Archive

Posts Tagged ‘thực tiễn giáo dục lịch sử’

Suzuki Kiyoharu và “Hồ sơ thực tiễn về giáo viên nông thôn-Cách mạng môn Xã hội” (Bokushoten, 1958)

July 21, 2014 Leave a comment

Suzuki Kiyoharu và “Hồ sơ thực tiễn về giáo viên nông thôn-Cách mạng môn Xã hội”

(Bokushoten, 1958)

 

Môn Xã hội vốn bị cả phái bảo thủ và phái cấp tiến công kích là “loanh quanh với chủ nghĩa kinh nghiệm” ở vào thời điểm thực tiễn của Suzuki ra đời đang đứng ở khúc ngoặt lớn. Môn Xã hội dao động giữa học tập giải quyết vấn đề, chương trình hạt nhân (core-curriculum), tính thống nhất và hệ thống của khoa học đã thay hình đổi dạng mạnh mẽ bởi sự chuyển động của các đảng phái hơn là thay đổi triết lý.

Tuy nhiên, lời phát biểu của Sukuki “Việc coi học sinh là trung tâm, tức là dựa vào hứng thú, lòng mong muốn của học sinh từ đầu đến cuối nếu như không được kế thừa như là di sản văn hóa thì sẽ không thể nào tạo ra con người sáng tạo” có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Sự tổ chức, phát triển trí tuệ con người từ mối nghi ngờ, hứng thú của học sinh là hạt nhân trong giờ học của Suzuki.

Các giáo viên nông thôn là người có đời sống trải nghiệm tính phong kiến trong quá trình cận đại hóa của Nhật Bản đồng thời cũng là nhà nghiên cứu văn hóa trẻ em. Thực tiễn giáo dục ở đó vừa làm cho học sinh trải nghiệm lịch sử của họ vừa giáo dục ý thức lịch sử của học sinh  có mối liên hệ với giờ học của Shirai Haruo và Yasui Toshio. Đó là các giờ học kế thừa một cách có phê phán sự hình thành chủ thể và thành quả lịch sử học để tái sáng tạo.

Trong quá trình phê phán tri thức đã có của học sinh, đặt ra câu hỏi về ý nghĩa của chúng và kiểm chứng lịch sử thông qua trí tuệ của học sinh có thể thấy cây cầu bắc qua giữa học tập giải quyết vấn đề và học tập mang tính hệ thống.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)

 

Advertisements

Aika Hideo và “Thời ngựa hoang còn sống”

July 19, 2014 Leave a comment

Aika Hideo và “Thời ngựa  hoang còn sống” 

(“Tân giáo dục lịch sử-địa lý”, Kokudosha, 1954).

 

 

“Thời ngựa hoang còn sống” là hồ sơ thực tiễn được thực hiện với đối tượng học sinh lớp 4 ở trường tiểu học Tomisato thuộc tỉnh Chiba vào năm 1952. Aika khi nhìn thấy hiện thực cuộc sống khắc nghiệt của nông thôn đã cảm nhận được vấn đề trong học tập môn Xã hội lấy cái trục là mối quan hệ phụ thuộc qua lại dựa vào quy luật chức năng xã hội đương thời. Aikawa người chủ trương “việc nắm được quan hệ nguyên nhân kết quả giữa quá khứ và hiện thực một cách khoa học từ đó nhắm tới tương lai tươi sáng” chính là giáo dục lịch sử, đã đặt ra mục tiêu xây dựng học tập lịch sử một cách hệ thống ở địa phương.

Tangen “Thời ngựa hoang còn sống” có vị trí là học tập  về thời đại Edo trong học tập lịch sử một cách hệ thống về đại phương bắt đâu từ “đời sống đi săn”. Ở Tomimura vốn là một bộ phận thuộc khu thả ngựa hoang của Mạc phủ  vẫn còn lại những bờ tường để dồn ngựa. Học sinh đã vừa tiến hành điền dã vừa tìm hiểu về bối cảnh lịch sử của những bức tường này cũng như mối liên hệ với cuộc sống của người nông dân trong quá khứ. Aika đã làm cho học sinh phát hiện ra câu hỏi “tại sao võ sĩ lại không tự mình bắt ngựa mà lại cho nông dân làm” và từ đó ông xây dựng nên giờ học môn xã hội với quá trình triển khai là quá trình trả lời câu hỏi này. HỌc sinh đã sử dụng bản đồ quá khứ và các lá thư của người chăn ngựa làm đầu mối để làm sáng tỏ mối quan hệ nguyên nhân-kết quả của các hiện tượng lịch sử trong khu vực. Kết quả học tập đã được tóm tắt lại thành “câu chuyện về người nông dân” dưới dạng kịch và nó thể hiện nhận thức lịch sử của học sinh.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)

 

 

Newspaper in Education (3)

May 25, 2014 Leave a comment

Đặc trưng của NIE

Nếu như việc giáo viên sử dụng báo chí làm giáo tài để tiến hành giờ học vậy thì nó khác vì so với việc trước kia các giờ học có lấy giáo tài bổ trợ là các bài cắt ra từ báo?

NIE khi so sánh với cách thức truyền thống khi báo chí được cắt ra với kinh phí của giáo viên, trường học và gia đình có những điểm khác biệt sau:

(1) Giới báo chí và giới giáo dục liên kết chặt chẽ và cứ định kì lại cung cấp các tờ báo cho lớp học.

(2) Chi phí của số báo đó là do các tòa báo và Hội văn hóa giáo dục Nhật Bản mỗi bên chịu một nửa, trường học và học sinh không phải trả bất kì một chi phí nào.

(3) Giới giáo dục và giới báo chí phối hợp tiến hành phong trào và tổ chức nên các tổ chức NIE theo đơn vị đô,đạo, phủ, tỉnh.

Phong trào học tập với sự kết hợp của giới báo chí và giới giáo dục này là đặc trưng của NIE ở nước ta.

Hiệu quả của NIE

Vào năm 1998-1999 Hội văn hóa giáo dục báo chí Nhật Bản đã tiến hành điều tra hiệu quả của NIE sau khi  tiến hành phong trào trong thực tiễn ở trường học. Khi so sánh kết quả điều tra trước và sau khi thực hiện NIE với học sinh thì thấy  số lần đọc báo và thời gian đọc báo của học sinh tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ  thông đều tăng. Thêm nữa, sau khi thực hiện NIE thì học sinh đã quan tâm hơn tới xã hôi với tỉ lệ đối với “sự cố, vụ án xã hội” (52.5%), “sức khỏe-phúc lợi-môi trường” (33.6%), “nước ngoài” (21.4%), “địa phương” (20.4%) . Thêm nữa,  sau khi thực hiện  học sinh đã trả lời thích làm các việc với tỉ lệ phần trăm như sau: “đọc văn bản” (49.6%), “biết được chi tiết sự việc do mình tự điều tra” (49.1%), “nghe ý kiến người khác” (38.9%).

Theo kết quả điều tra dành cho giáo viên sau khi thực hiện NIE các môn thực hiện NIE nhiều nhất là môn Xã hội (từ tiểu học đến THPT), tiếp theo là các hoạt động học tập khác. Ngoài ra sau khi sử dụng báo chí ở học sinh còn có kết quả: “đọc báo liên tục” (83%), “gia tăng việc nói chuyện với gia đình và bạn về về các bài báo” (76.3%), “trang bị cho bản thân thái độ  học tập tự mình điều tra” (74%), “học tập sôi nổi tại lớp” (70.3%), “gia tăng đọc và viết”

(59%). Đây là phản ứng thể hiện ý nghĩa học sinh “trở nên thích hơn” và là kết quả khách quan được công nhận.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ “Từ điển giáo dục môn Xã hội” (Gyosei, 2000)

 

Không quá khó để trò yêu lịch sử!

April 2, 2014 Leave a comment

(GD&TĐ) – Hiện nay, các trường phổ thông đang phải đối mặt với tình trạng học sinh chán Sử, ghét Sử. Đó là một thực tế đáng suy ngẫm. Làm sao để biến giờ Sử khô khan thành một giờ học hấp dẫn, cuốn hút, khiến học sinh yêu thích môn học này là trăn trở có lẽ không chỉ của giáo viên môn Lịch sử.

 

Đam mê Lịch sử và được rất nhiều học sinh yêu quý, thầy giáo Nguyễn Quốc Vương – giáo viên Lịch sử Trường THPT Nguyễn Tất Thành (Hà Nội) đã làm được điều này.

Cho HS trải nghiệm là nhà sử học

Hiện nay các phương pháp dạy học lịch sử đang được dùng như: sử dụng đồ dùng trực quan, miêu tả, tường thuật, giải thích…đang gặp khó khăn.

Theo thầy Nguyễn Quốc Vương, học sinh trong thời đại toàn cầu hóa, thông tin hóa đã tự tin và năng động hơn rất nhiều. Việc lắng nghe thụ động đặc biệt là nghe những điều đã biết không còn làm các em hứng thú. Ví dụ việc giáo viên mải mê “miêu tả” Kim tự tháp Ai cập trong khi học sinh đã biết hoặc chỉ cần một vài cú nhấp chuột là tìm thấy thông tin không đem lại hiệu quả.

“Bản thân tôi thường áp dụng các cách thức tổ chức học tập như: điều tra thông tin – thảo luận – trình bày kết quả hoặc nghiên cứu tư liệu gốc – thiết lập giả thuyết – thảo luận để khẳng định hoặc bác bỏ giả thuyết…” – thầy Vương chia sẻ.

Một cách thức khác thầy Vương thường sử dụng là khai thác kênh hình với việc cho học sinh trải nghiệm làm nhà sử học. Học sinh sẽ được cung cấp một bức tranh (tư liệu gốc), đóng vai nhà sử học giải mã bức tranh đó, thiết lập giả thuyết, tìm kiếm thông tin để bác bỏ hoặc khẳng định giả thuyết đó.

Khẳng định việc ứng dụng chủ nghĩa kinh nghiệm cũng rất quan trọng và thường đưa nội dung lịch sử gần lại với đời sống thực tế của học sinh hoặc lấy trải nghiệm của học sinh làm điểm xuất phát để tìm hiểu nội dung lịch sử, thầy Vương dẫn ví dụ:

“Khi dạy “Sơ lược về môn Lịch sử” bài đầu tiên trong chương trình lớp 6, tôi không chọn cách “truyền đạt trực tiếp” mà hướng đến việc học sinh chủ động tự mình lý giải nội dung nói trên. Để thực hiện bài học, thông qua giáo viên chủ nhiệm, tôi yêu cầu mỗi học sinh chuẩn bị 5 tấm ảnh của bản thân ở 5 thời điểm khác nhau. Bản thân tôi cũng chuẩn bị 5 tấm ảnh của bản thân ở 5 giai đoạn khác nhau cùng 5 tấm ảnh về Hà Nội qua các giai đoạn lịch sử.

Bài học sẽ bắt đầu bằng việc giới thiệu về bản thân qua 5 tấm ảnh. Tiếp đến là mời 3 em học sinh giới thiệu với cả lớp về bản thân qua ảnh. Đây là bài học đầu tiên nên cũng là thời điểm thầy và trò làm quen.

Sau khi giới thiệu xong, giáo viên sẽ đặt ra câu hỏi: “Thầy và các bạn trong những tấm ảnh có thay đổi theo thời gian không?”, “Sự thay đổi đó như thế nào?”… Sau khi học sinh trả lời, thảo luận giáo viên sẽ khái quát giúp học sinh hiểu: cá nhân con người thay đổi theo thời gian với chu trình ra đời – lớn lên – trưởng thành – lão hóa. Tiếp đến cho học sinh nhận xét về sự thay đổi của Hà Nội qua các thời kì lịch sử.

Mục đích của việc làm này là giúp học sinh hiểu rằng “Sự thay đổi theo thời gian và những gì diễn ra trong quá trình đó chính là lịch sử. Có lịch sử của cá nhân, lịch sử của khu phố, ngôi làng, lịch sử của quốc gia – dân tộc, lịch sử của thế giới”. Bằng việc so sánh cảm xúc trước và sau khi làm quen đối với thầy giáo, các bạn, giáo viên sẽ dẫn dắt giúp học sinh hiểu được ích lợi của việc học lịch sử: hiểu biết dẫn đến thân thiết, yêu mến và có trách nhiệm với bản thân mình, người xung quanh và cộng đồng… Đồng thời các tấm ảnh đó cũng là tư liệu lịch sử khi tìm hiểu về cá nhân từ đó dẫn dắt học sinh hiểu về các “tư liệu lịch sử”…

Phải đổi mới kiểm tra, đánh giá

Nữ sinh Trường THPT Nguyễn Tất Thành (Hà Nội)

Thông thường, khi tiến hành kiểm tra đánh giá, các giáo viên thường chỉ chú trọng đến việc học sinh ghi nhớ được những gì. Học sinh làm bài thường nhớ và ghi lại những gì giáo viên cho ghi hoặc khá hơn là sắp xếp chúng một cách lô-gic kèm theo vài lời nhận định là đạt yêu cầu.

Tuy nhiên, điều mà thầy giáo Nguyễn Quốc Vương muốn nhắm tới năng lực nhận thức lịch sử khoa học và phẩm chất công dân với các đề kiểm tra dưới dạng giải mã tư liệu”hoặc đưa ra các lựa chọn dựa trên việc sử dụng các sử liệu.

Từ câu hỏi theo cách ra đề truyền thống: “Trình bày hoàn cảnh và nội dung cải cách Minh Trị ở Nhật Bản giữa thế kỉ XIX”, thầy Vương thay đổi thành:

“Vào giữa thế kỉ XIX, trước áp lực ngày một gia tăng của các nước đế quốc phương Tây, Nhật Bản đứng trước hai lựa chọn:

1. Cải cách, mở cửa để xây dựng đất nước theo mô hình các nước phương Tây để bảo vệ độc lập dân tộc.

2. Duy trì chính sách hiện thời, cự tuyệt giao lưu với phương Tây để bảo vệ độc lập dân tộc.

Trong bối cảnh đó, nhiều kế sách đã được đưa ra. Em hãy đóng vai là một người Nhật Bản đương thời có chí lớn để đưa ra kế sách cho Nhật Bản.”

Với kiểu đề truyền thống, học sinh sẽ cố gắng viết lại những gì nhớ được từ bài giảng và sách giáo khoa. Nhưng đối với đề dạng mở nói trên, trong bản kế sách của mình, học sinh đã biết đứng ở nhiều góc độ để phân tích bối cảnh lịch sử Nhật Bản và thế giới giữa thế kỉ XIX, biết so sánh trình độ văn minh của Nhật Bản và phương Tây, biết dùng các sự kiện lịch sử có thật để lập luận rất thuyết phục. Học sinh đã hóa thân thành người Nhật Bản đương thời có chí lớn hoặc một kiếm sĩ vô danh, một người ăn mày ở thành phố Edo, một du học sinh tại Anh quốc… để trình bày kế sách.

“Những đề kiểm tra như vậy luôn nhận được sự hào hứng hưởng ứng từ học sinh” – thầy Vương khẳng định.

Không phải là phương thuốc thần kỳ

Nhiều người coi đổi mới phương pháp dạy học là chìa khóa vạn năng, là phương thuốc thần kì đối với giáo dục, nhưng thầy Nguyễn Quốc Vương cho rằng, trước khi nghĩ đến phương pháp dạy học hãy nghĩ đến triết lý giáo dục:

Nghe thì có vẻ cao siêu nhưng giống như trong thực tế, trước khi nghĩ đến việc “đi đến địa điểm A như thế nào?” thì việc đầu tiên nên nghĩ đến thật cẩn thận là “đến đó để làm gì?”. Không giải quyết được vấn đề này sẽ khiến việc dạy học trở nên rắc rối và bế tắc. Xét ở phạm vi hẹp với tư cách là giáo viên dạy môn Lịch sử, phải trả lời được câu hỏi “Học Lịch sử để làm gì?”, “Lịch sử có ích gì cho cuộc sống của học sinh?”.

“Khi đưa ra câu hỏi này nhiều người sẽ trả lời ngay: “Học Lịch sử để yêu nước”, “giữ gìn truyền thống”, “để rút ra bài học trong quá khứ”…. Những câu trả lời này không sai nhưng theo tôi nó là sản phẩm thể hiện tư duy nhìn từ góc độ “quốc gia”. Trên thực tế, con người hành động vì lợi ích. Lợi ích càng cụ thể, thiết thực thì hành động càng mạnh mẽ. Giáo dục Lịch sử muốn thu hút được sự quan tâm, chú ý của người học thì nó phải đem lại lợi ích mà người học nhìn thấy và hưởng thụ trực tiếp” – thầy Vương cho biết thêm.

Chính vì vậy, khi dạy Lịch sử, bên cạnh các lợi ích nhìn từ góc độ quốc gia, thầy Vương cũng rất chú ý đến những lợi ích nhìn từ góc độ cá nhân – công dân. Xét ở góc độ này, giáo dục lịch sử phải góp phần giúp học sinh cải thiện được giao tiếp của bản thân đối với gia đình (nhiều thế hệ), cộng đồng xung quanh (địa phương, những người trong một nước và những người đến từ nền văn hóa khác).

Giáo dục lịch sử cũng phải giúp học sinh nhận thức được hiện thực đang diễn ra trước mắt, giải thích nó từ góc độ lịch sử bằng các sử liệu thực chứng. Giáo dục lịch sử phải giúp cho học sinh có những năng lực cần thiết như năng lực tư duy phê phán, năng lực đưa ra quyết định, năng lực sáng tạo, năng lực biểu hiện…

Xa hơn nữa là phải nhắm tới việc tạo nên những phẩm chất công dân tốt đẹp ở người học sinh. Giáo dục lịch sử phải góp phần quan trọng để tạo nên hình ảnh người công dân mơ ước của đông đảo nhân dân. Đó là những con người có khả năng nhận thức và cải tạo hiện thực để tạo nên một hiện thực khác tốt đẹp hơn.

Nói cách khác đó là việc học sinh đi từ học tập Lịch sử đến hành động trong thực tiễn với vai trò của người công dân góp phần sáng tạo nên lịch sử. Nghĩa là, người giáo viên khi dạy Lịch sử phải nhắm đến hình thành ở học sinh hai thứ cần thiết: năng lực nhận thức lịch sử một cách khoa học và phẩm chất công dân.

Một khi trả lời được rõ ràng câu hỏi “Dạy Lịch sử để làm gì?”, người giáo viên sẽ tìm kiếm được câu trả lời cho cho các câu hỏi tiếp theo: “Dạy cái gì?”, “Dạy như thế nào?”. Và khi làm được điều đó, thầy Vương khẳng định, giáo viên sẽ làm cho học sinh yêu thích môn Lịch sử.

Hiếu Nguyễn

Nguồn: báo Giáo dục và thời đại

Người thầy đặc biệt của chúng tôi

April 2, 2014 Leave a comment

Mỗi người thầy, người cô khác nhau đều ghi dấu ấn khác nhau trong tim mỗi học sinh trường Nguyễn Tất Thành. Đối với chúng tôi, sau một năm được học “người ông, người cha già” tràn trề kinh nghiệm – Lê Đình Cương , khi chuyển sang học thầy Nguyễn Quốc Vương, chút bỡ ngỡ cũng không tránh khỏi khi hiện lên trong mắt mỗi đứa học trò. Tuy nhiên, chỉ sau một buổi giới thiệu và làm quen, thầy Vương đã trở thành một trong những thầy giáo được chúng tôi yêu mến nhất!

Thầy giáo Nguyễn Quốc Vương

Thầy Nguyễn Quốc Vương đã từng là một sinh viên của Đại học Shiga (Nhât bản) từ tháng 19/2006 đến 4/2011 – khoảng thời gian thầy đang theo học thạc sĩ ở nơi đất khách quê người, thầy đã lấy được bằng TOEFL và chứng chỉ tiếng Nhật N2 (2008) và N1 (2010). Sau khi quay trở về Việt Nam và trở thành thầy giáo trẻ nhất trong đội ngũ giáo viên của trường Nguyễn Tất Thành từ tháng 11/2011, thầy đã nhận dạy ba lớp mười một và ba lớp tám. Sau năm năm học tập và sinh sống tại Nhật, nhận thức được những sự tiến bộ trong nền Giáo dục của Nhật rồi từ đó, thầy dần dần áp dụng những tiến bộ, những phương pháp phù hợp vào trong các giờ học lí thuyết của thầy. Qua các giờ học lịch sử thú vị đó, thầy nhận ra rằng học sinh Việt Nam rất năng động, thông minh và có mối quan tâm đến lịch sử, tư duy sắc sảo và cách phê phán sâu sắc khi biết nhìn nhận lịch sư đa chiều, dùng lịch sử để tham chiếu so sánh với hiện tại. Những điều này được bộc lộ rất rõ từ ý thức trong giờ học đến những câu hỏi chuyên môn về lịch sử, qua cách ứng xử trong giao tiếp với giáo viên cũng như bạn bè xung quanh của học sinh Nguyễn Tất Thành. Điều này đồng nghĩa với việc các bạn học sinh đã có ý thức công dân cao, có trách nhiệm đối với sự phát triển của cộng đồng, dân tộc mình.

Đối với thầy, dạy học không phải là bắt học sinh học thuộc những ghi chép trong sách giáo khoa, các bài lí thuyết màu xám nặng nề, không phải truyền thụ tri thức lịch sử cho học sinh mà là giúp học sinh phát triển nhận thức về lịch sử, giúp học sinh “xem sự kiện lịch sử đó có thật hay không?” (dựa vào tư liệu lịch sử mà học sinh tự tìm hiểu được) “Các sự kiện đó có ý nghĩa gì đối với hiện tại?” Và người giáo viên phải biết tôn trọng nhận thức học sinh của mình, tôn trọng tư duy độc lập của học sinh . Các giờ giảng bài và cách ra đề kiểm tra của thầy cũng gây ấn tượng với lớp rất nhiều. Đề kiểm tra của thầy thường khác so với các thầy cô cùng bộ môn. Đó không phải là học sinh học thuộc những gì ghi trong sách giáo khoa rồi trả lời câu hỏi hay ngồi nghe giảng về những vấn đề khô khan trong đó mà là thầy đưa ra những câu nói của những người nổi tiếng hay những tình huống để học sinh có thể đặt bản thân mình vào đấy và xử lí, những câu chuyện có liên quan đến bài giảng và thỉnh thoảng là những câu nói vui, những câu hỏi để học sinh có thể phát huy tính tư duy sáng tạo, những câu chuyện cười để giảm bớt căng thẳng trong giờ học, để thầy và trò có thể gần gũi nhau hơn, hiểu nhau hơn và cũng là để học sinh gắn những sự kiện lịch sử vào cuộc sống thường ngày, giúp học sinh dễ hình dung, tưởng tượng, hiểu và ghi nhớ sự kiện ấy theo tư duy logic đúng đắn của bản thân mình.

Đôi khi, thầy lại hỏi chúng tôi “Các em có bao giờ thắc mắc học lịch sử để làm gì không?” Mỗi nước, mỗi dân tộc đều có một lịch sử dựng nước và giữ nước của riêng dân tộc đó, mỗi người công dân đều phải biết đến lịch sử của nước mình, dân tộc mình. Đó như là gốc của một cái cây. Khi nắm chắc, biết chắc và hiểu được gốc rễ ấy thì mới có thể đứng lên , mới có thể tiếp tục phát triển lành mạnh để tạo ra những người công dân ưu tú, có tri thức, có phẩm chất, năng lực cần thiết để cải biến, xây dựng đất nước tốt đẹp hơn. Muốn như vậy, bước đầu chúng ta cần phải biết yêu thích lịch sử, hứng thú, tìm hiểu các sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử. Đây là tiền đề cần thiết để trở thành một người công dân tốt. Vì vậy mọi người đều phải học lịch sử.

Một người thầy giỏi, một người thầy biết quan tâm và tôn trọng học sinh, một người thầy hết lòng vì học sinh cũng như sự nghiệp trồng người. Điều gì đã khiến cho một con người bình thường trở thành một con người tuyệt vời, vĩ đại đến vây? Đó là vì lòng yêu mến lịch sử, lòng yêu thương những lứa học trò và là tâm huyết cả đời của thầy. Thầy chia sẻ rằng “ Hi vọng của thầy đó là có một thế hệ không chỉ giỏi về tri thức mà còn quan tâm đến sự phát triển của cộng đồng, dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa và hòa nhập quốc tế. Đó là mục tiêu quan trọng hàng đầu trong việc giáo dục tri thức cho học sinh của tất cả những người làm trong ngành Giáo dục chứ không phải của riêng mình thầy!”

Năm tháng rồi cũng qua đi, rồi không biết sẽ có bao nhiêu thầy cô nữa sẽ đi qua cuộc đời cắp sách của mỗi đứa học sinh chúng tôi, nhưng hình ảnh về một người thầy giáo trẻ trung, thân thiện và hết lòng vì học sinh sẽ là hình ảnh in đậm mãi trong kí ức của tôi và mỗi đứa học trò 8A5, dù có trôi qua bao nhiêu mùa trống tan trường đi nữa…

Tác giả: Nguyễn Quỳnh Hoa – 8A5

“Poster – Presentation”: Tìm kiếm, thể hiện và suy ngẫm

April 2, 2014 Leave a comment

Lịch sử luôn được coi là một bộ môn khó học, khó nhớ và rất khô khan. Vì vậy, vai trò của người thầy dường như quan trọng hơn bao giờ hết. Mong muốn đem đến cho học sinh tình yêu thực sự với môn Lịch sử, thầy giáo Nguyễn Quốc Vương luôn tìm tòi, đổi mới cách học, cách giảng dạy và hình thức kiểm tra.

Lớp 8A6 chúng tôi học Lịch sử rất tự nhiên qua những câu chuyện hấp dẫn . Học sinh chúng tôi không phải viết quá nhiều, thay vào đó, chúng tôi có cơ hội độc lập suy nghĩ, thoải mái đưa ra ý kiến của mình để cùng thảo luận. Các tiết Lịch sử ngày càng thú vị hơn, suốt cả tiết, nụ cười tươi rói luôn nở trên môi thầy và trò. Được học thầy Vương, chúng tôi có cơ hội làm rất nhiều phiếu bài tập, được tranh luận về nội dung và ý nghĩa các bức tranh…  Hình thức kiểm tra của thầy không đòi hỏi học sinh học vẹt mà cần sự tư duy của mỗi cá nhân. Qua đó, chúng tôi có thể rèn luyện khả năng tự đọc sách, tìm tư liệu và phát triển hướng suy nghĩ riêng của mình.

Và một trong những hình thức học tập mới đây nhất được thầy tổ chức cho học sinh khối 8 là “Học tập Lịch sử thông qua hình thức Poster – Presentation”.

Thế nào là học tập thông qua hình thức Poster – Presentation?

Bạn Nguyễn Thị Quỳnh Anh – lớp trưởng lớp 8A6 cho biết: “Đây là một bài tập tìm hiểu về “Các nước châu Á giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 – 1939)” được thể hiện trên poster, có thể là trên giấy A0, nhiều tờ A4 hoặc dưới dạng powerpoint. Chúng mình được lấy tư liệu trên internet bằng cách dùng điện thoại, ipad… hay xuống thư viện để tra cứu, thu thập tư liệu từ sách, truyện. Cá nhân mình thấy đây là một hoạt động rất bổ ích”.

Về mục đích của phương pháp trên, thầy Vương nói với chúng tôi: “Qua hoạt động này, thầy muốn tạo điều kiện cho các em chủ động tìm kiếm và xử lí thông tin; tái cơ cấu các thông tin theo chủ đề và nhận thức của từng người nhằm rèn luyện kĩ năng tìm kiếm thông tin, tư liệu; kĩ năng làm việc nhóm, tinh thần hợp tác; kĩ năng trình bày trên giấy, powerpoint và thuyết trình. Thầy còn muốn các em tập cho mình thói quen biết lắng nghe và tự tin tranh luận trước tập thể hay với người khác nữa”.

 

Thầy giáo Nguyễn Quốc Vương bên các học trò

Vậy các lớp khác đã tham gia hoạt động học tập này như thế nào?

Bạn Nguyễn Thị Hải Yến, lớp trưởng lớp 8A4 nói: “Trong khoảng thời gian 2 tuần, không khí lớp mình rất sôi nổi và nhiệt tình. Tuy rằng thi thoảng cũng có nghe thấy vài tiếng tranh luận nhưng cuối cùng, các nhóm cũng đã hoàn thành rất tốt, nhóm nào cũng hào hứng để được lên thuyết trình đầu tiên”.

Bạn Quách Ngọc Quốc Trung lớp 8A2 vui vẻ chia sẻ với chúng tôi rằng: “Các bạn lớp mình cùng nhau xuống thư viện để tìm thông tin rồi những buổi chiều không phải học thì các nhóm thường hẹn nhau đến làm bài. Nói chung là vui lắm!”.

Nhưng bên cạnh đó, trong khi làm bài các nhóm cũng đã gặp không ít khó khăn. Bạn thì bảo: “Nhiều khi tớ không hiểu rõ về các thông tin, tư liệu cho lắm!”. Có bạn lại bảo: “Để hoàn thành tốt bài tập, chúng tớ đã phân công công việc rất rõ ràng, sau đó chia nhau đi tìm thông tin từ các nguồn. Nhiều khi chúng tớ còn phải lên các trang web tiếng Anh tra cứu tài liệu nữa đấy!” Thế nhưng, các bạn đều có chung niềm tự hào: “Nhóm chúng mình đã hoàn thành rất tốt cậu ạ!”.

Trong trường tôi, không chỉ ở môn lịch sử mà còn ở rất nhiều bộ môn khác, chúng tôi đã được tiếp cận với những phương pháp và hình thức học tập tiên tiến như thế. Và như thế, với chúng tôi, mỗi ngày đến trường thực sự là “một ngày vui”.

Vậy chúng ta hãy cùng chiêm ngưỡng hình ảnh của các bạn trong suốt hoạt động này để thay cho lời kết nhé!

 

 

“Nào, chúng mình cùng vẽ!”

 

 

Đại diện lớp 8A5 thuyết trình kết quả nghiên cứu

 

Đại diện hùng hậu của lớp 8A6 tự tin trình bày

 

 

 

Và đây là thành quả đáng tự hào của chúng tớ

 

Tác giả: Phạm Kim Phượng – lớp 8A6

Nguồn: trang web NTT (các bạn xem các hình ảnh tại đây) 

NHỮNG BƯỚC ĐI CỦA SÁCH GIÁO KHOA NHẬT BẢN HIỆN ĐẠI – Từ thời Minh Trị đến Hiện đại- (13)

December 22, 2013 Leave a comment

Tác giả: Kimata Kiyohiro

Đại học Shiga, 10/2006

Người dịch: Nguyễn Quốc Vương

(Bản tóm tắt)

(2) ý nghĩa, phương châm chỉ đạo của “quan sát quê hương” trong môn Quốc dân.

Trong sách “Quan sát quê hương” dành cho giáo viên đã trình bày về “ý nghĩa” của môn giáo khoa này như sau:

Mục đích của quan sát quê hương là “ làm cho học sinh quan sát các hiện tượng ở quê hượng,  trở nên thân thiết với quê hương, hiểu biết về quê hương và giáo dục tấm lòng yêu mến bảo vệ quê hương”, và “là nền tảng cho việc học tập địa lý và quốc sử trong môn Quốc dân”. Đây là tuyên ngôn về những gì được nhấn mạnh trong giáo dục quê hương đầu thời Showa: cho học sinh trải nghiệm những gì gần gũi trong cuộc sống, liên kết trực tiếp với lòng yêu quê hương và yêu quốc gia.

Với phương châm “cho học sinh quan sát quê hương với tư cách là môi trường sống gần gũi với học sinh, làm cho học sinh gần gũi và yêu quê hương”, sách đã chỉ ra tính cụ thể của việc học tập và điểm được coi là nơi đánh thức hứng thú của học sinh. Bên cạnh đó, sách còn nhấn mạnh: “quê hương là mảnh đất học sinh ra đời và cũng là nơi tổ tiên sinh sống lâu  đời” nên nó có ý nghĩa sâu sắc đối với học sinh về mặt tinh thần.

“Quan sát quê hương” được xây  dựng trong mối quan hệ với mục tiêu hướng tới của môn Quốc dân, môn học tổng hợp, cho nên nó đứng trên quan điểm quê hương theo chủ nghĩa yêu nước coi quê hương là “một bộ phận của hoàng quốc”. Vì vậy “quan sát, nắm vững về quê hương sẽ giúp lý giải cụ thể quốc thổ quốc thế của chúng ta. Việc giáo dục tình yêu quê hương sẽ mở rộng tinh thần yêu đất nước và xiển dương sự tự giác về sứ mệnh của hoàng quốc”.

Về “phạm vi quê hương” sách viết: “ đó là khu vực lấy trung tâm là trường học của học sinh và từ trường học đó sử dụng các phương tiện giao thông hoặc đi bộ có thể quan sát các sự việc, sự vật trong thời gian ở trường học”. Phương châm chỉ đạo thể hiện ở 6 điểm sau:

(1) Quan sát, khảo sát thực tế các hiện tượng để có  thái độ xử lý chúng.

Làm quen với quê hương, làm cho học sinh học tập trực tiếp từ quê hương. Tránh việc nhồi nhét tri thức, quan sát hời hợt quê hương. Kiến thức phải hạn chế ở mức tối thiểu.

(2) Hướng học sinh vào việc quan sát các hiện tượng trong mối liên hệ của chúng.

Ví dụ như cho học sinh quan sát có lựa chọn các núi, sông, tiếp theo là cho quan sát đường phố, cầu và cuối cùng là quan sát mối liên hệ tương hỗ giữa các hiện tượng và cuối cùng làm cho học sinh nắm được toàn thể.

(3) Coi trọng việc tác nghiệp.

Cho học sinh vẽ bản đồ, sơ đồ, đọc bản đồ, chế tạo mô hình, bảng số liệu thống kê, nắm được sự vật, hiện tượng một cách chính xác, cụ thể.

(4) Cân nhắc đến mức độ tương ứng với trình độ phát triển của thể trạng, tinh thần của học sinh.

(5) Chú ý đến sự chỉ đạo liên quan đến quốc phòng.

(6) Chỉ đạo trong sự liên lạc mật thiết với các môn học khác.

Sách dùng cho giáo viên “Quan sát quê hương” mặc dù được xuất bản nhưng sách giáo khoa dành cho học sinh thì không. Lý do không xuất bản được trình bày ở trong cuốn sách giáo viên này, được tóm tắt như dưới đây:

Cần lấy chủ thể là việc quan sát thực địa quê hương, trong phạm vi có thể chỉ đạo tác nghiệp trực quan quan sát thực tế quê hương… (lược)… sách giáo viên được biên soạn dựa trên mục đích này”.

Sách giáo khoa dành cho học sinh nếu được biên soạn sẽ dễ xảy ra nguy cơ sự chỉ đạo chỉ diễn ra trên sách vở. Sự quan sát thực địa rất khác biệt tùy theo vùng đất vì vậy cần thu thập các giáo tài thích hợp tương ứng với  tình hình thực tế của quê hương, bổ sung, tổng hợp, thay đổi trật tự, để tạo ra phương án chỉ đạo thích hợp nhất”.

Ở đây  sách đã đưa ra quan điểm về sách giáo khoa với những điểm cần lưu ý. Về quan sát thực tế quê hương, sách nhấn mạnh sự quan sát thực tế, cụ thể và coi trọng hoạt động tác nghiệp, tiến hành sự chỉ đạo thích hợp với tình hình thực tế của quê hương và vì vậy mà không biên soạn sách giáo khoa dành cho học sinh. Bởi vì nếu như phát hành sách giáo khoa dành cho học sinh lớp 4 thì sẽ có khả năng “diễn ra sự chỉ đạo trên giấy”. Ở đây một mặt nó thể hiện sự ủy thác trách nhiệm cho giáo viên trong việc lựa chọn giáo tài mặt khác cũng đặt ra mối nghi nghờ về phương pháp chỉ đạo.

(còn tiếp)

%d bloggers like this: