Archive

Posts Tagged ‘văn hóa Nhật Bản’

Lễ hội Nhật Bản

March 1, 2012 3 comments

Lễ hội (祭り)

Lễ hội nhật bản được chia làm hai loại. Lễ hội truyền thống được tổ chức có liên quan đến Thần đạo và lễ hội của cộng đồng dân cư ở khu vực nào đó diễn ra vào một dịp đặc biệt. Những nghi lễ của lễ hội rất phong phú và có sự hòa trộn với tín ngưỡng của cư dân và luôn diễn ra ở bất cứ nơi nào trên đất Nhật có đền thần đạo. Trong khi đó các sự kiện khác do cộng đồng tổ chức với sự đông đảo mọi người tham gia cũng được gọi là matsuri (lễ hội).

Lễ hội Tuyết (雪祭り)

Lễ hội Tuyết ở Sapporo -Hokkaido (Wikipedia)

Hokkai do là nơi cực bắc xa nhất trong số 4 hòn đảo chính cấu thành quần đảo Nhật Bản. Đóng vai trò là trung tâm của Hokkaido là Sapporo – thành phố chủ nhà cho lễ hội olympic mùa đông và nó cũng nổi tiếng với lễ hội tuyết. Không giống như những lễ hội truyền thống khác có liên quan đến thần đạo, lễ hội này là lễ hội điêu khắc tuyết và vốn được bắt đầu sau chiến tranh thế giới thứ hai. Lễ hội được tổ chức trong công viên ở trung tâm sapporo thu hút hàng trăm ngàn nhà điêu khắc bao gồm cả du khách nước ngoài đến dự.

Từ những người thuộc cục phòng vệ cho tới những người dân thường đều tham gia sáng tạo tác phẩm. Những hình ảnh khổng lồ như lâu đài hay quái vật được chế tác trong vài tuần với lượng tuyết lớn được chở đến từ bên ngoài thành phố và chúng rất được mọi người ưa thích.

Lễ hội Nebuta (ねぶた祭り)

Một Nebuta (wikipedia)

Mùa hè ở các tỉnh phía bắc thường ngắn. Lễ hội Nebuta được tổ chức ở những quận phía đông bắc của Nhật Bản tạo nên niềm hưng phấn cho mọi người trong mùa hè ngắn ngủi. Ban đầu nó được bắt đầu như là sự kiện cho lễ hội Thất tịch(七夕). Nó là cuộc diễu binh xung quanh thành phố.  Nebuta- những chiếc bè đa màu sắc khổng lồ với hình nộm các võ sĩ làm bằng giấy – tỏa sáng và một số lượng lớn đến hàng ngàn người tụ tập xung quanh Nebuta và nhảy múa lượn quanh thành phố. Vào khi nhiều 60 Nebuta  hiện ra có thể tạo nên một đám đông khổng lồ kèm theo sức nóng khủng khiếp. Lễ hội diễn ra bắt đầu từ ngày một đến ngày ba tháng 8 tại thành phố Aomori và Hirosaki ở vùng đông bắc Nhật. Người ta ghi nhận rằng những năm gần đây có khoảng 3 triệu 300 ngàn người và họ cũng tham dự lễ hội này ở cả nước ngòai. Lễ hội này Có thể được coi là một trong những lễ hội tiêu biểu của Nhật Bản.

Lễ hội Sanja(三社祭)

Đây là một trong ba lễ hội tiêu biểu của Tokyo. Nó được tổ chức với tư cách là lễ hội của đền thần đạo Asakusa vào giữa tháng năm. Những lễ hội của Ê-đô (nay là Tokyo) thường chủ yếu được thiết kế với tâm điểm là việc mọi người vận chuyển những đền thần đạo di động trên vai và diễu hành xung quanh vùng. Lễ hội Sanja này rất nổi tiếng, với hàng tá các đền thờ thần đạo di động (kiệu) và mỗi đền là đại diện cho một khu phố và có ba ngôi đền to nhất sẽ được diễu hành hoành tráng qua nhưng con đường cổ xưa truyền thống của Asakusa và có đến hàng trăm ngàn người tụ tập đến đó xem hàng năm. Những điệu nhạc, điệu nhảy nghi lễ cũng được biểu diễn trong khu vực ngôi đền chính. Vào dịp năm mới ngôi đền này cũng đông nghẹt khách.

Lễ hội Kanda (神田祭)

Kanda từng được biết tới như là trung tâm thương mại và dân cư của  Ê-đô (nay là Tokyo). Vì thế ai sinh ra ở đây sẽ được gọi là “con của Edo”. Lễ hội Kanda được tổ chức tại đền thờ Kanda vào tháng 5. Giống như các lễ hội khác ở Tokyo việc rước kiệu (đền thờ thần đạo) là sự kiện chính của lễ hội. Những người con của Ê-đô thường được miêu tả như những người dũng cảm, hiếu chiến nhưng cho dù vậy lễ hội Kanda là cao thượng và thậm chí được gọi là Hoa của E-đô. Ngày nay nó không còn có cái không khí sôi sục như thời xưa nhưng vẫn là một trong ba lễ hội tiêu biểu của Tokyo.

Lễ hội Gion (祇園祭り)

Đây là lễ hội đền thờ thần đạo nổi tiếng được tổ chức tại đền Yasaka ở Kyoto vào ngày 17 cho đến ngày 24. Lúc đầu đền thần đạo này được xây để làm dịu đi bệnh dịch bùng phát vào đầu thời kì Heian (794-1185). Nghi lễ ban đầu của hội là tẩy trừ bệnh dịch với tâm điểm là những chiếc kích cao tới 6 mét. Những chiếc kích này được dần thay thế bằng những chiếc kiệu khổng lồ có trang trí các cây kích và trở nên nổi tiếng vởi vẻ lộng lẫy, tráng lệ của chúng trái ngược với cái không khí dũng mãnh, sôi động của lễ hội ở Ê-đô. Những chiếc kiệu này có cấu tạo hai tầng. Trên tầng hai là các nhạc cụ truyền thống. Khi tháng bảy tới việc tập luỵên các nhạc cụ này chuẩn bị cho lễ hội diễn ra ở rất nhiều nơi trong thành phố và trở thành tâm điểm chú ý của du khách khi tới viếng tham Kyoto.

Lễ hội Dontaku (どんたく)

Đây là lễ hội của đền thờ thần đạo Kushida được diễn ra ở Hakata, Kyushu vào ngày 3,4 tháng 5. Dontaku là một từ vay mượn từ tiếng Hà lan (zondag) có nghĩa là ngày chủ nhật và ngày lễ.Lũ trẻ được coi như những thiên thần của lễ hội, chúng khởi hành từ ngôi đền ngồi trên những chiếc kiệu theo sau là ba vị phúc  thần cưỡi ngựa Ebisu, Daikoku và Fukurokuju. Những chiếc lọng trang trí cho những chiếc kiệu được trang trí lộng lẫy (kashahoko) và dashi- những chiếc bánh xe khổng lồ- được trang trí lộng lẫy đi tiếp phía sau và cả đám đông diễu hành xung quanh thành phố và lũ trẻ sẽ biểu diễn một số vũ điệu tại một số địa điểm nhất định. Không khí lễ hội sôi động hơn với tiếng đàn shamisen và tiếng trống Nhật Bản. Lễ hội âm nhạc này đã bắt đầu cách đây 800 năm để bày tỏ lòng biết ơn đối với lãnh chủ Taira no Shigemori vào thời đó.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ 日本の文化を英語で紹介する事典。(A billingual Handbook on Japanese culture

Tác giả 杉浦 洋一(yoichi Sugiura) và John K.Gillespie.

Nxb Natsume (ナツメ)。Năm 2004.

Advertisements

Các ngày kỉ niệm và lễ hội ở Nhật Bản.

February 29, 2012 Leave a comment

Ngày lễ thành nhân (成人の日)

Ngày thứ hai đầu tiên của tháng giêng là ngày lễ thành nhân. Nó được coi là ngày quốc lễ lần đầu tiên vào năm 1948. Vào ngày này trên toàn quốc những ai bước sang tuổi 20 đều được chúc phúc và tổ chức lễ kỉ niệm. Phần lớn những thiếu nữ tham dự ngày này đều mặc áo kimono sặc sỡ với đôi ống tay áo dài. Ở Nhật khi bước sang tuổi 20 thì thanh niên được coi là người lớn. Tuổi 20 là một bước ngoặt quan trọng khi thanh niên được công nhận các quyền công dân, có quyền bầu cử. Cũng từ độ tuổi này thanh niên Nhật được phép hút thuốc và uống rượu.

Setsubun (節分)

Setsubun báo hiệu sự chuyển mùa đặc biệt này nay nó rơi vào khoảng ngày 3 tháng 3, một ngày trước ngày đầu tiên của mùa xuân. Vào buổi tối của ngày này, mọi người sẽ ném đậu khắp trong và ngoài nhà kèm theo câu nói “鬼は外、福は内“ (quỷ ra phúc vào) để cầu nguyện khỏe mạnh trong suốt năm đó, đi kèm theo là phong tục ăn số hạt đậu đúng bằng số tuổi. Tại đền thờ thần đạo và các ngôi chùa cũng diễn ra những hoạt động tương tự.

Ngày lập quốc (建国記念の日)

Ngày 11 tháng 2 là ngày lập quốc và cũng là quốc lễ. Cho dù nó được gọi là ngày lập quốc nhưng nó không giống như là ngày độc lập của Mĩ, một ngày lịch sử đặc biệt. Nó dựa trên một truyền thuyết rằng Thiên hoàng đầu tiên Jinmu đăng quang vào ngày 11 tháng 2 và ngày đó được coi là ngày lập quốc. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai nó bị tạm ngừng vì không có cứ liệu lịch sử nào nhưng từ năm 1967 nó lại được tiếp tục.

Hinamatsuri (ひな祭り)

Hinamatsuri diễn ra vào tháng ba và đây là dịp để cầu chúc cho các bé gái trưởng thành và hạnh phúc. Phần lớn các gia đình có bé gái trang trí búp bê cho lễ hội này và hiến tế cho búp bê hoa anh đào, bánh hishi mochi, bánh gạo có hình kim cương và màu sắc đặc biệt và các vật khác nữa. Nguồn gốc của lễ hội hina bắt nguồn từ  tập tục cổ xưa của Trung Hoa ở đó người ta tin rằng tội lỗi và những điều không may mắn sẽ chuyển sang búp bê và sau đó người ta sẽ đem thả trôi sông những búp bê này. Khi tập tục này truyền đến Nhật, nó được gắn với việc các bé gái chơi búp bê và đến thời Edo (1603-1868) chuyển thành lễ hội Hina.

Ngày hiến pháp (憲法の日)

Ngày này được coi là quốc lễ để kỉ niệm ngày công bố hiến pháp của nước Nhật (ngày 3 tháng 5 năm 1947). Hiến pháp này lập sau chiến tranh thế giới thứ hai cho nên điều 9 của hiến pháp quy định từ bỏ chiến tranh và không xây dựng quân đội. Những cũng có cách hiểu khác là quân đội cho phòng vệ là được phép và đấy là lí do cho sự tồn tại của Cục phòng vệ Nhật (đã đổi thành bộ quốc phòng). Tinh thần cơ bản của hiến pháp là tôn trọng hòa bình, chủ quyền quốc dân và nhân quyền.

Ngày trẻ em (子どもの日)

Ngày 5 tháng 5 là ngày trẻ em. Ban đầu nó được coi là ngày hội của các bé trai và được tổ chức để cầu chúc cho bé trai chóng lớn nhưng hiện nay nó đã trở thành ngày lễ chung cho trẻ em. Vào ngày này, các gia đình có bé trai sẽ bày ra búp bê dành cho lễ hội bé trai, thường là có hình dáng như anh hùng hoặc là võ sĩ samurai và treo hình con cá chép lội ngược dòng suối (cá chép vượt vũ môn). Cá chép có sức mạnh đủ để bơi ngược suối và được coi là biểu tượng thành công trong đường đời. Ngày này cũng được biết đến với tập tục tắm trong bồn tắm ngâm cây diên vĩ (iris-菖蒲)-loài cây được biết đến là có dược tính. Nó cũng bao gồm cả hoạt động ban phát các loại bánh kẹo ngọt truyền thống của nhật gói trong lá tre (trúc) và lá cây sồi.

Shichigosan (七五三)

Đây là sự kiện diễn ra vào ngày 15 tháng 11 để cầu nguyện cho các bé chóng lớn. Bởi vì số lẻ đối với người Nhật là rất quan trọng và là số tốt vì thế đây là dịp tốt để người Nhật cầu nguyện cho bé khi bé được 3,5,7 tuổi. Vào ngày này lũ trẻ mặc quần áo lễ hội và đi cùng cha mẹ tới đền thờ thần đạo để cầu thần phù hộ. Các trẻ sẽ nhận được viên kẹo nghìn tuổi  chitose (千歳飴)  thứ kẹo dài, thon có màu đỏ, trắng đựng trong các túi với hình minh họa là các con rùa và con sếu. Chitose có nghĩa là “một ngàn tuổi” và ở Nhật Bản cả sếu và rùa đều là biểu tượng của trường thọ. Thêm vào đấy màu đỏ đi cùng màu trắng là biểu hiện sự tốt lành theo quan niệm của người Nhật. Tất cả những điều đó đều nhắm đến sự cầu chúc cho các trẻ khỏe mạnh và chóng lớn.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ 日本の文化を英語で紹介する事典。(A billingual Handbook on Japanese culture

Tác giả 杉浦 洋一(yoichi Sugiura) và John K.Gillespie.

Nxb Natsume (ナツメ)。Năm 2004.

Hoa Đạo-Trà Đạo-Thư Đạo

February 22, 2012 Leave a comment

Hoa Đạo (Kado-華道。生け花)

Nghệ thuật cắm hoa Nhật Bản (Wikipedia)

Kado là một môn nghệ thuật truyền thống Nhật Bản thịnh hành từ thế kỉ 16. Nó cũng được gọi là Ikebana vốn được coi là có nguồn gốc vào thế kỉ thứ 6 khi các tín đồ phật giáo dâng hoa lên đức Phật. Những khái niệm cơ bản của nó là diễn tả ba yếu tố của Thiên ( vũ trụ), Địa (đất) và Nhân (con người) trong một tác phẩm đạt tới sự hài hòa cân bằng làm từ hoa tự nhiên. Kiểu chung nhất là dùng bát cắm hoa miệng rộng, có nước sau đó cắm hoa vào trên một cái bàn chông bằng kim loại. Vẻ đẹp tự nhiên cũng như cảm xúc người nghệ sĩ được biểu hiện qua việc xén tỉa hoa bằng kéo và dùng tay uốn cong các nhánh. Ngày nay một số nghệ sĩ tiên phong còn không hề sử dụng một nhánh cây nào khi thể hiện tác phẩm.

Trà Đạo (Sado-茶道)

Sado  cũng được gọi là Chado hoặc là Cha no yu, là phương pháp pha và uống trà truyền thống của người Nhật khi có khách đến. Trong trà đạo, trà mạt đặc biệt, khác thứ trà nguyên thủy của Nhật, được sử dụng chủ yếu. Mạt trà được cho vào ấm, nước sôi được rót vào và được khuấy  bằng chiếc đũa tre cho đến khi nó tan và uống.

Trà đạo Nhật Bản (Wikipedia)

Vào thế kỉ 16 , Sen no Rikyu đưa trà đạo đạt đến sự hoàn hảo bằng việc đưa vào những giá trị mĩ học như Wabi, Sabi và khái niệm ichigo ichie ( 一期一会).  Để làm cho buổi họp mặt quan trọng, người chủ chuẩn bị mọi thứ với tất cả tấm lòng thành thật bao gồm:  các tấm bình phong, hoa trang trí ở góc phòng (hốc tường thụt vào để đặt giường) và cả bộ đồ pha trà. Với những hành động như thế, người khách sẽ cảm nhận được sự hiếu khách cũng như trái tim nồng ấm của chủ nhà.

Thư Đạo (Shodo-)

thư pháp Nhật Bản (wikipedia)

Thư đạo (thư pháp)  là nghệ thuật viết chữ bằng bút lông và mực tàu để diễn tả chiều sâu và vẻ đẹp tâm hồn. Thư pháp vốn bắt nguồn từ Trung Hoa nhưng  ở Nhật Bản các Hán tự (kanji) đã được kết hợp với các kí tự Kana biểu âm do người Nhật tạo ra đã tạo nên một phong cách riêng. Với một chiếc bút lông thấm đẫm mực tàu người viết có thể tự do điều khiền nét thanh nét đậm,  độ bóng, nghiêng của chữ khác hẳn với việc dùng bút thông thường. Đó chính là việc các nghệ sĩ thể hiện ý tưởng và tinh thần họ như thế nào. Dựa trên tiêu chuẩn Kaisho (楷書― square style of writing), thư pháp có thể được chia thành Hành thư (Gyos-行書) và Thảo thư (Sosho-草書)。

Ngoại trừ trong dịp viết thiếp chúc mừng năm mới người ta ít dùng bút lông nhưng thư pháp rất phổ biến trong chương trình học của học sinh cấp một.

Nguyễn Quốc Vương dịch từ 日本の文化を英語で紹介する事典。(A billingual Handbook on Japanese culture

Tác giả 杉浦 洋一(yoichi Sugiura) và John K.Gillespie.

Nxb Natsume (ナツメ)。Năm 2004.

Văn hóa truyền thống Nhật Bản (II)

February 17, 2012 Leave a comment

()

Một hình thức nghệ thuật biểu diễn với một câu chuyện nhỏ. Nô là thể loại ca kịch cổ nhất Nhật Bản. Nô phát triển mạnh mẽ từ thế kỉ 14. Câu chuyện được kể với giọng điệu đẹp được gọi là Utai (謡) và các vai được chia thành vai chính Shite và các vai phụ Waki. Các Shite đeo các mặt nạ bọc sơn mài làm bằng gỗ và các bộ trang phục thêu kim tuyến. Cũng có những vai không đeo mặt nạ nhưng  thường thì khuôn mặt lại không  ấn tượng bằng thứ mặt nạ không biểu hiện tình cảm gì.

Bởi mọi di chuyển bị hạn chế và các diễn viên không thể hiện tình cảm gì qua lời nói, Nô diễn tả những khía cạnh tăm tối của con người, mặt khác những cử chỉ bí ẩn và tiếng nhạc đều đều được biết đến như vẻ đẹp huyền diệu, bí ẩn.

狂言(kyougen

Là một loại hài kịch cổ diển của Nhật Bản. Giống như Nô nó ra đời vào thời kì Muromachi (1333-1573) bởi cặp cha con Kan Ami và Zeami (観阿弥、世阿弥) . Ban đầu nó được biểu diễn xen giữa các vở Nô, nhưng bây giờ nó được biểu diễn độc lập và đôi khi các diễn viên của Kyogen đóng các vai trong Nô.

So sánh với Nô, thì Kyogen có tính đại chúng hơn. Mặt nạ chỉ dùng cho một vài vai và không cần đến trang điểm ngoại trừ cho những vai đặc biệt như thần thánh hay ma quỷ còn thì trang phục là quần áo mặc thường ngày trong thế kỉ 15. Kịch bản của Kyogen khẳng định tính nhân văn  và không hề đề cập đến trộm cướp hay những con người quá xấu xa. Và thêm nữa, đối lập với Nô tập trung vào sự duyên dáng và nhảy, đặc điểm nổi bật của Kyogen là lời nói đi kèm với các hành động diễn xuất.

Nihonbuyou( 日本舞踊)

Điệu nhảy truyển thống Nhật bản này được ra đời vào khoảng thế kỉ 15 cùng với kiểu nhảy gọi là odori, có đặc điểm là các động tác nhảy, di chuyển, với điệu nhảy khác gọi là mai với đặc trưng là động tác di chuyển vòng tròn và tư thế gọi là furi thứ tạo ra ấn tượng đặc sắc mạnh mẽ.

Nhã nhạc (Gagaku-雅楽).

Gagaku là các sáng tác âm nhạc được hình thành từ âm nhạc truyền vào từ Trung Quốc và Triều Tiên thời cổ đại. Các nhạc cụ độc đáo được sử dụng như: sáo, tì bà, trống.. là đặc trưng tiêu biểu. Gagaku phát triển thịnh hành vào thời Heian  (794-1185) và được biểu diễn tại các ngôi chùa và đền thờ thần đạo.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ 日本の文化を英語で紹介する事典。(A billingual Handbook on Japanese culture

Tác giả 杉浦 洋一(yoichi Sugiura) và  John K.Gillespie.

Nxb Natsume (ナツメ)。Năm 2004.

 

Núi Phú Sĩ và Geisha

February 15, 2012 Leave a comment

富士山(Fujisan-Phú Sĩ sơn)

Núi Phú Sĩ (Ảnh: Wikipedia)

Núi Phú Sĩ là ngọn núi cao nhất của Nhật bản, nổi tiếng khắp thế giới vì vẻ đẹp của nó. Núi cao 3,776m, nằm ở vị trí gần như trung tâm của nhật bản và ở nơi trong quá khứ thường có núi lửa phun. Từ năm 1707 hoạt động núi lửa ngừng nhưng các nhà địa chất học vẫn gọi nó là núi lửa hoạt động.

Núi Phú Sĩ là một trong ba ngọn núi thiêng được thờ cúng từ thời cổ đại. Vào thời Edo ( 1603-1867) người ta thường leo núi Phú Sĩ và coi đó là hoạt động tín ngưỡng.

Vẻ hùng vĩ và tránh lệ của nó đã gợi cảm hứng cho nhiều nghệ sĩ Nhật – những người đã để lại cho đời nhiều tác phẩm có giá trị. Chẳng hạn như kiệt tác có tên “ Fugaku Sanjuurokkei” (富嶽三十六景 ) của Ukiyoe  và  tác phẩm akafuji (赤富士) của Katsushika Hokusai( 葛飾北斎) được thế giới biết đến rộng rãi.

芸者(Geisha-Nghệ giả)

Geisha và kiểu trang điểm đặc trưng (Ảnh: Wikipedia)

Núi Phú Sĩ và geisha cho đến nay vẫn là những cụm từ có tính ước lệ dùng để chỉ vẻ bí ẩn của Nhật  từ  những người ít hiểu biết về Nhật bản. Lý do geisha trở nên nổi tiếng có lẽ vì sự dịu dàng và sâu kín của geisha đã gây cho những người đàn ông phương Tây ấn tượng mạnh. Tuy nhiên ngày nay nó lại có ý nghĩa như là sự không biết gì về Nhật Bản. Geisha là người phụ nữ làm nghề chuyên làm vui lòng khách trong các buổi dạ tiệc. Họ làm tóc họ theo kiểu Nhật, mặc kimono,  hát các bài hát nhật truyền thống, chơi shamisen và biểu diễn các điệu nhảy truyền thống của Nhật. Cũng đã từng có thời gian họ là gái bán hoa vì thế ấn tượng vế sex rất mạnh nhưng hiện nay có xu hướng coi họ như những người hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh vực nghệ thuật.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ 日本の文化を英語で紹介する事典。(A billingual Handbook on Japanese culture

Tác giả 杉浦 洋一(yoichi Sugiura) và  John K.Gillespie.

Nxb Natsume (ナツメ)。Năm 2004.

Quốc hoa và Quốc điểu của Nhật Bản

February 14, 2012 Leave a comment

国花 (Quốc hoa)

Loài hoa được người Nhật yêu mến nhất và coi là biểu tượng quốc gia là hoa anh đào. Bởi hoa anh đào chỉ nở rồi tàn trong một tuần nên người Nhật coi đây là cái đẹp, cảm giác vô thường, u sầu, và vẻ đẹp duyên dáng.

Hoa anh đào Nhật Bản (Ảnh: Nguyễn Quốc Vương)

Những bài thơ trữ tình của người Nhật thường liên hệ mật thiết với loài hoa này từ thời xa xưa. Từ thời Heian (794-1185), hoa đã thường xuất hiện trong Waka. Từ những năm đầu thời kì Showa (1926-1989) cho tới chiến tranh thế giới thứ hai, vẻ đẹp của loài hoa tụt dốc vì nó đã bị lợi dụng để ca ngợi tự sát trong chiến tranh thế giới gắn với chủ nghĩa quân phiệt. Ngày nay Nhật Bản đã gửi hoa anh đào ra nước ngoài như biểu tượng của hòa bình.

菊 (Cúc)

Hoa cúc vốn sinh ra ở Trung Hoa và đến Nhật vào khoảng thế kỉ 8. Chúng đã trải qua rất nhiều sự cải tạo tùy theo sự yêu thích của người Nhật và giờ đây khi hoa anh đào tiêu biểu cho mùa xuân thì hoa cúc tiêu biểu cho loài hoa mùa thu ở Nhật. Bởi vậy có vô vàn loài hoa cúc to nhỏ, hồng, trắng… Vào thế kỉ 17 chúng được đưa tới châu Âu bởi người Hà lan và được đánh giá cao. Hoa cúc với sắc và hương thanh nhã đã trở thành biểu tượng của hoàng gia. Nó cũng thường được dùng khi viếng mộ tổ tiên. Hoa cúc thường được coi như biểu tượng của vẻ đẹp phảng phất, huyền ảo của người Nhật thậm chí nó còn được dùng làm tựa đề cho cuốn sách của Ruth Benedith về Nhật bản : “ The Chrysanthemum and the Sword” (Bông  cúc và thanh kiếm).

国鳥 (Quốc Điểu)

Loài chim là  biểu tượng cho Nhật Bản là chim trĩ (pheasant-キジ). Có nguồn gốc ở Nhật Bản, loài chim này được coi là gần gũi với con người từ thời cổ đại và được công nhận là Quốc điểu vào năm 1947. Chúng sống trong rừng tạp cách xa nơi sinh sống của con người. Đặc trưng chính của chúng:  con đực  mặt đỏ, thân xanh đen, đuôi dài; con mái thì  có màu nâu sáng điểm chấm đen,  con cái nhỏ hơn và có đuôi ngắn hơn con đực.

Vào mùa thu và mùa đông chúng là đối tượng của săn bắn và từ thời cổ chúng đã được coi là thức ăn có giá trị. Chúng cũng thường được dùng làm quà mừng đám cưới.

Trong các loài chim chúng được coi là đẹp nhất bởi nỗi buồn trong tiếng gọi tìm nhau của con đực và con cái. Vì thế chúng đã trở thành biểu tượng trong waka và haiku diễn tả các cảm xúc về tình yêu.

p/s: Hóa ra ở đâu, thời đại nào nỗi buồn trong tình yêu là cũng…có.

Nguyễn Quốc Vương dịch từ 日本の文化を英語で紹介する事典。(A billingual Handbook on Japanese culture

Tác giả 杉浦 洋一(yoichi Sugiura) và  John K.Gillespie.

Nxb Natsume (ナツメ)。Năm 2004.

 

Người Nhật nói về tiếng Nhật

February 12, 2012 Leave a comment

日本語(Nhật Bản ngữ-Nihongo

Không có một học thuyết khoa học nào khẳng định tiếng Nhật thuộc về nhóm ngôn ngữ nào. Cấu trúc của nó rất khác so với ngôn ngữ Ấn-Âu bao gồm tiếng Anh và tiếng Pháp bởi thế như ta thường thấy rất khó để chiếm lĩnh được thứ tiếng này. Tiếng nhật được hình thành trong một cộng đồng tương đối ổn định trong một thời gian dài. Bởi vậy, người Nhật với tư cách là thành viên của cộng đồng rất có thể đã hiểu được nhau mà không cần nói vì thế họ đã tạo ra các cấu trúc tỉnh lược. Hơn nữa bởi vì họ nghĩ rằng những người khác sẽ hiểu được điều mình muốn nói cho nên các cấu trúc nhấn mạnh cái Tôi được lược bỏ. Về điểm này nhiều khi người Phương tây thường hiểu sai điều người Nhật muốn nói.

文字(Văn tự-moji

Tiếng Nhật hiện đại bao gồm ba loại kí tự: chữ tượng hình Kanji(Hán tự) và chữ biểu âm Hiragana và Katakana. Ban đầu người Nhật không hề có chữ viết.  Trong các tài  liệu thế kỉ thứ 5 còn lại đều dùng chữ Hán. Người Nhật đã tạo ra cách đọc chữ Hán theo kiểu người Nhật và từ chữ hán tạo ra kí tự biểu âm. Bộ chữ này được hình thành trong thời kí Heian (794-1185)và đấy là thứ chữ mà Murasaki Shikibu dùng  viết cuốn tiểu thuyết cổ nhất thế giới “genji mono gatari”. Ngày nay Katakana để ghi âm từ ngoại lai và Kanji cùng Hiragana dùng để cấu tạo câu. Người ta cũng có thể viết toàn bộ câu bằng Romanji(kí tự La tinh).

日本語教育( Giáo dục tiếng Nhật-nihongo kyoiku)

Hiện nay ở nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt là khu vực quanh Thái Bình Dương giáo dục Nhật ngữ đang phát triển mạnh. Yêu cầu chủ yếu là muốn giao dịch, làm ăn với người Nhật.

Bởi vì vào cuối những năm 80 số sinh viên học tiếng Nhật tăng đột biến cho nên dẫn đến việc thiếu giáo viên, giáo cụ . Do đó Nhật Bản đã có những động tác hỗ trợ như tài trợ sách , cử giáo viên dạy tiếng đến nhiều quốc gia. Số người nước ngoài đến Nhật cũng tăng lên và các trường Nhật ngữ trong nước Nhật cũng tăng lên. Năm 1984 kì thi quốc gia năng lực tiếng Nhật lần đầu tiên được tổ chức. Kì thi này được tổ chức ở Nhật cũng như trên toàn thế giới. Số người tham dự kì thi này vào năm 2002 là 242,331 người .

敬語 (Kính ngữ-Keigo)

Trong tiếng Nhật có rất nhiều kính ngữ và chúng  đóng một vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên kính ngữ không phải chỉ có trong tiếng Nhật mà còn còn có cả ở các ngôn ngữ châu Á  khác như : Trung, Việt, Thái…

方言 (hogen- phương ngôn)

Nhiều vùng ở Nhật bị chia cắt bởi núi, vì thế nhiều cộng đồng sở hữu tiếng địa phương. Thậm chí đã có thời gian người ở vùng Kyushu và Tohoku đã rất khó khăn để giao tiếp được với nhau. Vì thế trong thế giới hiện đại người ta lấy tiếng vùng Tokyo làm chuẩn. Tuy nhiên hogen là một phần văn hóa địa phương cho nên đến nay nó vẫn còn đóng một vai trò nào đó.

 

Nguyễn Quốc Vương dịch từ 日本の文化を英語で紹介する事典。(A billingual Handbook on Japanese culture. Tác giả 杉浦 洋一(yoichi Sugiura) và John K.Gillespie.

Nxb Natsume (ナツメ)。Năm 2004.

 

 

 

%d bloggers like this: