Archive

Posts Tagged ‘thực tiễn giờ học lịch sử’

THỬ PHÁT TRIỂN “NHẬN THỨC LỊCH SỬ KHOA HỌC” VÀ “PHẨM CHẤT CÔNG DÂN” CHO HỌC SINH LỚP 8 QUA THỰC TIỄN DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THCS VÀ THPT NGUYỄN TẤT THÀNH (phần II)

May 2, 2013 Leave a comment

2. Phát triển  “nhận thức lịch sử khoa học”  và “phẩm chất công dân” cho học sinh thông qua dạy học lịch sử ở trường THCS và THPT Nguyễn Tất Thành

 

Trên cở sở nghiên cứu lý luận của các nhà giáo dục lịch sử Nhật Bản bàn về “nhận thức lịch sử khoa học” và “phẩm chất công dân”, tham khảo các “thực tiễn giáo dục lịch sử” ở Nhật Bản, tôi đã mạnh dạn giả định mục tiêu của giáo dục lịch sử ở trường phổ thông là “nhận thức lịch sử khoa học” và “phẩm chất công dân” từ đó  tiến hành thử nghiệm một vài biện pháp phát triển chúng ở Trường THCS và THPT Nguyễn Tất Thành với đối tượng là 151 HS thuộc ba lớp: 8A3, 8A4, 8A5. Ở lớp 8, HS được học hai nội dung lớn là Lịch sử thế giới và Lịch sử Việt Nam. Lịch sử thế giới (Lịch sử thế giới cận đại: từ giữa thế kỉ XVI đến năm 1917) được học ở học kì I và Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến 1818 được học ở học kì II. Cơ chế “một chương trình-một sách giáo khoa” cùng với cách biên soạn nội dung SGK theo lối “thông sử” chia ra từng chương bài với thời lượng từng bài học là 45 phút đã gây khó khăn lớn cho việc tổ chức các giờ học thử nghiệm ý tưởng nói trên. Trong “không gian bị giới hạn” như vậy, tôi đã cố gắng thử nghiệm một vài biện pháp dưới đây.

 

2.1.Sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa như một nguồn tư liệu cho học sinh khai thác, nghiên cứu.

Sách giáo khoa Lịch sử lớp 8 có tổng cộng 107 kênh hình gồm nhiều loại: tranh, ảnh, bản đồ, lược đồ… Tùy theo từng loại mà người GV có biện pháp khai thác và sử dụng hiệu quả. Ở đây tôi sẽ tập trung giới thiệu biện pháp khai thác tranh, ảnh lịch sử trong giờ học trên lớp để phát huy “nhận thức lịch sử khoa học” của HS. Thông thường khi sử dụng tranh, ảnh trong giảng dạy lịch sử các GV thường diễn giải nội dung của nó kết hợp với cho HS quan sát. Biện pháp này chịu ảnh hưởng của tư duy “truyền thụ tri thức” cho nên trên thực tế rất khó đạt hiệu quả giáo dục. Điều quan trọng khi sử dụng tranh, ảnh lịch sử là phải thu hút được sự chú ý của HS, khiến cho HS quan sát tập trung, đọc hiểu các thông tin từ nguồn tư liệu lịch sử này, dùng nó để “giải mã” vấn đề mà GV đặt ra hoặc phát hiện ra vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu.  Ở đây tôi muốn dẫn ra và vận dụng phương pháp của nhà giáo dục lịch sử Kato Kimiaki đã đề cập ở trên. Trong “Giờ học lịch sử bằng tư duy phê phán” với hình thức học tập thảo luận[1], Kato thường sử dụng tranh, ảnh lịch sử làm tư liệu lịch sử để “đề xướng vấn đề” và tổ chức cho HS nghiên cứu, thảo luận. Kato đã sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử khai thác tư liệu tranh ảnh của Kuroda Hideo[2]. Kuroda khi khai thác sử liệu tranh ảnh đã chia giao diện chúng thành từng phần, xác định xem từng vật được vẽ trên đó là gì. Tiếp đó, ông tiến hành hoạt động nghiên cứu xem giữa các vật được vẽ, chụp đó có mối quan hệ gì. Trong các giờ  học của mình, Kato đã triển khai thao tác nghiên cứu trên và gọi tên nó là “Tìm kiếm những điều kì lạ”. Ví dụ như giờ học có tên “Khám phá hơi thở thời Trung Thế trong những bức tranh về cuộc đời nhà sư Ippen Shonin[3]. Tài liệu giảng dạy (giáo tài) chủ yếu của giờ học này là bức tranh cuộn về cuộc đời của Ippen Shonin[4]. Tác phẩm này được vẽ vào năm 1299. Đây không chỉ là tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu thời Kamakura mà còn là tư liệu lịch sử cho biết cụ thể về tình hình xã hội, kinh tế, sản vật và cuộc sống của con người thời kì này.

Mục tiêu của giờ học được Kato xác định là “đưa ra cảnh chợ Fukuoka nổi tiếng, làm cho học sinh tự mình suy nghĩ, xây dựng giả thuyết, làm cho học sinh có trải nghiệm tự mình tạo nên nhận thức lịch sử của bản thân và rèn luyện năng lực nhận thức lịch sử thông qua thảo luận[5]. Giờ học được bắt đầu bằng đề xướng vấn đề . Kato đưa ra sử liệu và hai câu hỏi:

Câu hỏi 1: “Hãy tìm kiếm trong bức tranh những vật hay những cảnh chỉ xuất hiện từ thời Kamakura?

Câu hỏi 2: “Tại sao những vật, cảnh đó lại xuất hiện vào thời Kamakura? Hãy suy nghĩ và xây dựng giả thuyết giải thích cho điều đó.”.

Trong giờ học này của Kato học sinh đã sôi nổi tiến hành hoạt động điều tra, tìm kiếm thông tin, lập giả thuyết. Kato đã chọn ra bốn giả thuyết tiêu biểu để cho học sinh thảo luận nhằm đạt được mục tiêu giờ học.

Tôi đã thử vận dụng lý thuyết của Kato vào một số giờ học và thu được kết quả nhất định trên thực tế. Ví dụ khi dạy “Bài 6. Các nước Anh, Pháp, Đức, Mĩ cuối thế kỉ XIX-đầu thế kỉ XX”, ở mục “1. Sự hình thành các tổ chức độc quyền”  thuộc mục “II. Chuyển biến quan trọng ở các nước đế quốc”, tôi sử dụng hình 32 “Tranh đương thời nói về quyền lực của các tổ chức độc quyền ở Mĩ” để tổ chức, hướng dẫn học sinh đọc hiểu thông tin từ sử liệu này bằng một số câu hỏi gợi mở:

(1) Tranh “đương thời” là bức tranh được vẽ khi nào?

(2) Bức tranh vẽ những vật nào? Em hãy đặt tên cho chúng.

(3) Từng vật trong bức tranh diễn tả điều gì (là hình ảnh ẩn dụ của hiện tượng, sự vật nào?)

(4) Hình ảnh đuôi con mãng xà cuộn chặt xung quanh tòa nhà nói lên điều gì?

Tiếp nhận các yêu cầu trên, HS đã  tự mình “đọc hiểu”, “giải mã” được các thông tin lịch sử có trong sử liệu. Các thông tin HS đưa ra có thể chính xác hoặc chưa chính xác nhưng sau đó thông qua quá trình thảo luận, tranh luận giữa các nhóm, giữa các HS dưới sự điều khiển của GV, nhận thức lịch sử của HS sẽ trở nên khoa học hơn, lô-gíc hơn. Phương pháp này cũng có thể áp dụng đối với  các tranh ảnh lịch sử khác có trong sách giáo khoa.

2.2. Đưa ra các tài liệu (tư liệu) thành văn có kèm theo các câu hỏi gợi ý để học sinh khai thác thông tin

 

Tài liệu lịch sử (bao gồm cả tư liệu gốc) có vai trò quan trọng trong dạy học lịch sử. Lý luận dạy học hiện đại chú trọng phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của người học cho nên việc tổ chức cho HS làm việc trực tiếp với tư liệu, tài liệu, tiến hành thao tác nghiên cứu giống như một “nhà sử học tí hon” để đọc lấy thông tin, phê phán, xử lý thông tin đưa ra kết luận, phán đoán là yêu cầu quan trọng. Thông qua hoạt động tác nghiệp giống như nhà nghiên cứu này, HS sẽ dần có năng lực phê phán tài tư liệu, năng lực xử lý và sử dụng thông tin. Điều cần chú ý khi cho HS học tập theo hình thức này là GV cần phải bám sát vào mục tiêu của giờ học để lựa chọn tài liệu (tư  liệu) cho thích hợp. Tài liệu đó phải đảm bảo tính xác thực và đi kèm với nó phải có hệ thống câu hỏi gợi ý để HS “đọc hiểu”, “giải mã” thông tin lịch sử. Ví dụ như khi dạy “Bài 26. Phong trào kháng chiến chống Pháp trong những năm cuối thế kỉ XIX”  để giúp HS hiểu rõ nguyên nhân bùng nổ phong trào Cần Vương, lãnh đạo, mục đích và cả hạn chế của phong trào, tôi đã chuẩn bị tài liệu sau cho HS nghiên cứu tại lớp. Phần đầu tài liệu này là yêu cầu do GV đặt ra với hệ thống câu hỏi hướng dẫn, ở phần dưới là toàn văn chiếu Cần Vương.

Tài liệu dành cho học sinh

I. Sau khi  đọc kĩ phần thông tin về “Chiếu Cần Vương” trong SGK và Bản dịch “Chiếu Cần Vương” bên dưới, các em hãy thảo luận trong nhóm và trả lời các câu hỏi sau:

1. Chiếu Cần Vương do ai viết?Nó được viết ở đâu, khi nào? Nó được ban ra dưới danh nghĩa của ai (ai đứng tên, kí tên ) ?

2.“Chiếu Cần Vương”gồm mấy phần, là những phần nào? Em hãy đặt tên cho các phần đó.

3. Em hãy tóm tắt nội dung từng phần của Chiếu Cần Vương bằng một vài cụm từ hay một hai câu văn theo ý hiểu của em.

4.“Chiếu Cần Vương” được ban ra nhằm mục đích gì?

5. Chiếu Cần Vương nhắm đến những đối tượng nào? Người viết chiếu Cần Vương muốn những ai  đọc và làm theo?

6. Em có suy nghĩ gì khi liên tưởng, so sánh Chiếu Cần Vương  với “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, Bài thơ thần “Nam Quốc Sơn Hà”?( Ví dụ: khí thế, giọng điệu lời văn, cảm xúc của bản thân khi đọc chiếu…).

7. Đọc Chiếu Cần Vương và đặt nó trong bối cảnh đất nước đã bị thực dân Pháp đô hộ em có suy nghĩ gì? Có điểm nào trong chiếu Cần Vương làm em cảm thấy chưa hài lòng? Nếu em là  người viết khi đó em sẽ chỉnh sửa lại như thế nào?

II. Chiếu Cần Vương

Chiếu Cần Vương, tên chính thức là Lệnh dụ thiên hạ Cần Vương, là lệnh dụ của vua Hàm Nghi nhà Nguyễn, tuyên bố ngày 13 tháng 7 năm 1885 (tức ngày mùng 2 tháng 6 năm Ất Dậu) tại căn cứ Tân Sở thuộc Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị khi phe chủ chiến của triều đình Huế thất bại trong trận chiến Kinh thành Huế ngày 5 tháng 7 năm 1885, nhà vua phải xuất bôn………….

……

Dụ rằng: Từ xưa sách lược chế ngự giặc không ngoài đánh, gữ, hòa, ba điều mà thôi……

Khi nhận được tài liệu nói trên, HS đã tích cực làm việc kết hợp với đọc SGK để giải quyết yêu cầu đặt ra. Tôi cũng cho  đại diện của từng nhóm HS đến thư viện của trường để tìm kiếm thông tin cần thiết. Ở Việt Nam, trong các giờ học lịch sử, GV hầu như rất ít khi phát tài liệu in ra giấy cho HS nghiên cứu, đọc lấy thông tin phục vụ thảo luận hoặc giải đáp yêu cầu GV đặt ra. Các câu hỏi của GV phần lớn chỉ dừng ở mức yêu cầu HS tìm đọc thông tin trong SGK để trả lời. Điều này rõ ràng đã tạo nên rào cản trong việc phát triển “nhận thức lịch sử khoa học” của HS cũng như hình thành cho HS năng lực sử dụng tư liệu lịch sử. Trong các tài liệu (tư liệu) mà GV đưa ra này, việc đưa ra các tư liệu gốc dưới dạng tư liệu thành văn đóng vai trò rất quan trọng. Thông qua quá trình học tập như trên, HS sẽ có được “trải nghiệm làm nhà nghiên cứu”, tái khám phá chân lý mà nhà sử học đã tìm ra và cảm nhận được niềm vui trong học tập môn Lịch sử.

2.3. Sử dụng bài tập, bài kiểm tra nhằm phát triển “nhận thức lịch sử khoa học” và “phẩm chất công dân”.

 

Kiểm tra đánh giá (KTĐG) là một khâu không thể thiếu trong dạy học lịch sử. KTĐG với nhiều hình thức khác nhau giúp cho GV thẩm định hiệu quả giáo dục, đo đạc một cách thực chứng mức độ đạt được của mục tiêu giờ học. Kết quả KTĐG cũng giúp GV thu nhận được các thông tin phản hồi từ phía HS giúp họ điều chỉnh nội dung, hình thức và các biện pháp tiến hành giờ học tiếp theo để có được kết quả tốt hơn. Ở Việt Nam hiện tại về mặt lý thuyết KTĐG trong giáo dục lịch sử nhắm đến đo đạc cả ba mặt: “kiến thức”, “tư tưởng-thái độ”, “kĩ năng”. Tuy nhiên, trên thực tế các bài tập và các đề kiểm tra ở cả hình thức tự luận và trắc nghiệm hầu hết đều nhằm “kiểm tra” các “tri thức lịch sử”. Tức là ở các bài kiểm tra đó HS hầu như chỉ cần nhắc lại các tri thức lịch sử ghi chép được trong vở, nghe từ thầy cô, đọc được từ SGK. Nội dung và phương thức KTĐG này có quan hệ mật thiết với cơ chế “một chương trình-một sách giáo khoa” với đặc điểm “độc quyền chân lý” và tư duy “truyền thụ tri thức”. Để phát triển “nhận thức lịch sử khoa học” và “phẩm chất công dân”  cho HS thì cùng với việc đổi mới nội dung, hình thức tổ chức, phương pháp dạy học cần thay đổi cả KTĐG. Trong quá trình dạy học với đối tượng là học sinh lớp 8, tôi đã thử nghiệm ra một số bài tập về nhà và đề kiểm tra nhằm phát triển “nhận thức lịch sử khoa học” và “phẩm chất công dân” của học sinh. Dưới đây, là một số bài tập, đề kiểm tra nói trên.

(1) Đề kiểm tra 45 phút

Vào giữa thế kỉ XIX, trước áp lực ngày một gia tăng của các nước đế quốc phương Tây, Nhật Bản đứng trước hai lựa chọn:

1. Cải cách mở cửa để xây dựng đất nước theo mô hình các nước phương Tây để bảo vệ độc lập dân tộc.

2. Duy trì chính sách hiện thời, cự tuyệt giao lưu với phương Tây để bảo vệ độc lập dân tộc.

Trong bối cảnh đó, nhiều kế sách đã được đưa ra. Em hãy đóng vai là một người Nhật đương thời có chí lớn để đưa ra kế sách cho Nhật Bản.

 (2) Bài tập về nhà

Vào những ngày cuối cùng của Chiến tranh thế giới thứ hai, Mĩ đã thả hai quả bom nguyên tử xuống thành phố Hiroshima (6/8/1945) và Nagasaki (9/8/1945) ở Nhật Bản. Hai quả bom đã làm cho hàng vạn người chết và bị thương trong đó có nhiều học sinh và trẻ em. Vào ngày kỉ niệm kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai, học sinh Nhật Bản thường tới thăm Công viên Hòa Bình ở Hiroshima thả hạc giấy lên trời kèm theo thông điệp hòa bình. Hãy tưởng tượng em được đến Hiroshima vào ngày đó và đưa ra thông điệp hòa bình của bản thân.

(3) Bài tập về nhà

Hãy tưởng tượng một ngày em và các bạn trong lớp được thầy giáo dạy môn lịch sử dẫn đến thăm nơi đã từng là căn cứ của nghĩa quân Hương Khê tại Nghệ An-Hà Tĩnh. Đứng trước những di tích ấy, hồi tưởng lại quá khứ và suy nghĩ về tương lai, em sẽ tâm sự gì với lãnh tụ Phan Đình Phùng và những nghĩa quân đã hi sinh? Hãy viết ra những lời tâm sự ấy cho bạn bè và người thân cùng đọc.

Bài kiểm tra số (1) được đưa ra khi học sinh học hết nội dung Lịch sử thế giới cận đại (từ giữa thế kỉ XVI đến năm 1917. Bài tập số (2) được đưa ra khi học sinh học xong “Bài 21. Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)”. Bài tập số (3) được đưa ra sau khi học sinh kết thúc “Bài 26. Phong trào kháng chiến chống Pháp trong những năm cuối thế kỉ XIX”. Mục tiêu của các bài tập, bài kiểm tra nói trên không nhằm vào “tri thức lịch sử” mà hướng vào “nhận thức lịch sử khoa học” tức là nhận thức lịch sử phong phú  được xây dựng dựa trên các sự kiện lịch sử xác thực. Để giải quyết tốt yêu cầu đặt ra, HS  phải vận dụng các tri thức thu  thập được từ nhiều nguồn, suy ngẫm, sắp xếp, xử lý các tri thức đó, tái cơ cấu lại để trình bày theo tư duy của mình. Bên cạnh đó việc đề có cấu trúc vừa “đóng” vừa “mở” như trên còn hướng cho HS tư duy liên hệ giữa hiện tại-quá khứ-tương lai. Giáo dục lịch sử và nghiên cứu lịch sử xét cho cùng không phải là vì quá khứ mà là vì hiện tại. Nghiên cứu lịch sử là để tìm ra câu trả lời cho hiện tại thông qua giải mã những sự thật của quá khứ. Giáo dục lịch sử về bản chất không phải là làm cho HS biết thật nhiều về quá khứ mà là tạo cơ hội và giúp HS giải thích được thế giới hiện thực trước mắt bằng các cứ liệu lịch sử thực chứng, từ đó chủ động suy ngẫm về hiện tại và có thái độ, hành động cải tạo hiện thực cho tốt đẹp hơn. Ở điểm này “nhận thức lịch sử khoa học” có mối quan hệ vô cùng mật thiết với “phẩm chất công dân”. Chính vì vậy ở trong các bài tập, bài kiểm tra nói trên, tôi có vận dụng ít nhiều phương pháp “đóng vai” (role-playing) cùng lý thuyết “đồng cảm” vốn được sử dụng phổ biến trong giáo dục lịch sử trên thế giới. Thông thường  thái độ, mối quan tâm, hứng thú của HS đối với lịch sử là thứ rất khó “đo đạc” bằng các bài kiểm tra, bài tập nhắm tới “tri thức lịch sử” nhưng bằng cách KTĐG như trên tôi đã thu được kết quả ở mức độ nhất định. Tất nhiên, xung quanh vấn đề này sẽ còn có nhiều tranh luận. Ở Nhật Bản vấn đề có đo đạc được một cách thực chứng “thái độ, hứng thú, mối quan tâm” của học sinh đối với lịch sử hay không là vấn đề gây “chia rẽ” trong giới học thuật. Cho dẫu vậy, qua những gì đã thực hiện và kết quả thu được tôi cho rằng có thể đo được chúng một cách thực chứng ở mức độ nhất định. Ở phần tiếp theo dựa trên các thông tin thu được từ bài viết của học sinh tôi sẽ phân tích rõ hơn luận điểm này.

3. Một vài phân tích về “nhận thức lịch sử khoa học” và “phẩm chất công dân” của học sinh thể hiện ở kết quả kiểm tra đánh giá.

 

Ở phần này, tôi sẽ đưa ra và phân tích một vài đặc điểm về “nhận thức lịch sử  khoa học” và những biểu hiện của “phẩm chất công dân” từ những thông tin phản hồi có được từ các bài kiểm tra, bài tập tôi đã giao cho học sinh làm. Việc thử vận dụng lý thuyết về “nhận thức lịch sử  khoa học” và “phẩm chất công dân” vào thực tế đã đem lại kết quả bước đầu. Để tiến hành phát triển  “nhận thức lịch sử khoa học” và “phẩm chất công dân”  cho HS thì “cơ chế một chương trình khung-nhiều bộ sách giáo khoa” cùng với sự kết hợp ba hình thái giáo dục lịch sử: “thông sử”, “lịch sử theo chuyên đề”, “lịch sử lội ngược dòng” là điều kiện cần thiết. Tức là môn Lịch sử phải được tích hợp với các môn Địa lý, Công dân trong môn Xã hội. Ở đó, lịch sử được dạy và học dưới dạng “nghiên cứu xã hội”. Ở đây, trong điều kiện của Việt Nam, trong phạm vi có thể, tôi đã cố gắng thử nghiệm và kết quả thu được rất đáng chú ý.

3.1. Một vài đặc điểm trong “nhận thức lịch sử khoa học” của học sinh

 

Trên cơ sở đọc và đánh giá các bài tập, bài kiểm tra[6] có thể rút ra một vài đặc điểm về “nhận thức lịch sử khoa học” của HS như dưới đây.

Thứ nhất, “nhận thức lịch sử” của HS được xây dựng dựa trên các sự kiện lịch sử có thật được thu thập từ các tư liệu lịch sử, các tài liệu tham khảo xác thực. Đó chính là tính “khoa học” của nhận thức lịch sử mà Kato gọi là tính “thực chứng”, “lô-gíc”. Khi đọc các đề kiểm tra và bài tập nói trên người ta dễ có cảm giác nó giống đề thi của môn Văn và lo ngại HS sẽ viết theo kiểu cảm tính, tùy tiện. Tuy nhiên trên thực tế, HS đã biết lấy các sự kiện lịch sử, hiện tượng lịch sử có thật để giải thích, chứng minh, lập luận và thể hiện quan điểm của mình. Ví dụ như đối với đề kiểm tra số (1), để đưa ra kết luận lựa chọn “đóng cửa” hay “mở cửa”, HS trong vai “người Nhật đương thời có chí lớn” đã biết dùng các sự kiện lịch sử có thật để chứng minh, lập luận. Chẳng hạn để chứng minh sự thất bại của phương Đông lạc hậu, bảo thủ trước sức mạnh của phương Tây, HS đã biết dẫn ra các sự kiện như: Khởi nghĩa Xi-pay ở Ấn Độ, Chiến tranh thuốc phiện ở Trung Quốc, Đô đốc Perry đến Nhật Bản (1853), thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam năm 1858, chính sách “bế quan tỏa cảng” của nhà Nguyễn… Xin được trích ra đây một vài đoạn trong bài kiểm tra của học sinh:

Hiện nay, Nhật Bản vẫn đang phải chịu một chế độ phong kiến đã lỗi thời và yếu ớt. Người dân vẫn phải nộp nhiều thứ thuế vô lí, nhiều điều luật, hủ tục xa xưa ảnh hưởng đến sự phát triển dân trí trong nước. Nhật Bản nằm ở trên biển, bao quanh là biển nên giao thương đường thủy vô cùng thuận lợi. Song Nhật Bản lại ít tài nguyên, muốn có tài nguyên xây dựng đất nước thì phải giao thương với nước ngoài….” (NQS, nam, 8A4).

Hiện nay, Nhật Bản chúng ta đang chịu áp lực của các nước phương Tây đòi mở cửa vào làm ăn buôn bán. Thần thấy rằng, Nhật Bản đang đứng trước hai lựa chọn:

         1. Cải cách, mở cửa để xây dựng Nhật Bản theo mô hình phương Tây để bảo vệ độc lập dân tộc.

         2. Duy trì chính sách hiện thời, cự tuyệt giao lưu với phương Tây.

Trong những lựa chọn trên, thần thỉnh cầu với bệ hạ là xin bệ hạ chọn sự lựa chọn thứ nhất.. Bởi vì thần thấy các nước như Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia do duy trì chế độ phong kiến nên đã làm mồi cho các nước phương Tây….” (NHTD, nữ, 8A4).

Mọi người hãy nghĩ xem, tại sao một đất nước không phải là quá to lớn như Anh lại là chủ của 1/3 thế giới, điều khiển được những người lính Xi-pay nã súng vào đồng bào của mình? …. Rồi chúng ta hãy xem gương Trung Quốc, một đất nước với dân số đông nhất thế giới vậy mà phải chịu đầu hàng trước các đế quốc không khéo tất cả cộng lại mới may ra xấp xỉ Trung Quốc. Vì sao ư? Vì hèn nhát, mù quáng, ích kỉ của Từ Hi Thái hậu, chỉ vì tin tưởng rằng các đế quốc sẽ giữ nguyên bộ máy nhà nước, giữ nguyên chức cho mình mà đồng ý bán nước, khiến Trung Quốc rơi vào tình trạng nửa thuộc địa, nửa phong kiến…”(PMH, nữ,8A4).

Tất nhiên nhận thức lịch sử ở đây là nhận thức lịch sử của HS lớp 8 vì vậy ở nhiều trường hợp vẫn có các sự kiện lịch sử được dẫn ra không chính xác hoặc nhầm lẫn. Tuy nhiên những sai lầm này sẽ được sửa chữa khi HS  tiếp nhận “lời phê” của GV. Trong phân phối chương trình không có giờ trả bài và thảo luận sau kiểm tra nhưng GV vẫn có thể linh động thời gian để “điều chỉnh” nhận thức lịch sử của HS thông qua giải đáp các câu hỏi và thảo luận giữa GV với HS và HS với HS[7].

Thứ hai, nhận thức lịch sử của HS rất phong phú và mang tính chủ thể rõ nét. Nhà giáo dục lịch sử Nhật Bản Yasuo Toshio trong thập niên 80 của thế kỉ trước đã từng phát hiện rằng trong học tập lịch HS thường có xu hướng tiếp cận từ “bên ngoài” vì vậy việc làm cho HS tiếp cận từ “bên trong” bằng việc “đặt” HS vào bối cảnh lịch sử để các em suy nghĩ là điều quan trọng. Ở đề số (1) và  (2)  tôi đã sử dụng kĩ thuật “role-playing” để đưa HS vào bối cảnh lịch sử đương thời. Ở đề  (1), HS đã đứng ở rất nhiều góc độ khác nhau trong tư cách là “người Nhật Bản đương thời có chí lớn” để đưa ra kế sách cho Nhật Bản giữa thế kỉ XIX. HS đã “hóa thân” thành các nhân vật lịch sử đương thời như “Đại tướng Saigo Takamori”, “Nhà tư tưởng Fukuzawa Yukichi”, “Thương nhân Sakamoto Ryoma”, “Thiên hoàng Minh Trị”….để vạch ra kế sách. Bên cạnh đó cũng có những HS đóng vai các tầng lớp “sĩ, nông, công thương” trong xã hội Nhật Bản đương thời như : “một kiếm sĩ vô danh”, “một người ăn mày ở thành phố Edo”, “một du học sinh tại Anh quốc”, “một hồn ma chưa siêu thoát”, “một người nông dân ở Osaka”, “một người thợ rèn”…

Việc nhìn nhận lịch sử từ nhiều góc độ khác nhau như vậy đã tạo nên tính phong phú của nhận thức, giúp HS nhìn nhận lịch đa diện, đa chiều. Điều này phù hợp với xu hướng giáo dục lịch sử trên thế giới chuyển từ chú trọng “the history” sang “a history”. Một điểm đáng chú ý nữa ở đây là hình thức biểu hiện trong các bài  viết của HS cũng rất phong phú. Ở đề (1) mặc dù là bài kiểm tra thử nghiệm đầu tiên, HS đã đưa ra các “kế sách” được viết dưới rất nhiều hình thức khác nhau như: thử gửi người thân, bạn bè, tấu gửi lên Thiên hoàng, hịch kêu gọi nhân dân Nhật Bản, lời thuật lại một buổi thiết triều… Sự phong phú này khẳng định sự thông minh, sáng tạo và độc lập trong nhận thức lịch sử của HS.

Thứ ba, nhận thức lịch sử của HS đã thể hiện tư duy sâu sắc về lịch sử bằng việc “xâu chuỗi” các sự kiện lịch sử để tìm ra  mối quan hệ giữa quá khứ-hiện tại và tương lai một cách lô-gíc, hợp lý. Trong các bài viết của mình HS đã mở rộng “không gian lịch sử”, so sánh các nước, các khu vực trên thế giới để bảo vệ luận điểm của mình. Khi phân tích  sự lựa chọn “đóng cửa” hay “mở cửa” ở Nhật Bản giữa thế kỉ XIX hay khi đưa ra “thông điệp hòa bình”, HS đã tư duy sâu sắc về người lính, về chiến tranh và hòa bình, về vai trò của nhân dân, vĩ nhân trong lịch sử. HS cũng đã dựa trên các sự kiện lịch sử để tư duy sâu sắc về những vấn đề hệ trọng của Nhật Bản cũng như của bất kì một dân tộc nào khác trên thế giới như: văn minh và khai sáng, dân trí và dân chủ, bình đẳng giới và văn hóa, trình độ phát triển và chủ quyền dân tộc, hạnh phúc và tự do…  Ví dụ như em PMC (nữ, 8A4) đã “đóng vai”  một  viên tướng Nhật Bản gửi thư cho Thiên hoàng Minh Trị để luận giải về hòa bình như sau: “…Nhưng ngài hãy nghĩ xem mỗi lần đánh nhau, ai là người đầu rơi máu chảy, ai là người bỏ gia đình, người thân để xông vào trận địa, đó là người dân chứ chả là ai khác,  đó chính là dân tộc của ta-cái gốc để xây dựng nên đất nước này…”. Hoặc như em NTK (nam, 8A5), sau khi phân tích hậu quả của chiến tranh và bom nguyên tử, em đã đưa ra những suy nghĩ về hòa bình rất sâu sắc: “Vì thế chúng ta rất cần hòa bình, chúng ta cần hòa bình để cùng chung sống và phát triển, chiến tranh không đem lại gì cho chúng ta cả. Quyền lực ư? Của cải ư? Không. Chúng ta không cần phải gây ra chiến tranh để có được những điều đó, chúng ta chỉ cần được chung sống với nhau một cách hạnh phúc. Có lẽ chúng ta nghĩ việc đó là đơn giản nhưng đó lại là ước mơ của rất nhiều người. Chúng ta đều là những cư dân cùng chung sống rất bình đẳng trên trái đất này vì thế chúng ta không có quyền tước đi người thân, bạn bè của bất cứ ai vì những cuộc chiến tranh. Hãy tưởng tượng về một thế giới lúc nào cũng chỉ có chiến tranh khi đó chúng ta sẽ thấy hòa bình quý nhường nào. Hãy cùng góp một phần công sức của mình để chúng ta sẽ mãi được chung sống trong hòa bình”. Những thông tin phản hồi như trên từ HS cho thấy nếu HS có cơ hội được học tập một cách tự chủ, sáng tạo, môn Lịch sử không hề là môn học nhàm chán hay đơn thuần là “học thuộc” và “ghi nhớ”.

3.2. Những biểu hiện của “phẩm chất công dân”.

Như ở phần đầu bài viết đã trình bày, “phẩm chất công dân” được xác định là một bộ phận nằm trong mục tiêu của môn Xã hội ở Nhật Bản và được tôi giả định là mục tiêu cần đạt tới khi tiến hành bài học trong thực tiễn. Các nhà giáo dục Mĩ, Nhật cho rằng “phẩm chất công dân” được thể hiện ở thái độ của HS đối với lịch sử, hiện thực, tinh thần trách nhiệm của HS đối với hiện thực và ý chí hành động mong muốn cải tạo hiện thực làm cho nó trở nên tốt đẹp hơn. Từ những thông tin có được từ bài viết của HS thông qua các bài kiểm tra, bước đầu tôi có thể rút ra đây một vài biểu hiện của “phẩm chất công dân”.

Thứ nhất, HS đã ý thức rất rõ về vị trí của mình là “người công dân nhỏ tuổi” khi nhận thức về lịch sử. Trong số các đề nói trên dù nội dung là lịch sử thế giới hay lịch sử Việt Nam và “đóng vai” khác nhau nhưng tần suất xuất hiện của các từ “công dân” trong các bài viết của HS tương đối nhiều. HS đã xác định vị trí của mình là “công dân” để nhận thức quá khứ, tham chiếu hiện tại và suy ngẫm về tương lai. Đối với đề số (1), khi đóng vai là “người Nhật Bản đương thời có chí lớn” đưa ra kế sách của mình, rất nhiều HS xưng là “công dân yêu nước” hay kí dưới bài viết là “công dân Nhật Bản”. Ví dụ như em NAN (nữ, 8A4) viết : “Vì cuộc sống của nhân dân, vì độc lập, tự do của đất nước, của mỗi con người và vì một đất nước lớn mạnh hơn, tôi nghĩ ngài nên chọn kế sách cải cách, mở cửa để xây dựng lại Nhật Bản theo mô hình phương Tây để bảo vệ độc lập dân chủ. …… Tôi xin chân thành cám ơn. Công dân Nhật Bản. Sakari”.

Ở đề số (3), HS cũng đứng ở góc độ là một “công dân” của Việt Nam để nhận thức về Phan Đình Phùng và cuộc khởi nghĩa Hương Khê. Em BTTL (nữ, 8A4) đã viết như sau: “Gửi ông Phan Đình Phùng và linh hồn những người đã hi sinh ở cuộc khởi nghĩa Hương Khê! Cháu là BTTL, là một học sinh, là một công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cháu rất yêu quý quê hương và yêu đất nước của mình. Nước Việt Nam là một đất nước hòa bình, tươi đẹp. Chúng cháu được học hành, được đến trường, được ăn no mặc ấm. Ở trường những thầy cô sử của cháu là những người đem lại cho học sinh những giờ học bổ ích về quá khứ…Hôm nay và chính bây giờ, đứng trước một nơi từng là căn cứ của nghĩa quân Hương Khê, lòng cháu dâng trào lên sự thán phục bởi nghĩa quân ngày xưa. Họ thật dũng cảm chiến đấu, biết hi sinh vì dân Việt. Và sự gian khổ, khó khăn không làm nghĩa quân lùi bước. Thưa, ông đừng buồn vì cuộc khởi nghĩa đã tan rã vì thực sự nó không hề thất bại. Chính nghĩa quân Hương Khê đã chứng minh rằng người Việt rất yêu nước cho dù có gặp khó khăn và phải hi sinh tính mạng của mình. Ông đã đóng góp một phần vào kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta. Mong ông hạnh phúc mãi mãi”.

Thứ hai, các em HS đã thể hiện rõ trách nhiệm của mình đối với lịch sử, với dân tộc. Ở đề (1), trong vai trò là “người Nhật đương thời có chí lớn”, HS đã bày tỏ trách nhiệm của bản thân trước hiện tình đất nước, lo lắng cho vận mệnh của dân tộc và đưa ra kế sách để “cứu nguy”. Có thể thấy rõ ý thức trách nhiệm này qua những lời như: “Kính gửi đức vua Thiên hoàng Minh Trị! Tôi là một thường dân sống ở Tokyo tên là Kuja Basima. Tôi mạo muội gửi ngài bức thư kính mong ngài hãy “mở cửa” để phương Tây vào buôn bán…” (THN, nữ, 8A4); “Tôi là Yoko Yamashita, là một công dân của Nhật Bản. Chứng kiến cảnh đất nước đang lâm vào thế khó xử, tôi, dù chỉ là một người dân bình thường cũng mang trong mình một mối lo ngại lớn lao. Chắc là một người công dân, không ai không muốn đất nước phát triển, không ai không muốn dân tộc mình độc lập…”(ĐTD, nữ, 8A4). Trong “lời tâm sự” gửi tới lãnh tụ Phan Đình Phùng và nghĩa quân Hương Khê, HS trên cơ sở nhận thức được hiện tại là kết quả của quá khứ, các em đã bày tỏ lòng biết ơn đối với những người đã hi sinh để bảo vệ độc lập dân tộc. Em NHG (nữ, 8A4) viết:  “Nếu được gặp lại Phan Đình Phùng và nghĩa quân một lần nữa, tôi sẽ nói với cụ và nghĩa quân những lời cảm ơn sâu đậm nhất, những lời biết ơn về sự dũng cảm mà ông và nghĩa quân đã hi sinh và mang lại cho đất nước… Tôi hứa sẽ học tập và cố gắng phát huy mọi khả năng của mình để không uổng công nghĩa quân Hương Khê đã hi sinh trong cuộc chiến giành lại độc lập”. Hay “lời tâm sự” của em PMH (nữ, 8A4): “Tôi sẽ bày tỏ sự kính trọng của mình đến lãnh tụ Phan Đình Phùng về sự cương trực, thẳng thắn và không bao giờ đặt lợi ích của bản thân lên trên lợi ích của nhân dân, lợi ích của xã tắc. Ông sẵn sàng bất chấp việc mình sẽ bị vua thất sủng, bị thù ghét, bị cách chức thậm chí là sự đe dọa tính mạng để can gián vua, đối đầu với bọn “bán nước”.

Từ chỗ thể hiện lòng biết ơn, HS trong tư cách là người công dân đã xác định trách nhiệm đối với cộng đồng và dân tộc. Ý thức trách nhiệm đó được thể hiện ở mong muốn đóng góp vào việc bảo vệ độc lập dân tộc, làm cho đất nước dân chủ, giàu mạnh bắt đầu bằng chính việc học tốt. Xin được trích ra dưới đây một vài đoạn trong bài viết của HS để minh chứng:

Thoát ra khỏi suy nghĩ, tôi muốn nói rằng: Thế hệ của ông cha ta, những trang sử hào hùng của dân tộc ta chính là ý chí bảo vệ đất nước, tự lập, tự cường…Chúng ta có nhiệm vụ báo đáp và phải nuôi dưỡng ngọn lửa yêu Tổ quốc trong lòng mỗi cá nhân chúng ta” (PBAT, nam, 8A4).

Chúng em, những thế hệ được thừa hưởng những gì tốt đẹp nhất từ ông, cha ta-những người đã đổi cả tính mạng để cho chúng em có một cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc như ngày hôm nay. Chúng em sẽ cố gắng học tập để xây dựng cho đất nước Việt Nam thêm vững mạnh và phồn vinh để xứng đáng với những mất mát của ông, cha ta nói chung và Phan Đình Phùng cũng như nghĩa quân của ông”(PMC, nữ, 8A4).

Khi nhìn lại những gì mà các vị anh hùng dân tộc như cụ đã làm được, cháu càng thêm thấm thía cái quý giá của độc lập, tư do. Các cụ đã chiến đấu, hi sinh cho nền độc lập của dân tộc, dốc hết xương máu để phá bỏ xiềng xích cho con cháu, quả thật đáng khâm phục. Chúng cháu rất biết ơn những gì cụ đã làm và luôn cố gắng phấn đấu để mai sau có thể phát triển, bảo vệ đất nước. Dấu vết chiến tranh trên Việt Nam ta vẫn còn đó, người bị khuyết tật, dị tật do chiến tranh vẫn còn từ đời này sang đời khác, tất cả càng thêm nhắc nhở bọn cháu phải có bổn phận và trách nhiệm với Tổ quốc, không phụ lòng mong mỏi của cụ” (DHT, nữ, 8A4)

Xã hội bao gồm những người công dân có ý thức trách nhiệm với thế hệ đi trước, với cộng đồng và tương lai của dân tộc là xã hội đáng mơ ước. “Phẩm chất công dân” thể hiện ở các em HS nói trên là một tín hiệu đáng chú ý gợi cho tôi nhiều suy ngẫm về chức năng, nhiệm vụ của giáo dục lịch sử. Bằng việc chú ý hình thành và phát triển “nhận thức lịch sử khoa học” và  “phẩm chất công dân”, người GV lịch sử không những góp phần vào việc xây dựng xã hội tốt đẹp hơn mà còn “kéo” môn lịch sử “xích lại gần” hơn với HS và đời sống xã hội.

Kết luận

Nhận thức lịch sử khoa học” và “phẩm chất công dân” là những thuật ngữ tương đối mới mẻ trong tiếng Việt. Ở Việt Nam bài viết này có lẽ là bài viết đầu tiên bàn về chúng trong phạm vi giáo dục lịch sử. Những nghiên cứu về lý luận cũng như thử nghiệm trong thực tiễn nói trên chỉ là những phác thảo bước đầu. Vấn đề này cần được tiếp tục nghiên cứu và thảo luận sâu thêm bởi tôi nghĩ đây là vấn đề quan trọng, gợi mở hướng ra cho giáo dục lịch sử Việt Nam hòa nhập, giao lưu với giáo dục lịch sử trên thế giới. Thông thường trong các giờ học lịch sử ở Việt Nam, khi GV đưa ra câu hỏi, HS thường cúi xuống nhìn vào SGK để tìm câu trả lời. Nhưng một khi bước chân ra khỏi trường học, các em sẽ phải đối mặt với vô vàn các câu hỏi mà hiện thực cuộc sống đặt ra. Sẽ không có cuốn SGK nào có đủ đáp án cho các câu hỏi như thế. Các em HS, trong vai trò là người công dân có tư duy độc lập sẽ phải tự mình suy nghĩ, tìm kiếm, xử lý thông tin và đưa ra quyết định hành động. Lúc đó, “nhận thức xã hội” trong đó có “nhận thức lịch sử khoa học” và “phẩm chất công dân” sẽ trở thành chìa khóa. Và nữa, nếu như chúng ta thừa nhận “nhận thức lịch sử khoa học” và “phẩm chất công dân” là thứ cần phải hình thành và phát triển ở HS trong giáo dục lịch sử thì các yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho người GV thực thi mục tiêu đó cũng cần phải đặt ra. Xem xét từ thực tiễn giáo dục lịch sử ở Nhật Bản có thể thấy các yếu tố đó bao gồm cơ chế “nhiều chương trình-nhiều sách giáo khoa”, sự tự chủ và sáng tạo của người giáo viên trong lựa chọn nội dung và phương pháp giảng dạy, KTĐG hướng vào “nhận thức lịch sử khoa học” và “phẩm chất công dân”, sự kết hợp ba hình thái giáo dục lịch sử “thông sử”, “lịch sử theo chuyên đề”, “lịch sử lội ngược dòng”…. Theo tôi, những yếu tố này cần phải được tính đến khi thiết kế và thực thi cải cách giáo dục lịch sử ở Việt Nam.

Hà Nội, tháng 3/2013

Nguyễn Quốc Vương

 

Tài liệu tham khảo

1. Bộ giáo dục và đào tạo-Trường ĐHSP Hà Nội, Kỷ yếu hội thảo quốc gia Nghiên cứu, giảng dạy lịch sử trong bối cảnh hội nhập quốc tế & và phát triển kĩ năng tự học cho học sinh, Hà Nội, 2011.

2. Bộ giáo dục và đào tạo-Trường ĐHSP Hà Nội, Kỷ yếu Hội thảo khoa học cán bộ trẻ trường ĐHSP Hà Nội lần thứ V-năm 2012.

3. Bộ giáo dục và  đào tạo – Hội khoa học lịch sử Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia về dạy học lịch sử ở trường phổ thông Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam, 8/1012.

4. Nguyễn Quốc Vương, “Tìm Hiểu về “tư duy lịch sử” và “phát triển tư duy lịch sử” cho học sinh ở Nhật Bản từ sau năm 1945 đến nay”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 439, tháng 11 năm 2012.

5. Hội Giáo dục môn Xã hội Nhật Bản, Shakaika Kyoiku Jiten (Từ điển giáo dục môn Xã hội), Gyosei, 2000.

6. Kaigo Tomiaki (chủ biên), Kyoiku kaikaku – sengo Nihon no kyoiku kaikaku 1 (Cải cách giáo dục – Cải cách giáo dục Nhật Bản thời hậu chiến tập 1), Tokyodaigaku Shuppankai, 1975.

7. Kato Kimiaki, wakuwaku ronso! Kangaeru Nihonshi jugyo (Giờ học lịch sử bằng tư duy phê phán), Chirekisha, 1991.

8. Kato Kimiaki, Kangaeru Nihonshi jugyo 2 (Giờ học lịch sử bằng tư duy phê phán 2), Chirekisha, 1995

9. Kato Kimiaki, Nihonshi toron jugyo no susume kata (Phương pháp tiến hành giờ học thảo luận lịch sử Nhật Bản), Nihonshoseki, 2000.

10. Kato Kimiaki, Kangaeru Nihonshi jugyo 3 (Giờ học lịch sử bằng tư duy phê phán 3), Chirekisha, 2007.

11. Kuroda Hideo, Sugata to Shigusa no chuseishi (Hình dáng và điệu bộ lịch sử thời Trung Thế), Heibonsha, 1986

12.Yasui Toshio, Kodomo to manabu rekishi no jugyo (Giờ học lịch sử cùng học tập với học sinh), Chirekisha, 1977.


[1] Về thực tiễn giờ học thảo luận sử dụng tranh ảnh lịch sử của Kato Kimiaki mời tham khảo bài viết “Hướng dẫn học sinh tự học trong “Giờ học lịch sử Nhật Bản bằng tư duy phê phán” của Kato Kimiaki” của tác giả  trong Kỉ yếu Hội thảo khoa học quốc gia Nghiên cứu, giảng dạy lịch sử trong bối cảnh hội nhập quốc tế và phát triển kĩ năng tự học cho học sinh, Bộ giáo dục và Đào tạo, Trường Đại học sư phạm Hà Nội, Hà Nội, 2001 (từ trang 246 đến trang 260).

[2] Kuroda Hideo, Sugata to Shigusa no chuseshi (Hình dáng và điệu bộ của lịch sử thời Trung Thế), Heibonsha, 1986.

[3] Kato Kimiaki, Wakuwaku ronso! Kangaeru Nihongshi jugyo (Giờ học lịch sử Nhật Bản bằng tư duy phê phán), Chirekisha, 1991, tr. 126-141.

[4] Nhà sư, người sáng lập phái Thời Tông sống vào thời Kamakura.

[5] Kato Kimiaki, Wakuwaku ronso! Kangaeru Nihongshi jugyo, Sđd, tr.128.

[6] Các viết của học sinh  như bài tập, bài kiểm tra  được đánh giá tốt đều được tôi đánh máy và lưu lại phục vụ nghiên cứu. Có thể đọc các bài viết của học sinh tại blog cá nhân của tôi ở địa chỉ sau: https://thonsau.wordpress.com/2012/10/07/ke-sach-cho-nhat-ban-giua-the-ki-xix-1/

[7] Để khắc phục nhược điểm này tôi đã đánh máy  114/151 bài làm tiêu biểu ở bài kiểm tra số (1)- bài kiểm tra đầu tiên- thành tập, có lời phê chung cho 114 bài và sao thành 3 bản “tặng” học sinh ở ba lớp. Các bài viết khác được tôi đưa lên blog cá nhân để học sinh có thể đọc bài của các bạn khác.

Advertisements

Tại sao chúng ta mất nước (41)

April 16, 2013 Leave a comment

Kiểm tra 45 phút

Môn: Lịch sử

Đề bài: Việt Nam là quốc gia đã từng nhiều lần chiến thắng giặc ngoại xâm trong lịch sử nhưng vào cuối thế kỉ XIX, sau gần 30 năm kháng chiến (1858-1884), Việt Nam đã thất bại và trở thành thuộc địa của Pháp. Tại sao? Em hãy chỉ ra và phân tích rõ các nguyên nhân khiến Việt Nam thất bại trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858-1884)

Bài Làm

Nhắc đến lịch sử chống ngoại xâm của Việt Nam, ta không thể quên những cuộc kháng chiến oai hùng như kháng chiến chống giặc Mông-Nguyên của nhà Trần, chống giặc Minh của Lê Lợi, chống giặc Tống của Lê Hoàn… Đó đều là những tấm gương lịch sử hào hùng chứng minh cho sức mạnh của nước Việt Nam, thứ sức mạnh to lớn của một dân tộc nhỏ bé mà như Bác Hồ đã viết trong tác phẩm “lòng yêu nước của nhân dân ta”: “Nó kết thành một làn sóng đè bẹp mọi kẻ thù…”. Thế mà chỉ sau gần 30 năm từ năm 1858, 30 năm chưa thể là cái gì so với lịch sử yêu nước, chống giặc của dân tộc ta trong hàng ngàn năm. Vậy lý do nước ta rơi vào tay của một trong những tên đế quốc hùng mạnh và dã man nhất là gì?

Hãy cùng nhìn vào lịch sử! Hãy xem quân đội Pháp và quân đội của những triều đại Trung Quốc có những điểm gì khác nhau!
Thứ nhất quân Pháp ít hơn, chắc chắn là thế! Bởi lẽ những chiến trường quy mô và quan trọng hơn là châu Âu và Trung Quốc đều được Pháp bố trí rất nhiều quân. Vì lý do gì mà chúng lại phải điều nhiều quân đến một nước nhỏ bé với dân số ít ỏi. Nếu đó là cái nhược điểm, nhược điểm về quân số thì chưa thể khẳng định quân Pháp yếu hơn. Nếu như quân Trung Quốc ồ ạt đánh sang với kiếm, đao, mác giống quân ta thì đánh bại chúng không phải là khó. Nhưng, hãy xem Pháp tấn công ta bằng gì? Súng, đại bác! Toàn những loại vũ khí mạnh mẽ có thể giết đối phương trong cự li xa, thời gian ngắn. Giả thử quân Pháp đánh từ biển bằng đại bác có thể làm kinh động quân lính thì quân ta lúc đó làm gì? Chạy tán loạn hay hươ gươm ra oai? Hãy chú ý chi tiết này: “Đêm 23 rạng sáng ngày 24-2-1861, quân Pháp mở cuộc tấn công quy mô vào Đại đồn Chí Hòa. Quân ta kháng cự mạnh mẽ nhưng không thắng nổi hỏa lực của địch. Đại đồn Chí Hòa thất thủ”. Đó! Đó là cái minh chứng rõ ràng và sinh động vô cùng cho sức mạnh hỏa lực của Pháp đè bẹp cái gọi là “sự kháng cự mạnh mẽ” của quân ta.

Nguyên nhân thứ hai là do triều đình Việt Nam ta là một con rắn nguy hiểm nhưng thử chặt cụt đầu nó đi! Triều đình nhà Nguyễn ở Huế là một triều đình nhu nhược, đáng trách. Vì lẽ gì mà triều đình lại tuân phục Pháp như một bậc sư phụ và đem quân đi đàn áp tất cả những kẻ chống lại “sư phụ” của mình. Ta có thể thấy rõ chi tiết: “lợi dụng sự bạc nhược của triều đình Huế, từ ngày 20 đến ngày 24-6-1867, quân Pháp đã chiếm các tỉnh miền Tây (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) không tốn một viên đạn”! Ta có thể cảm nhận rất rõ lòng yêu nước mà Hồ chủ tịch nhắc tới khi mà hàng loạt các cuộc khởi nghĩa liên tục nổ ra ở Nam Kì và những cái tên như Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Trung Trực… Rõ ràng lòng yêu nước của nhân dân ta một lần nữa đã “kết thành một làn sóng” nhưng sự nhu nhược của triều đình còn gây ra con sóng lớn hơn, đi ngược chiều với con sóng kia và làm nó tan ra thành bọt. Triều đình Pháp đã khôn ngoan biết dùng người Nam đánh người Nam.

Đó là những lý do chính khiến cho Việt Nam từ một dân tộc có lịch sử chống ngoại xâm hào hùng trở thành Việt Nam giương cờ trắng với Pháp sau gần 30 năm.

(ĐHQ, nam, học sinh lớp 8)

Tại sao chúng ta mất nước (28)

April 11, 2013 Leave a comment

Kiểm tra 45 phút

Môn: Lịch sử

Đề bài: Việt Nam là quốc gia đã từng nhiều lần chiến thắng giặc ngoại xâm trong lịch sử nhưng vào cuối thế kỉ XIX, sau gần 30 năm kháng chiến (1858-1884), Việt Nam đã thất bại và trở thành thuộc địa của Pháp. Tại sao? Em hãy chỉ ra và phân tích rõ các nguyên nhân khiến Việt Nam thất bại trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858-1884)

Bài Làm

 

Việt Nam là quốc gia đã từng nhiều lần chiến thắng giặc ngoại xâm trong lịch sử nhưng vào cuối thế kỉ XIX, sau gần 30 năm kháng chiến (1858-1884), Việt Nam đã thất bại và trở thành thuộc địa của Pháp. Việt Nam thất bại trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1858-1884) do khá nhiều nguyên nhân. Trước hết là do ở giai đoạn này, mặc dù trước khi bị thực dân Pháp xâm lược, Việt Nam là một quốc gia độc lập có chủ quyền, đạt được những tiến bộ nhất định về kinh tế, văn hóa, nhưng chế độ phong kiến Việt Nam đang có những biểu hiện khủng hoảng, suy yếu nghiêm trọng. Nông nghiệp sa sút, đất đai rơi vào tay địa chủ, cường hào. Dân lưu tán phổ biến. Đê điều không được chăm sóc. Mất mùa, đói kém xảy ra liên miên. Công thương nghiệp bị đình đốn. Chính sách “bế quan tỏa cảng” khiến cho nước ta bị cô lập với thế giới bên ngoài. Nhất là do quân sự lạc hậu, chính sách đối ngoại hết sức sai lầm, đặc biệt là việc “cấm đạo”, đuổi giáo sĩ phương Tây, đã gây ra những mâu thuẫn làm rạn nứt khối đoàn kết dân tộc, gây bất lợi cho sự nghiệp kháng chiến.

Trong thời kì đầu tấn công xâm lược nước ta, giặc Pháp đã vấp phải sự kháng cự ngoan cường của dân quân ta. Pháp nhiều lần đã rơi vào thế bí, đã tính phải rút quân về nước. Nhưng nhà Nguyễn, thay vì ủng hộ lại chọn con đường cầu hòa với Pháp để đàn áp phong trào nông dân trong nước, không chỉ vậy mà còn bắt tay với Pháp tiêu diệt hết phong trào. Điều này đã từng bước tạo điều kiện cho Pháp xâm lược và thôn tính nước ta. Không chỉ vậy, các quan trong triều đình thuộc một bộ phận muốn chống Pháp như Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu… thì lại bị chi phổi bởi kiểu đánh, kiểu chiến thuật phong kiến nên so với chiến thuật hiện đại của Pháp không địch nổi nên đã thất bại.

Trong giai đoạn này có nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra như cuộc kháng chiến chống Pháp ở Gia Định và các tỉnh miền Đông Nam Kì. Các cuộc khởi nghĩa này diễn ra liên tục, rộng khắp, gây nhiều khó khăn, tổn thất cho giặc nhưng lại thiếu tổ chức, thiếu sự lãnh đạo thống nhất nên cuối cùng đều thất bại. Ngoài ra, thất bại còn do bộ phận lãnh đạo phong trào kháng chiến chủ yếu là các văn thân sĩ phu yêu nước hạn chế về giai cấp, về lịch sử nên chưa có chính sách đúng đắn, mang nặng tư tưởng phong kiến.

Trong số các nguyên nhân thì có lẽ nguyên nhân do Nhà Nguyễn là nguyên nhân chính dẫn đến thất bại của dân tộc ta. Là thế lực cầm quyền của đất nước, đứng đầu nhà nước, nhà Nguyễn không thể không nhận trách nhiệm để mất nước vào tay Pháp. Lúc đầu, nhà Nguyễn cũng cố gắng chống chọi Pháp nhưng do kẻ thù vừa hơn về quân sự lại quá khôn khéo, nhà Nguyễn đã không tìm được chủ trương và biện pháp hữu hiệu để vượt qua. Các chính sách của nhà Nguyễn đã khiến họ tách dần ra khỏi cuộc kháng chiến của nhân dân, tạo điều kiện cho kẻ địch xâm lược. Họ đã đi từ thủ để hòa đến chủ hòa rồi đầu hàng. Họ không đoàn kết mà còn phá hoại các cuộc kháng chiến của nhân dân, bỏ mặc nhân dân với cuộc chiến đấu nên đã thất bại trong cuộc chiến.

Tất cả những nguyên nhân trên đã dẫn đến thất bại của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1858-1884)

( NDL, nữ, học sinh lớp 11)

 

Tại sao chúng ta mất nước (21)

April 8, 2013 Leave a comment

Kiểm tra 45 phút

Môn: Lịch sử

Đề bài: Việt Nam là quốc gia đã từng nhiều lần chiến thắng giặc ngoại xâm trong lịch sử nhưng vào cuối thế kỉ XIX, sau gần 30 năm kháng chiến (1858-1884), Việt Nam đã thất bại và trở thành thuộc địa của Pháp. Tại sao? Em hãy chỉ ra và phân tích rõ các nguyên nhân khiến Việt Nam thất bại trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858-1884)

Bài Làm

 

Việt Nam từng là một quốc gia chiến thắng giặc ngoại xâm nhiều lần trong lịch sử nhưng cuối thế kỉ XIX sau gần 30 năm kháng chiến, Việt Nam đã thất bại và trở thành thuộc địa của Pháp. Tại sao?

 

Một câu trả lời rõ ràng cho câu hỏi trên. Từ những năm đầu khi Pháp mang quân xâm lược Việt Nam (1858), chỉ với 3000 quân sĩ Pháp và Tây Ban Nha đã chiếm được bán đảo Sơn Trà (31/8/1858). Tuy vậy, quân sĩ của triều đình do Nguyễn Tri Phương chỉ huy đã chống trả quyết liệt nên quân Pháp thất bại. Đó là một dấu hiệu tốt ở những bước đầu. Nhưng khi biết mình thất bại trong chiến thuật đánh nhanh, thắng nhanh, Pháp đã chuyển hướng đánh Gia Định (2/1859) và đồn Chí Hòa (17/2/1859), chiếm được Định Tường, Biên Hòa và Vĩnh Long. Do vậy, triều đình nhà Nguyễn đã nhượng bộ, kí hiệp ước Nhâm Tuất (5/6/1862) với Pháp.

Đó là một bước đi sai lầm, một quyết định đã khiến cho nước Việt ta rơi vào ngã rẽ tối tăm. Rồi bắt đầu ở Nam Kì, Pháp xây dựng bộ máy cai trị, đàn áp các cuộc khởi nghĩa, bóc lột kinh tế của nhân dân ta và đánh chiếm Cao Miên, Lào.

Trong khi đó triều đình nhà Nguyễn vẫn tiếp tục thi hành chính sách “bảo thủ”, không chịu cải cách. Một quyết định sai lầm khiến cho đất nước phải chịu lầm than, cực khổ.

Chúng ta đã từng có những cuộc chiến lịch sử hào hùng, bi tráng: ba lần đánh thắng quân Nguyên-Mông, giết chết Ô Mã trên sông Bạch Đằng, bắt sống Toa Đô tại cửa Hàm Tử… Nhưng nhà Nguyễn đã không làm theo, noi gương trang sử xưa mà chỉ “bảo thủ”, “bảo thủ” ngồi im tại chỗ. Nhưng tham vọng của Pháp không dừng lại ở đó, chúng còn muốn cả Bắc Kì. Thực dân Pháp đã đưa tên Đuy-Puy lái súng ra quấy rối rồi cử Gác-ni-ê mang theo 200 quân đánh thành Hà Nội. Nhưng với tinh thần yêu nước, nhân dân Hà Nội đã chống lại thực dân Pháp và giết chết Gác-ni-ê tại Cầu Giấy (21-12-1873).

Nhưng rồi một quyết định sai lầm khác, triều đình nhà Nguyễn đã kí hiệp ước Giáp Tuất (15-3-1874) với nội dung: “Nhà Nguyễn sẽ cắt 6 tỉnh Nam Kì cho Pháp với điều kiện Pháp rút khỏi Bắc Kì”. Nhà Nguyễn đã quyết định sai lầm khi kí các bản hiệp ước lại đàn áp những cuộc khởi nghĩa, phong trào của nhân dân ta chẳng khác gì “gà cùng nhà đá nhau”.

Lại thêm một lần nữa. Pháp muốn đánh chiếm Bắc Kì liền lấy cớ triều Nguyễn tiếp tục giao thiệp với nhà Thanh mà không báo cáo với Pháp để gây sự chiếm Bắc Kì. Ngày 25-4-1882, Rivie đã gửi tối hậu thư cho Hoàng Diệu-tổng đốc giữ thành Hà Nội. Nhưng không đợi trả lời, quân Pháp đã nổ súng tấn công. Thành Hà Nội thất thủ, Hoàng Diệu tự vẫn. Nhưng lại một lần nữa, nhân dân yêu nước đã giết chết Rivie tại Cầu Giấy lần thứ hai vào 19-5-1883-với sự giúp đỡ của quân triều đình và quân Cờ đen. Nhưng trong thời gian đó, triều Nguyễn lại không có biện pháp kiên quyết đuổi giặc Pháp, tạo cơ hội cho Pháp tăng thêm viện binh. Rồi chiều 18/8/1883, Pháp đã tấn công đồn Thuận An bằng pháo binh, đổ bộ lên bờ. Cao ủy Hác-măng đã đưa ra bản hiệp ước mới-Hiệp ước Hác-măng (1883).

Sau hiệp ước 1883, nhân dân đã nổi dậy, làn sóng phẫn nộ dâng cao làm quân Pháp gặp khó khăn. Pháp lại tập trung kí hiệp ước mới với triều đình. Hiệp ước Pa-tơ-nốt. Đó là sự sụp đổ của triều đại phong kiến Việt Nam.

Do triều đình hèn kém, bảo thủ, không chịu cải cách, không chịu đổi mới đánh quân Pháp như Nhật Bản đã từng làm nên dẫn đến sự sụp đổ của triều đại phong kiến. Những cơ hội đánh Pháp đã bị bỏ lỡ rất đáng tiếc gây nên tiếng xấu về muôn đời cho nhà Nguyễn.

(NAP, nữ, học sinh lớp 8)

 

Tại sao chúng ta mất nước (20)

April 7, 2013 Leave a comment

Kiểm tra 45 phút

Môn: Lịch sử

Đề bài: Việt Nam là quốc gia đã từng nhiều lần chiến thắng giặc ngoại xâm trong lịch sử nhưng vào cuối thế kỉ XIX, sau gần 30 năm kháng chiến (1858-1884), Việt Nam đã thất bại và trở thành thuộc địa của Pháp. Tại sao? Em hãy chỉ ra và phân tích rõ các nguyên nhân khiến Việt Nam thất bại trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858-1884)

Bài Làm

 

Việt Nam thất bại và trở thành thuộc địa của Pháp là do nhiều nguyên nhân, từ khách quan tới chủ quan.

Nguyên nhân khách quan: Pháp là đế quốc mạnh về cả kinh tế lẫn quân sự, Pháp lại có quyết tâm biến nước ta thành thuộc địa, hơn nữa trong giai đoạn thế kỉ XIX Việt Nam phải đối diện với nhiều ánh mắt dòm ngó của các quốc gia mạnh hơn.

Nguyên nhân chủ quan là do Việt Nam thiếu hẳn đường lối cứu nước đúng đắn, không có sự chỉ huy kiên cường, sáng tạo, không khơi dậy được trong lòng toàn dân quyết tâm đánh giặc. Sự thất bại của Việt Nam chung quy lại là do sự suy yếu nghiêm trọng và sự lạc hậu, bảo thủ của nhà Nguyễn. Trong hơn 50 năm trị vì của nhà Nguyễn, đất nước đã sa sút về cả nông nghiệp lẫn thương nghiệp. Đời sống nhân dân đói khổ do mất đất đai. Sự buôn bán của thương nhân không thuận lợi vì chính sách “bế quan tỏa cảng”, đất nước ta bị cô lập với thế giới bên ngoài. Sự điều hành đất nước với chính sách quân sự lạc hậu cùng với chính sách đối ngoại sai lầm như đuổi giáo sĩ phương Tây đã làm tiền đề cho những mâu thuẫn ngay trong nội bộ đất nước cũng như gây hấn với nước ngoài. Nhà Nguyễn với mô hình kinh tế-chính trị-xã hội có tính chất bảo thủ đã xây dựng nên một thứ gọi là “quân đội”. Tuy nhiên đội quân này không có tinh thần chiến đấu, chủ nghĩa yêu nước chưa giác ngộ. Hơn nữa, đội quân này không phải đội quân của quốc gia dân tộc mà đội quân của nhà vua. Trong khi đó vua nhu nhược, các cơ quan đầu não điều hành đất nước thì hoang mang lo sợ, chỉ chủ trương “cầu hòa” là chính yếu. Thử hỏi làm sao mà “quân đội” có lòng mà chiến đấu?

Do triều đình để dân đói khổ nên không thiếu những cuộc khởi nghĩa chống triều đình. Những lúc như vậy quân triều đình lại dẹp loạn. Chung quy lại là quân mình đánh quân ta, tự làm đất nước suy yếu.

Bộ máy điều hành nhà nước phong kiến bảo thủ chưa được tiếp xúc với chủ nghĩa khoa học tư bản phương Tây nên chưa hiểu rõ được bản chất kẻ thù để rồi Pháp cài gián điệp biết hết mọi nhất cử nhất động của ta, dễ dàng tính kế xâm lược.

Đến khi đất nước bị tấn công vua quan nhà Nguyễn vẫn tiếp tục thi hành chính sách bảo thủ, để đất nước chịu thiệt rất nhiều trước kẻ thù. Tiêu biểu là ngày 5/6/1862 triều đình nhà Nguyễn đã kí với Pháp hiệp ước Nhâm Tuất và nhượng cho chúng nhiều quyền lợi. Đau lòng hơn là sau khi kí hiệp ước Hác-măng và Pa-tơ-nốt triều đình đã thừa nhận sự bảo hộ của Pháp ở Trung kì và Bắc Kì và một phần lãnh thổ quốc gia trở thành thuộc địa nửa thực dân phong kiến.

Tóm lại, do nhà Nguyễn “bù nhìn” để Pháp liên tục lấn tới mặc dù Việt Nam hoàn toàn có thể đứng lên phòng thủ, bảo vệ đất nước khỏi sự xâm lược. Đó là do những người đứng đầu nhu nhược để rồi kí ba “hiệp ước bán nước”.

(HHH, nam, học sinh lớp 11)

Tại sao chúng ta mất nước (17)

April 4, 2013 Leave a comment

Kiểm tra 45 phút

Môn: Lịch sử

Đề bài: Việt Nam là quốc gia đã từng nhiều lần chiến thắng giặc ngoại xâm trong lịch sử nhưng vào cuối thế kỉ XIX, sau gần 30 năm kháng chiến (1858-1884), Việt Nam đã thất bại và trở thành thuộc địa của Pháp. Tại sao? Em hãy chỉ ra và phân tích rõ các nguyên nhân khiến Việt Nam thất bại trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858-1884)

Bài Làm

 

Là một quốc gia có lịch sử oai hùng trong công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, Việt Nam đã cho bạn bè quốc tế biết rằng Việt Nam tuy nhỏ nhưng có sức mạnh vô cùng to lớn. Tuy nhiên trong những năm 1858-1884, Việt Nam đã liên tiếp thất bại và trở thành thuộc địa của Pháp, điều này khiến nhân dân vô cùng tức giận. Vậy nguyên nhân là do đâu?

Trong chiến sự ở Đà Nẵng 1858-1859, quân Pháp bất ngờ tấn công Đà Nẵng. Chúng định chiếm được Đà Nẵng sẽ kéo đến Huế và buộc nhà Nguyễn đầu hàng. Trong những năm này, vua ăn chơi sa đọa, không chăm lo triều chính, binh sĩ không được rèn luyện. Mặc dù vậy nhưng nhờ sự anh dũng của quân và dân ta và thêm sự chỉ huy tài giỏi của tướng Nguyễn Tri Phương, quân Pháp thất bại nhưng nước ta cũng bị mất bán đảo Sơn Trà.

Sau sự thất bại ở chiến thuật đánh nhanh thắng nhanh, Pháp đã chuyển hướng vào Gia Định. Lúc này quân ta có nhiều lương thực và vũ khí nhưng  vẫn thất bại do binh sĩ không được tập luyện. Tháng 7 năm 1860, phần lớn quân Pháp bị điều động sang chiến trường châu Âu và Trung Quốc, số quân còn lại chưa đến 1000 tên phải dàn mỏng trên một phòng tuyến dài hơn 10km. Đây là một cơ hội vô cùng lớn cho quân ta vì lực lượng quân Pháp lúc này rất ít ỏi, nếu ta tập trung lực lượng đế đánh thì sẽ giành được thắng lợi. Tuy nhiên, quân ta không nắm bắt cơ hội mà lại đóng tại đồn Chí Hòa ở tư thế “thủ hiểm”. Sau khi tạm thời kết thúc chiến tranh ở Trung Quốc, quân Pháp đã tập trung đưa lực lượng và mở cuộc tấn công lớn vào đồn Chí Hòa đêm 23 sáng 24/2/1861, quân ta tuy kháng cự nhưng vẫn thất bại và lần lượt mất các tỉnh Định Tường, Biên Hòa và Vĩnh Long.

Tuy vậy Pháp vẫn âm mưu chiếm Bắc Kì, Pháp đã bắt đầu xây dựng bộ máy cai trị ở Nam Kì mà nhà Nguyễn vẫn thực thi chính sách bảo thủ. Khi tên lái súng Đuy Puy gây rối ở Bắc Kì, triều đình nhà Nguyễn đã không xử lí mà lại yêu cầu Pháp cử người ra Bắc giải quyết, tạo điều kiện cho Gác-ni-ê đem quân  ra đánh thành Hà Nội vào ngày 20-11-1873. Nhân dân ta đã kháng chiến, tập kích, đốt tàu của Pháp trên sông Hồng. Vào ngày 21-12-1873, Gác-ni-ê đã bị giết khi tiến ra Cầu Giấy. Quân Pháp đi tới đâu bị tập kích tới đó. Trong khi việc kháng chiến thuận lợi như thế, triều đình đã kí hiệp ước Giáp Tuất (15-3-1874) cắt 6 tỉnh Nam Kì cho Pháp. Quân ta đã thất bại trong khi chiến thắng ở ngay trước mắt.

Khi Pháp tiếp tục chiếm Bắc Kì lần 2, kinh tế nước ta suy kiệt, nhân dân phản đối Hiệp ước  Giáp Tuất dâng cao. Tướng Hoàng Diệu làm mất thành Hà Nội thì tự vẫn. Khi giết được Ri-vi-e, triều đình đã không kiên quyết tấn công và một lần nữa làm mất cơ hội lớn để đuổi thực dân Pháp và tạo điều kiện cho Pháp tăng thêm viện binh. Triều đình lại liên tiếp kí hiệp ước Hác-măng, Pa-tơ-nốt và Việt Nam hoàn toàn nằm dưới sự cai trị của Pháp.

Việt Nam đã liên tiếp thất bại vì đã liên tiếp đánh mất cơ hội lớn để đuổi Pháp, vua không chăm lo quân đội và tiếp tục thi hành chính sách bảo thủ, không chịu cải cách, làm đất nước rối loạn, tạo điều kiện cho Pháp xâm lược và biến nước ta thành thuộc địa, và do lực lượng còn yếu và chỉ sử dụng chiến thuật phòng thủ không chủ động tấn công.

(BTDL, nữ, học sinh lớp 8)

Tại sao chúng ta mất nước (15)

April 2, 2013 Leave a comment

 

Kiểm tra 45 phút

Môn: Lịch sử

Đề bài: Việt Nam là quốc gia đã từng nhiều lần chiến thắng giặc ngoại xâm trong lịch sử nhưng vào cuối thế kỉ XIX, sau gần 30 năm kháng chiến (1858-1884), Việt Nam đã thất bại và trở thành thuộc địa của Pháp. Tại sao? Em hãy chỉ ra và phân tích rõ các nguyên nhân khiến Việt Nam thất bại trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858-1884)

Bài Làm

Việt Nam là một quốc gia đã từng chiến thắng giặc ngoại xâm. Tuy nhiên, trong cuộc chiến tranh chống Pháp, Việt Nam đã thất bại nặng nề. Vì sao vậy? Ta sẽ xét đến những mặt mà Việt Nam thua Pháp.

Đầu tiên là về thời gian Pháp xâm lược Việt Nam vào giữa thế kỉ XIX. Vào lúc đó, Pháp đang ở chế độ tư bản chủ nghĩa, chính phủ đẩy mạnh việc chạy đua vũ trang và xâm lược thuộc địa. Các ngành công nghiệp ở Pháp tăng trưởng rất nhanh. Do vậy, quãng đường từ nước Pháp đến Việt Nam được rút ngắn, phù hợp với chiến thuật “đánh nhanh thắng nhanh” của họ.

Nhờ chủ nghĩa tư bản mà vũ khí của Pháp ở đẳng cấp cao hơn nước ta. Họ đã phát triển vũ trang để tăng cường việc xâm lược thuộc địa. Còn vũ khí của nhà Nguyễn lạc hậu, không thể đọ lại với Pháp. Vì vậy, trong tất cả các cuộc kháng chiến giữa nhà Nguyễn và Pháp thì nước Pháp hầu hết đều thắng lợi.

Tiếp theo, rất quan trọng, đó là phản ứng của triều đình Huế trước sự xâm lược của Pháp. Lúc đó, vua Tự Đức không chịu nghe lời cải cách duy tân của các hiền thần, quan lại cho nên kinh tế nước ta suy yếu, nghèo nàn, lạc hậu, không có khả năng chống lại đế quốc xâm lược. Ngoài ra triều đình nhà Nguyễn còn kí nhiều bản hiệp nước như Nhâm Tuất, Giáp Tuất, Hác-măng, Pa-tơ-nốt, tạo cho Pháp nhiều quyền lợi, qua đó lấn chiếm dần nước ta, dẫn đến sự thất bại của nhà Nguyễn và sự sụp đổ của nhà nước phong kiến Việt Nam.

Cuối cùng là đã có rất nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân để chống lại quân xâm lược. Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám (Đề Thám)… Tuy nhiên, những cuộc khởi nghĩa này đều bị dập tắt do chọn địa thế dễ mai phục, chiến thuật sai lầm… Vậy nên, Pháp đã dễ dàng đánh bại các phong trào nhân dân để tạo điều kiện cho việc biến Việt Nam thành thuộc địa.

Nói tóm lại, Pháp đã tận dụng tất cả các lợi thế của chúng để xâm lược và biến Việt Nam, cùng với các nước lân cận, thành thuộc địa để cai trị và bóc lột tàn bạo, phục vụ cho hai cuộc chiến tranh thế giới sắp đến.

 

(TKN, nam, học sinh lớp 8)

%d bloggers like this: