nhận hay không.

Nay câu chuyện về triết lý giáo dục lại trở lại, với việc xúc tiến đề án cải cách căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, thì câu hỏi về triết lý giáo dục lại cần được đào xới trở lại, ít nhất cũng ở mức nhận chân vấn đề, để có thể điều chỉnh kịp thời.

Vậy thì hãy một lần nhìn thẳng vào hệ thống giáo dục hiện thời và các hoạt động của nó, để định hình xem triết lý giáo dục đang được sử dụng là gì?

Tìm triết lý giáo dục ở đâu?

Muốn tìm triết lý giáo dục thì câu hỏi đầu tiên đặt ra là: Tìm triết lý giáo dục ở chỗ nào?

Có hai cách trả lời cho câu hỏi này, tùy theo cách tiếp cận: hệ thống hoặc sản phẩm. Hai cách tiếp cận này quan hệ chặt chẽ với nhau như hai mặt của một đồng xu, nên không thể tách rời nhau trên thực tế, vì hệ thống nào thì sản phẩm đó.

Đó thực chất chỉ là hai diễn giải khác nhau cho cùng một vấn đề. Cụ thể:

Cách 1: Tìm ở các nguyên tắc thiết kế hệ thống giáo dục, xem hệ thống này được thiết kế như thế nào và để làm gì?

Cách 2: Tìm ở sản phẩm đầu ra của hệ thống giáo dục, tức ở những phẩm tính của con người mà hệ thống đó dự kiến đào tạo ra. Nói nôm na thì đó là việc trả lời câu hỏi: Hệ thống giáo dục này muốn tạo ra con người nào?

Với cách tiếp cận thứ nhất, người viết bài này đã từng đưa ra năm nguyên tắc thiết kế cho hệ thống giáo dục: mở, sáng tạo, toàn diện, hiện đại và hội nhập. Trên cái nền hệ thống đó, các hoạt động giáo dục sẽ diễn ra và tự điều chỉnh nhằm tạo ra những con người sáng tạo, hiện đại và hội nhập.

Thực tế, đó cũng là một phát biểu về triết lý giáo dục, nhưng theo cách tiếp cận về thiết kế hệ thống, thay vì tiếp cận ở sản phẩm đầu ra, để tránh sa vào những tranh cãi bất tận về triết lý giáo dục.

Nhưng cách tiếp cận hệ thống này chỉ phù hợp với những nhà làm chính sách. Còn với đa số thầy cô giáo, phụ huynh và học sinh thì đây là những vấn đề quá xa vời. Cái họ cần hơn, và gần gũi hơn, là một hình dung về kết quả của việc học, về sản phẩm của giáo dục, để ước định sau nhiều năm đi học, thì học sinh của họ, con cái họ, và bản thân họ, sẽ trở thành người như thế nào.

Những người tham gia giáo dục cần một minh định như thế, để định hướng và điều phối mọi hoạt động giáo dục của mình. Cái minh định đó, không là gì khác hơn là triết lý giáo dục được tìm ra trong cách tiếp cận thứ hai, tức tiếp cận sản phẩm đầu ra.

Điển hình của cách tiếp cận này là giáo dục Nho giáo, với hình dung rất rõ ràng về sản phẩm đầu ra: học để làm quan, với hình mẫu tối hậu là trở thành người quân tử. Chính nhờ sự tường minh trong mục tiêu này mà hệ thống giáo dục Nho giáo đã đứng vững hàng ngàn năm. Chỉ đến khi nội hàm của khái niệm người quân tử không còn phù hợp nữa thì nền giáo dục này mới sụp đổ.

Ngày nay, hình dung về sản phẩm đầu ra không được tường minh và dõng dạc như thế, do bị ẩn giấu dưới trùng trùng các lớp ngôn ngữ của các nghị quyết, các chỉ đạo, các khái niệm chưa rõ ràng như khái niệm về con người mới xã hội chủ nghĩa, các luận thuyết giáo dục và tất nhiên của muôn vàn hoạt động giáo dục riêng lẻ hàng ngày, một cách vô thức hoặc chủ ý.

Nay nếu muốn tìm triết lý giáo dục thì chẳng còn cách nào khác là hãy tạm thời lùi xa một bước để nhìn thẳng vào nội dung của các hoạt động giáo dục, từ đó lần ra được điểm hội tụ của các hoạt động này, để xem khi cộng hợp lại thì chúng sẽ hướng đến việc tạo ra con người như thế nào. Đó chính là đầu dây mối nhợ của câu chuyện nhức đầu này.

Triết lý giáo dục hiện thời là gì?

Quan sát các hoạt động giáo dục đang được triển khai, có thể nhận thấy:

• Mục đích chính của việc học là học để thi. Thi gì thì học nấy.

• Nội dung chương trình được kiểm soát chặt chẽ dưới dạng sách giáo khoa và sách giáo viên. Thầy hiếm khi dạy ngoài sách, trò cũng chỉ phải học thuộc sách hoặc đề cương thầy giao.

• Phương pháp dạy chủ yếu là truyền đạt một chiều, theo kiểu đọc-chép, nặng tính áp đặt. Phương pháp học chủ yếu là học thuộc bài mẫu hoặc dạng mẫu. Phần thảo luận để phát triển tư duy phê phán, tư duy độc lập và tính sáng tạo không được khuyến khích. Người thầy là trung tâm của lớp học.

• Với các môn về khoa học xã hội, cả thầy và trò chỉ được chấp nhận một cách diễn giải chính thống. Với cuốn sách giáo khoa trên tay, người thầy là hiện thân của chân lý.

Những đặc điểm này nói lên điều gì?

Chúng nói lên rằng, hệ thống giáo dục hiện thời không khuyến khích học trò ra khỏi vòng kiểm soát của nội dung chương trình. Về đại thể, trò không được phép vượt quá thầy và đi ra ngoài sách giáo khoa.

Nó cũng không khuyến khích người học tự tìm tòi khám phá để xây dựng kiến thức cho riêng mình mà phải học thuộc và thừa nhận như chân lý một nội dung định trước.

Những con người được tạo ra từ hệ thống này cũng không được trang bị đủ kiến thức cập nhật, và đặc biệt không đủ kỹ năng để cạnh tranh trong môi trường quốc tế, vì lối học từ chương, học thuộc, học tủ, học để thi đang là chủ đạo.

Trò giỏi theo cách học này được hiểu là học giỏi và thi giỏi, chứ không phải là làm giỏi.

Nói một cách khác, hệ thống giáo dục hiện thời không hướng đến việc đào tạo con người tự do và độc lập, có tư duy phê phán, tư duy sáng tạo; mà chủ ý hình thành một người ngoan ngoãn, thích tuân thủ và cần cầm tay chỉ việc. Đó chính là hình ảnh của con người công cụ.

Hệ thống hiện thời được thiết kế để tạo ra những con người như vậy. Và các hoạt động giáo dục cũng dẫn đến kết quả như vậy. Do đó, dù nhìn từ cách tiếp cận nào thì cũng thấy đây chính là tinh thần chủ đạo của hệ thống giáo dục hiện thời.

Vì thế có thể nói, triết lý giáo dục hiện thời là đào tạo con người công cụ.

Điều này được cộng hưởng mạnh mẽ với nền văn hóa truyền thống, khi sự tuân thủ trên nguyên tắc ứng xử một chiều trên – dưới thấm đẫm trong mọi gia đình, và lối học từ chương từ xa xưa đã được coi là một chuẩn mực.

Triết lý này cũng phù hợp với lịch sử nhiều chiến tranh của Việt Nam, đặc biệt là trong thế kỷ 20, khi sự tuân thủ cấp trên và thực hiện mệnh lệnh là một trong những nguyên tắc sống còn của thời chiến.

Có sự kế thừa nền giáo dục truyền thống, có môi trường thời chiến, hoặc tư duy của thời chiến còn rớt lại, để sinh sôi, nên triết lý giáo dục này đã không bị phán xét hoặc phản biện thấu đáo.
Nhưng nay hoàn cảnh đã thay đổi, Việt Nam đang bước vào thời kỳ hội nhập toàn cầu, nhu cầu về sáng tạo và tự chủ cá nhân trở thành bức thiết, thì triết lý giáo dục đào tạo con người tuân thủ này đã không còn phù hợp.

Nó chính là nguyên nhân trực tiếp và sâu xa làm cho nền kinh tế của Việt Nam kém cạnh tranh và do đó đất nước rơi vào tụt hậu, mà biểu hiện cụ thể nhất là năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn so với các nước trong khu vực đến hàng chục lần.

Vì thế, trong cuộc cải cách lần này, triết lý giáo dục cũng cần phải chuyển sang hướng đào tạo con người tự do, để học có thể tư duy độc lập, tư duy sáng tạo, thay vì đào tạo con người công cụ như mục đích của hệ thống hiện thời.

Điều này cũng tương tự như việc học để làm quan, để trở thành người quân tử theo quan niệm của Nho giáo, đã không còn phù hợp khi làn sóng văn minh phương Tây tràn đến hồi đầu thế kỷ 20 nên cả nền giáo dục đã phải thay đổi.

Chỉ khi nào thực hiện được sự thay đổi này thì mới có thể đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Còn nếu không, sự thất bại giống như các cuộc cải cách giáo dục trước đây là điều có thể dự báo trước.

http://www.thesaigontimes.vn/114544/Goi-ten-triet-ly-giao-duc.html

Advertisements

Người thầy đặc biệt của chúng tôi

April 2, 2014 Leave a comment

Mỗi người thầy, người cô khác nhau đều ghi dấu ấn khác nhau trong tim mỗi học sinh trường Nguyễn Tất Thành. Đối với chúng tôi, sau một năm được học “người ông, người cha già” tràn trề kinh nghiệm – Lê Đình Cương , khi chuyển sang học thầy Nguyễn Quốc Vương, chút bỡ ngỡ cũng không tránh khỏi khi hiện lên trong mắt mỗi đứa học trò. Tuy nhiên, chỉ sau một buổi giới thiệu và làm quen, thầy Vương đã trở thành một trong những thầy giáo được chúng tôi yêu mến nhất!

Thầy giáo Nguyễn Quốc Vương

Thầy Nguyễn Quốc Vương đã từng là một sinh viên của Đại học Shiga (Nhât bản) từ tháng 19/2006 đến 4/2011 – khoảng thời gian thầy đang theo học thạc sĩ ở nơi đất khách quê người, thầy đã lấy được bằng TOEFL và chứng chỉ tiếng Nhật N2 (2008) và N1 (2010). Sau khi quay trở về Việt Nam và trở thành thầy giáo trẻ nhất trong đội ngũ giáo viên của trường Nguyễn Tất Thành từ tháng 11/2011, thầy đã nhận dạy ba lớp mười một và ba lớp tám. Sau năm năm học tập và sinh sống tại Nhật, nhận thức được những sự tiến bộ trong nền Giáo dục của Nhật rồi từ đó, thầy dần dần áp dụng những tiến bộ, những phương pháp phù hợp vào trong các giờ học lí thuyết của thầy. Qua các giờ học lịch sử thú vị đó, thầy nhận ra rằng học sinh Việt Nam rất năng động, thông minh và có mối quan tâm đến lịch sử, tư duy sắc sảo và cách phê phán sâu sắc khi biết nhìn nhận lịch sư đa chiều, dùng lịch sử để tham chiếu so sánh với hiện tại. Những điều này được bộc lộ rất rõ từ ý thức trong giờ học đến những câu hỏi chuyên môn về lịch sử, qua cách ứng xử trong giao tiếp với giáo viên cũng như bạn bè xung quanh của học sinh Nguyễn Tất Thành. Điều này đồng nghĩa với việc các bạn học sinh đã có ý thức công dân cao, có trách nhiệm đối với sự phát triển của cộng đồng, dân tộc mình.

Đối với thầy, dạy học không phải là bắt học sinh học thuộc những ghi chép trong sách giáo khoa, các bài lí thuyết màu xám nặng nề, không phải truyền thụ tri thức lịch sử cho học sinh mà là giúp học sinh phát triển nhận thức về lịch sử, giúp học sinh “xem sự kiện lịch sử đó có thật hay không?” (dựa vào tư liệu lịch sử mà học sinh tự tìm hiểu được) “Các sự kiện đó có ý nghĩa gì đối với hiện tại?” Và người giáo viên phải biết tôn trọng nhận thức học sinh của mình, tôn trọng tư duy độc lập của học sinh . Các giờ giảng bài và cách ra đề kiểm tra của thầy cũng gây ấn tượng với lớp rất nhiều. Đề kiểm tra của thầy thường khác so với các thầy cô cùng bộ môn. Đó không phải là học sinh học thuộc những gì ghi trong sách giáo khoa rồi trả lời câu hỏi hay ngồi nghe giảng về những vấn đề khô khan trong đó mà là thầy đưa ra những câu nói của những người nổi tiếng hay những tình huống để học sinh có thể đặt bản thân mình vào đấy và xử lí, những câu chuyện có liên quan đến bài giảng và thỉnh thoảng là những câu nói vui, những câu hỏi để học sinh có thể phát huy tính tư duy sáng tạo, những câu chuyện cười để giảm bớt căng thẳng trong giờ học, để thầy và trò có thể gần gũi nhau hơn, hiểu nhau hơn và cũng là để học sinh gắn những sự kiện lịch sử vào cuộc sống thường ngày, giúp học sinh dễ hình dung, tưởng tượng, hiểu và ghi nhớ sự kiện ấy theo tư duy logic đúng đắn của bản thân mình.

Đôi khi, thầy lại hỏi chúng tôi “Các em có bao giờ thắc mắc học lịch sử để làm gì không?” Mỗi nước, mỗi dân tộc đều có một lịch sử dựng nước và giữ nước của riêng dân tộc đó, mỗi người công dân đều phải biết đến lịch sử của nước mình, dân tộc mình. Đó như là gốc của một cái cây. Khi nắm chắc, biết chắc và hiểu được gốc rễ ấy thì mới có thể đứng lên , mới có thể tiếp tục phát triển lành mạnh để tạo ra những người công dân ưu tú, có tri thức, có phẩm chất, năng lực cần thiết để cải biến, xây dựng đất nước tốt đẹp hơn. Muốn như vậy, bước đầu chúng ta cần phải biết yêu thích lịch sử, hứng thú, tìm hiểu các sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử. Đây là tiền đề cần thiết để trở thành một người công dân tốt. Vì vậy mọi người đều phải học lịch sử.

Một người thầy giỏi, một người thầy biết quan tâm và tôn trọng học sinh, một người thầy hết lòng vì học sinh cũng như sự nghiệp trồng người. Điều gì đã khiến cho một con người bình thường trở thành một con người tuyệt vời, vĩ đại đến vây? Đó là vì lòng yêu mến lịch sử, lòng yêu thương những lứa học trò và là tâm huyết cả đời của thầy. Thầy chia sẻ rằng “ Hi vọng của thầy đó là có một thế hệ không chỉ giỏi về tri thức mà còn quan tâm đến sự phát triển của cộng đồng, dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa và hòa nhập quốc tế. Đó là mục tiêu quan trọng hàng đầu trong việc giáo dục tri thức cho học sinh của tất cả những người làm trong ngành Giáo dục chứ không phải của riêng mình thầy!”

Năm tháng rồi cũng qua đi, rồi không biết sẽ có bao nhiêu thầy cô nữa sẽ đi qua cuộc đời cắp sách của mỗi đứa học sinh chúng tôi, nhưng hình ảnh về một người thầy giáo trẻ trung, thân thiện và hết lòng vì học sinh sẽ là hình ảnh in đậm mãi trong kí ức của tôi và mỗi đứa học trò 8A5, dù có trôi qua bao nhiêu mùa trống tan trường đi nữa…

Tác giả: Nguyễn Quỳnh Hoa – 8A5

Tại sao chúng mất nước (72)

April 28, 2013 Leave a comment

Kiểm tra 45 phút

Môn: Lịch sử

Đề bài: Việt Nam là quốc gia đã từng nhiều lần chiến thắng giặc ngoại xâm trong lịch sử nhưng vào cuối thế kỉ XIX, sau gần 30 năm kháng chiến (1858-1884), Việt Nam đã thất bại và trở thành thuộc địa của Pháp. Tại sao? Em hãy chỉ ra và phân tích rõ các nguyên nhân khiến Việt Nam thất bại trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858-1884)

Bài Làm

Trong lịch sử Việt Nam, không ít lần quân và dân ta dũng cảm, anh dũng đánh giặc ngoại xâm. Tuy vậy, vào cuối thế kỉ XIX, ta đã thất bại nặng nề trước một kẻ thù lớn mạnh-Pháp.

Lý do đầu tiên khiến ta thất bại đó là quân Pháp quá hùng mạnh. Chúng không chỉ cao hơn ta một cái đầu, lớn hơn ta về diện tích, đông hơn ta về dân số mà còn văn minh và hiện đại hơn chúng ta rất nhiều. Vào thời đó, mặc dù quân ta luôn được rèn luyện, luyện tập binh pháp, tuy vậy, thì một đòn cước không thể nhanh bằng bằng một viên đạn, đại bác của ta đã quá cũ, độ chính xác và tỉ lệ bắn thành công quá thấp. Âu đó cũng là vì trước nay, ta luôn đối đầu với những kẻ xâm lược ngang với ta về vũ khí và nền văn minh.

Nhưng, nếu nói sâu vào cốt lõi của vấn đề thì sự yếu đuối, hèn nhát, suy nghĩ nông cạn của triều đình Huế đương thời mới là  nguyên nhân chính dẫn đến thất bại sau hơn 30 năm kháng chiến. Khi Pháp tiến quân đánh thành Gia Định với số lượng có chưa đến 1000 tên,, vậy mà với sự ngu dốt, quân ta đóng chặt cửa đồn Chí Hòa trong tư thế thủ hiểm. Đây là một minh chứng của việc giữ nguyên lối đánh cũ, tuân theo nó một cách mù quáng mà không còn đủ minh mẫn để xem xét thực trạng. Đó là một cơ hội bị bỏ phí!
Sự bạc nhược của triều đình đâu chỉ dừng lại ở đó. . Cái cảnh triều đình sai quân đi dẹp khởi nghĩa nông dân chống lại kẻ thù của đất nước thật nực cười! Chưa hết, chúng còn dùng cách thương lượng với Pháp để lấy lại những tỉnh đã mất, làm lộ ra bộ mặt hèn hạ và vô cùng nhu nhược của triều đình Huế. Thử hỏi nếu khi đó, triều đình cùng nhân dân nắm tay nhau đứng lên , ra sức đoàn kết chống lại quân thù thì có lẽ chúng đã không thừa thắng xông lên, chiếm các tỉnh miền Tây mà không tốn một viên đạn. Đó là một cơ hội nữa bị bỏ phí.

Và khi, triều đình chỉ còn là một con rối trong tay bọn Pháp thì diễn ra cảnh người Việt nã súng vào người Việt, thiên tử ra lệnh đàn áp chính con dân của mình. Biết bao những vị anh hùng, những nghĩa quân đứng lên bảo vệ đất nước đều bị quân triều đình tiêu diệt. Sự mê muội, tha hóa đó cũng chính là nguyên nhân khiến những kẻ sở hữu chúng đưa Tổ quốc trở thành thuộc địa của Pháp và những người dân vô tội rơi vào tình trạng một cổ hai tròng.

Đây là sự thất bại trong nhục nhã. Thế mới biết là một triều đình thối nhát sẽ khiến cho cả một dân tộc rơi vào cảnh lầm than.
(PMH, nữ, học sinh lớp 8)

Tại sao chúng ta mất nước (66)

April 25, 2013 Leave a comment

Kiểm tra 45 phút

Môn: Lịch sử

Đề bài: Việt Nam là quốc gia đã từng nhiều lần chiến thắng giặc ngoại xâm trong lịch sử nhưng vào cuối thế kỉ XIX, sau gần 30 năm kháng chiến (1858-1884), Việt Nam đã thất bại và trở thành thuộc địa của Pháp. Tại sao? Em hãy chỉ ra và phân tích rõ các nguyên nhân khiến Việt Nam thất bại trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858-1884)

Bài Làm

Lịch sử không đi theo một đường thẳng cũng giống như một quốc gia không thể tất cả các cuộc chiến đấu. Việt Nam cũng vậy, dù là một quốc gia đã từng nhiều lần chiến thắng giặc ngoại xâm nhưng vẫn thất bại sau gần 30 năm chóng thực dân Pháp.

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của cả một đất nước và một trong số đó triều đình Huế rất cổ hủ, nhu nhược vẫn lấy Trung Quốc là quốc mẫu, không học hỏi những thứ văn minh ở các nước châu Âu hay chính từ kẻ thù. Đã vậy, đường lối chính sách cai trị còn nhiều sai sót, lực lượng vũ trang chưa được tổ chức thật chặt chẽ. Cũng do là các quan lại, vua chúa chỉ lo ăn chơi sa đọa, không củng cố đất nước, quân sự cho triều đình. Sự chủ quan của các vua quan này cũng đủ cho thấy sự thất bại của một đất nước.

Triều đình còn bảo thủ hơn khi vẫn thực hiện chính sách đối nội, đối ngoại lỗi thời. Đất nước đã suy yếu, vậy mà các vua quan vẫn nhởn nhơ chơi bời, sa đọa, không ngồi lại bàn bạc để nghĩ cách cứu dân, cứu nước, không học hỏi những chiến lược tốt hơn, văn minh hơn từ các nước châu Âu mà lại nhất quyết theo những chiến lược quân sự của Trung Quốc. Thật tiếc cho một đất nước  khi có  vua quan như vậy.

Cuối cùng, Pháp cũng chiếm được 3 tỉnh Đông Nam kì và bắt triều đình kí hiệp ước Nhâm Tuất. Trong đó có bắt nước ta phải bồi thường 280 vạn lạng bạc-một số bạc không nhỏ. Triều đình không những giúp dân chống lại quân xâm lược mà vẫn vơ vét, bóc lột của cải của nhân dân để nộp cho Pháp và để thỏa mãn cái xa hoa của bản thân.

Nước Pháp là một nước đến từ châu Âu, có nền văn minh hơn hẳn Việt Nam. Đó cũng là một lí do khiến cho đất nước Việt Nam không kháng cự nổi. Họ có những vũ khí hiện đại, có những chiến lược thông minh, đã từng chiến thắng rất nhiều nước khác.

Nhân dân Việt Nam biết không thể nhờ cậy vào triều đình nên đã tự nổi dậy đứng lên. Nhưng tiếc thay, những cuộc khởi nghĩa đó quá nhỏ, chưa có sự thống nhất với nhau. Một phần cũng do nhân dân ta quá lạc hậu nên chưa có nhiều chiến lược quân sự tốt.

Đất nước Việt Nam này thật thảm hại khi có những vua quan tha hóa và điều thất bại trước quân Pháp là một tất yếu.

(PMC, nữ, học sinh lớp 8)

Tại sao chúng ta mất nước (61)

April 23, 2013 Leave a comment

Kiểm tra 45 phút

Môn: Lịch sử

Đề bài: Việt Nam là quốc gia đã từng nhiều lần chiến thắng giặc ngoại xâm trong lịch sử nhưng vào cuối thế kỉ XIX, sau gần 30 năm kháng chiến (1858-1884), Việt Nam đã thất bại và trở thành thuộc địa của Pháp. Tại sao? Em hãy chỉ ra và phân tích rõ các nguyên nhân khiến Việt Nam thất bại trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858-1884)

Bài Làm

 

Việt Nam là quốc gia đã từng nhiều lần chiến thắng giặc ngoại xâm trong lịch sử. Nhưng vào cuối thế kỉ XIX sau gần 30 năm kháng chiến (1858-1884), Việt Nam đã thất bại, trở thành thuộc địa của Pháp vì rất nhiều lý do.

Việt Nam trong lịch sử luôn bị các đế quốc lăm le xâm lược, Trung Quốc, Nguyên Mông…. Dù cho giặc rất mạnh, quân số rất đông, dân tộc ta vẫn đứng lên, đẩy lùi và chiến thắng ngoại xâm.

Nhưng vào năm 1858-19884, Việt Nam đã thất bại dưới tay thực dân Pháp vfi nhiều nguyên nhân.

Thứ nhất, triều đình hèn nhục, nhu nhược, sợ quân Pháp. Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam. Quân dân ta đã chống trả quyết liệt, anh dũng, phá tan âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của địch. Tuy vậy, triều đình Huế vẫn kí hiệp ước Nhâm Tuất (5-6-1862) nhượng cho Pháp nhiều quyền lợi. Triều đình đã thừa nhận quyền cai quản cảu Pháp ở ba tỉnh miền Đông Nam Kì (Gia Định, Định Tường, Biên Hòa) và đảo Côn Lôn. Mở cửa cho Pháp tự do buôn bán và truyền đạo Gia Tô.

Thứ hai, do lực lượng không đủ, thiếu thốn vũ khí, lương thực. Quân đội Pháp hùng mạnh, có nhiều vũ khí tối tân như súng máy, tàu thủy, ngoài ra quân đội rất đông vì vậy mà quân dân ta không thể chọi lại được.

Tiếp đến là do triều đình bảo thủ, không bắt kịp được những tiên tiến trên thế giới. Không cải cách, vẫn giữ nguyên bộ máy điều hành chế độ phong kiến.

Ngoài ra, triều đình và nhân dân không đoàn kết. Trong nội bộ của triều đình chia ra nhiều phe phái. Những chính sách đưa ra không thuận lòng dân chúng. Triều đình ra sức vơ vét tiền của nhân dân để phục vụ cho cuộc sống xa hoa, bồi thường chiến phí cho Pháp. Các ngành kinh tế nông, công, thương nghiệp bị sa sút. Tài chính thiếu hụt, binh lực suy yếu, đời sống nhân dân khổ cực. Hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra bị đàn áp dữ dội.

Ý chí quyết tâm chống giặc của nhân dân vô cùng to lớn. Pháp đi tới đâu cũng vấp phải sự kháng cự của nhân dân. Nhân đang phấn khởi, hăng hái đánh giặc thì giữa lúc ấy, triều đình Huế lại kí kết với thực dân Pháp hiệp ước Giáp Tuất (15/3/1874). Theo đó, Pháp sẽ rút quân khỏi Bắc Kì, còn triều đình thì thừa nhận sáu tỉnh Nam Kì hoàn toàn thuộc Pháp. Tiếp theo, hiệp ước Pa-tơ-nốt khiến chính quyền Việt Nam sụp đổ hoàn toàn.

Trên đấy chính là những lý do, những sai sót vô cùng to lớn đã khiến Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp. Chính quyền Việt Nam phải luôn biết rút kinh nghiệm, đoàn kết với nhân dân để đất nước độc lập, tự do, vững mạnh, đứng lên sánh vai với thế giới.

 

(PBAT, nam, 8a4)

Tại sao chúng ta mất nước (45)

April 18, 2013 Leave a comment

Kiểm tra 45 phút

Môn: Lịch sử

Đề bài: Việt Nam là quốc gia đã từng nhiều lần chiến thắng giặc ngoại xâm trong lịch sử nhưng vào cuối thế kỉ XIX, sau gần 30 năm kháng chiến (1858-1884), Việt Nam đã thất bại và trở thành thuộc địa của Pháp. Tại sao? Em hãy chỉ ra và phân tích rõ các nguyên nhân khiến Việt Nam thất bại trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858-1884)

Bài Làm

Với lòng yêu nước cháy bỏng của nhân dân, Việt Nam là quốc gia đã từng nhiều lần chiến thắng giặc ngoại xâm trong lịch sử vàng của dân tộc nhưng vào cuối thế kỉ XIX sau gần 30 năm kháng chiến ác liệt (1858-1884) với Pháp, Việt Nam đã thất bại và trở thành thuộc địa.

Từ xưa, nước Việt Nam đã bị xâm lược rất nhiều lần nhưng với sự đoàn kết, lòng dũng cảm mà chúng ta đã giành lại được cho mình. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa với sự chỉ huy của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lê Lợi…

Nhưng đến giữa thế kỉ XIX, các nước tư bản phương Tây đẩy mạnh việc xâm chiếm các nước phương Đông trong đó Pháp đã đem 3000 quân sang xâm chiếm Việt Nam. Ngày 1/9/1858, Pháp nổ  súng mở đầu cuộc xâm lược tại Đà Nẵng nhưng thất bại vì vậy Pháp đã kéo vào Gia Định và chiếm được. Với sự cổ hủ nhu nhược của triều đình Huế nên triều đình đã kí với Pháp hiệp ước Nhâm Tuất, nhượng cho chúng nhiều quyền lợi nhất là quyền cai quản của nước Pháp ba tỉnh miền Đông Nam Kì. Vì vậy nhân dân trên cả nước đã nổi dậy kháng chiến nhưng các cuộc kháng chiến diễn ra nhỏ lẻ, không có sự thống nhất trên toàn đất nước nên đã bị dập tắt hoàn toàn. Lực lượng  lại ít hơn so với Pháp. Khi 3 tỉnh miền Đông Nam Kì đã vào tay Pháp triều đình lại không can thiệp chỉ cố vơ vét của cải nhân dân phục vụ cho đời sống xa hoa, hưởng lạc của mình, cùng với đường lối đối nội, đối ngoại kém, lỗi thời. Thực dân Pháp cố đánh chiếm Bắc Kì. Vì thiếu đường lối chính trị đúng đắn nên nhân dân Bắc Kì đã không ngăn cản được được bước tiến của giặc một phần cũng là do công nông nghiệp sa sút, binh lực suy yếu, hàng loạt các cuộc kháng chiến của nhân dân bị đàn áp dữ dội. Vì vậy, triều đình Huế đã vội vàng cầu cứu quân Thanh và cử người ra Hà Nội thương lượng với Pháp đồng thời ra lệnh cho quân ta phải rút hết. Thừa dịp đó, quân Thanh đã ồ ạt sang nước ta cắm tại nhiều nơi, và Pháp đẩy mạnh các cuộc chiến và đem quân tấn công thẳng vào Thuận An. Triều đình lo sợ hoảng hốt xin đầu hàng và chấp nhận kí vào hiệp ước Pa-tơ-nốt khiến nhà nước Việt Nam sụp đổ.

Sự thất bại của Việt Nam ta và trở thành thuộc địa của thực dân Pháp tất cả đều do triều đình nhu nhược, binh lính suy yếu thiếu đường lối chính trị đúng đắn. Song đây là bước đệm đẩy mạnh cho những cuộc kháng chiến của những người yêu nước để cho ra một đường lối đúng đắn hơn giành lại độc lập cho dân tộc nước nhà vào những thế kỉ sau.

(LHQ, nữ, học sinh lớp 8)

 

Tại sao chúng ta mất nước (28)

April 11, 2013 Leave a comment

Kiểm tra 45 phút

Môn: Lịch sử

Đề bài: Việt Nam là quốc gia đã từng nhiều lần chiến thắng giặc ngoại xâm trong lịch sử nhưng vào cuối thế kỉ XIX, sau gần 30 năm kháng chiến (1858-1884), Việt Nam đã thất bại và trở thành thuộc địa của Pháp. Tại sao? Em hãy chỉ ra và phân tích rõ các nguyên nhân khiến Việt Nam thất bại trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858-1884)

Bài Làm

 

Việt Nam là quốc gia đã từng nhiều lần chiến thắng giặc ngoại xâm trong lịch sử nhưng vào cuối thế kỉ XIX, sau gần 30 năm kháng chiến (1858-1884), Việt Nam đã thất bại và trở thành thuộc địa của Pháp. Việt Nam thất bại trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1858-1884) do khá nhiều nguyên nhân. Trước hết là do ở giai đoạn này, mặc dù trước khi bị thực dân Pháp xâm lược, Việt Nam là một quốc gia độc lập có chủ quyền, đạt được những tiến bộ nhất định về kinh tế, văn hóa, nhưng chế độ phong kiến Việt Nam đang có những biểu hiện khủng hoảng, suy yếu nghiêm trọng. Nông nghiệp sa sút, đất đai rơi vào tay địa chủ, cường hào. Dân lưu tán phổ biến. Đê điều không được chăm sóc. Mất mùa, đói kém xảy ra liên miên. Công thương nghiệp bị đình đốn. Chính sách “bế quan tỏa cảng” khiến cho nước ta bị cô lập với thế giới bên ngoài. Nhất là do quân sự lạc hậu, chính sách đối ngoại hết sức sai lầm, đặc biệt là việc “cấm đạo”, đuổi giáo sĩ phương Tây, đã gây ra những mâu thuẫn làm rạn nứt khối đoàn kết dân tộc, gây bất lợi cho sự nghiệp kháng chiến.

Trong thời kì đầu tấn công xâm lược nước ta, giặc Pháp đã vấp phải sự kháng cự ngoan cường của dân quân ta. Pháp nhiều lần đã rơi vào thế bí, đã tính phải rút quân về nước. Nhưng nhà Nguyễn, thay vì ủng hộ lại chọn con đường cầu hòa với Pháp để đàn áp phong trào nông dân trong nước, không chỉ vậy mà còn bắt tay với Pháp tiêu diệt hết phong trào. Điều này đã từng bước tạo điều kiện cho Pháp xâm lược và thôn tính nước ta. Không chỉ vậy, các quan trong triều đình thuộc một bộ phận muốn chống Pháp như Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu… thì lại bị chi phổi bởi kiểu đánh, kiểu chiến thuật phong kiến nên so với chiến thuật hiện đại của Pháp không địch nổi nên đã thất bại.

Trong giai đoạn này có nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra như cuộc kháng chiến chống Pháp ở Gia Định và các tỉnh miền Đông Nam Kì. Các cuộc khởi nghĩa này diễn ra liên tục, rộng khắp, gây nhiều khó khăn, tổn thất cho giặc nhưng lại thiếu tổ chức, thiếu sự lãnh đạo thống nhất nên cuối cùng đều thất bại. Ngoài ra, thất bại còn do bộ phận lãnh đạo phong trào kháng chiến chủ yếu là các văn thân sĩ phu yêu nước hạn chế về giai cấp, về lịch sử nên chưa có chính sách đúng đắn, mang nặng tư tưởng phong kiến.

Trong số các nguyên nhân thì có lẽ nguyên nhân do Nhà Nguyễn là nguyên nhân chính dẫn đến thất bại của dân tộc ta. Là thế lực cầm quyền của đất nước, đứng đầu nhà nước, nhà Nguyễn không thể không nhận trách nhiệm để mất nước vào tay Pháp. Lúc đầu, nhà Nguyễn cũng cố gắng chống chọi Pháp nhưng do kẻ thù vừa hơn về quân sự lại quá khôn khéo, nhà Nguyễn đã không tìm được chủ trương và biện pháp hữu hiệu để vượt qua. Các chính sách của nhà Nguyễn đã khiến họ tách dần ra khỏi cuộc kháng chiến của nhân dân, tạo điều kiện cho kẻ địch xâm lược. Họ đã đi từ thủ để hòa đến chủ hòa rồi đầu hàng. Họ không đoàn kết mà còn phá hoại các cuộc kháng chiến của nhân dân, bỏ mặc nhân dân với cuộc chiến đấu nên đã thất bại trong cuộc chiến.

Tất cả những nguyên nhân trên đã dẫn đến thất bại của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1858-1884)

( NDL, nữ, học sinh lớp 11)

 

%d bloggers like this: